- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chang K Tu - phạm tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (điều 191 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? 1 Tuyên bố bị cáo Chang h T phạm tội “Vận chuy n hàng cấm”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật tố tụng hình sự Quá trình điều tra; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự + Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2023/HS-ST Ngày 22-12 -2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH LAI CHÂU
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương Giang
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Lê Thị Phương,
Bà Trần Thị Phượng
Thư ký phiên tòa: Ông Lê Tiến Dũng – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Lai Châu tham gia phiên tòa: Ông Lưu Xuân Trư ng - i m sát viên trung cấp
Ngày 22 tháng 12 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Lai Châu mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 21/2023/TLST-HS ngày 24/11/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 18/2023/QĐXXST-HS ngày 11/12/2023 đối với bị cáo: Họ và tên: Chang h T; sinh năm: 1986 tại P, Lai Châu; Nơi cư trú: Bản Xín Chải, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ học vấn: 0/12; Dân tộc: Hà Nhì; Giới tính: Nam; Tôn giáo: hông; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Chang G, sinh năm 1959 và bà Giàng San M sinh năm 1969; Gia đình bị cáo có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ hai; Có vợ là: Phu Thổ B, sinh năm 1992; Con: Bị cáo có 05 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: hông; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 20/9/2023 đến ngày 28/9/2023, bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú tại xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu từ ngày 28/9/2023 đến nay, có mặt tại phiên tòa
* Người bào chữa cho bị cáo Chang h T: Bà Nguyễn Thị N– Trợ giúp pháp lý thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh L - Có mặt
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Phu Thổ B, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Bản X, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu - Vắng mặt
* Những người làm chứng:
1. Anh Chang A D, sinh năm 1992; Nơi cư trú: Bản Tả Chải, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu - Có mặt
2. Anh Suy Dừ X, sinh năm 1993; Nơi cư trú: Bản Mới, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu - Có mặt
* Người phiên dịch: Anh Lỳ Hồng S, sinh năm 1992; Địa chỉ: Bản M, xã M, huyện M, tỉnh Lai Châu - Có mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
hoảng giữa tháng 9 năm 2023 Chang h T được hai ngư i đàn ông không rõ nhân thân, lai lịch thuê vận chuy n 210 cây thuốc lá điếu (tương đương 2.100 bao thuốc lá điếu) từ khu vực biên giới Việt Nam- Trung Quốc thuộc địa phận xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu đến địa phận xã V, huyện P, tỉnh Lai Châu và T được hứa hẹn trả 2 000 000 đồng tiền công, T đồng ý rồi hai bên cho nhau số điện thoại đ liên lạc, trao đổi Dưới sự chỉ dẫn của ngư i thuê vận chuy n thuốc lá điếu, trong khoảng th i gian từ ngày 16/9/2023 đến ngày 18/9/2023, Chang h T đã 03 lần liên tục một mình đi bộ đến khu vực biên giới Việt Nam- Trung Quốc thuộc địa phận xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu đ nhận tổng cộng 06 bao tải bên trong đựng 210 cây thuốc lá điếu của một ngư i đàn ông ngư i Hà Nhì, quốc tịch Trung Quốc rồi vác về cất dấu tại lán nương của gia đình tại xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu và không nói cho ai biết Sau đó Chang K T liên lạc với ngư i đã thuê vận chuy n và thống nhất địa đi m giao hàng là bãi đất trống, cách đư ng khoảng 05 mét, vắng ngư i thuộc địa phận bản Sì Choang, xã V, huyện P, tỉnh Lai Châu.
hoảng 19 gi ngày 20/9/2023, Chang h T nh em trai là Chang A D điều khi n xe mô tô Bi n ki m soát 25B1-411 26 và em r là Suy Dừ X điều khi n xe mô tô BKS 25M1-070 81 chở 06 bao tải đựng thuốc lá điếu Trung Quốc từ lán nương của gia đình T đến địa đi m giao cho ngư i thuê vận chuy n Toàn bộ quá trình vận chuy n T không nói cho D và X biết trong bao tải là thuốc lá điếu, D và X cũng không hỏi, không mở ra ki m tra và không biết bên trong là gì, vận chuy n đi đâu, cả 03 ngư i không bàn bạc gì về việc vận chuy n thuốc lá hi đi Chang h T đi u khi n xe môtô B S 28L1-011 42 một mình đi trước dẫn đư ng, còn Chang A D và Suy Dừ X mỗi ngư i chở 01 bao tải màu vàng và một bao tải màu đen đi theo Tu đến địa đi m giao hàng
Tại khu vực đưởng tỉnh lộ 132, thuộc địa phận bản S, xã V, huyện P, tỉnh Lai Châu khi Chang h T chuẩn bị giao 06 bao tải đựng thuốc lá điếu cho các đối tượng thuê vận chuy n đ nhận tiền công thì bị tổ công tác cơ quan Công an phát hiện, yêu cầu ki m tra, hai đối tượng thuê vận chuy n lợi dụng tr i tối lên xe máy bỏ chạy, tổ công tác truy đuổi nhưng không bắt được Chang h T không xuất trình được giấy t chứng minh nguồn gốc xuất xứ đối với toàn bộ số hàng hóa vận chuy n Tổ công tác cơ quan Công an đã lập biên bản bắt ngư i phạm tội quả tang đối với Chang h T về hành vi Vận chuy n hàng cấm, ki m tra vật chứng là 06 bao tải đựng thuốc lá điếu, niêm phong và thu giữ toàn bộ tang vật có liên quan đến vụ án
Tang vật thu giữ, tạm giữ gồm: Thu giữ của Chang Kh T 210 cây thuốc lá điếu nhãn hiệu Honghe và YunYan được đựng trong 06 bao tải, (01 bao tải màu đen bên trong đựng 02 bao tải màu vàng; 01 bao tải màu đen bên trong đựng 02 bao tải màu vàng và 02 bao tải màu vàng); 01 xe máy nhãn hiệu suzuki màu đen bi n ki m soát 25B1-411.26 (Thu giữ của Chang A D); 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen bi n ki m soát 25M1-070.81 ( Thu giữ của Suy Dừ X); 01 xe máy nhãn hiệu Honda Wave RSX màu trắng đen bi n ki m soát 28L1-011.42, 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y81S trong khay sim có 1 sim thuê bao Viettel số thuê bao: 0367383491 (thu giữ của Chang h T).
Ngày 21/9/2023 Cơ quan cảnh sát điều tra công an tỉnh L đã ra quyết định trưng cầu giám định số 170/QĐ-CSKT, T1 Bộ C1 giám định thuốc lá điếu thu giữ trong quá trình bắt ngư i phạm tội quả tang đối với Chang h T.
Tại bản kết luận giám định số: 6993/ l- THS của V Bộ C1 kết luận:
- Toàn bộ 122 cây thuốc lá điếu màu trắng đỏ (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) đều mang nhãn hiệu “Honghe” không dán tem điện tử thuốc lá, không có chữ tiếng việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “Honghe”
- Toàn bộ 72 cây thuốc lá điếu màu đỏ (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) đều mang nhãn hiệu “Honghe” không dán tem điện tử thuốc lá, không có chữ tiếng việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “Honghe”
- Toàn bộ 16 cây thuốc lá điếu màu đỏ (mỗi cây chứa 10 bao, mỗi bao chứa 20 điếu thuốc lá) đều mang nhãn hiệu “YunYan” không dán tem điện tử thuốc lá, không có chữ tiếng việt gửi giám định đều là thuốc lá điếu thành phẩm mang nhãn hiệu “YunYan”
Căn cứ Thông tư số 37/2013/TT-BCT ngày 30/1/2013 của Bộ C2 quy định về nhập khẩu thuốc lá điếu; Thông tư liên tịch số 05/2013/TTLT-BYT-BCT ngày 08/2/2013 của Bộ Y và Bộ C2 về việc hướng dẫn việc ghi nhãn, in cảnh báo sức khỏe trên mỗi bao bì thuốc lá; Thông tư số 23/2021/TT-BTC ngày 30/3/2021 của Bộ T2 hướng dẫn về in, phát quản lý và sử dụng tem điện tử rượu và tem điện tử thuốc lá; Tại mục 6 điều 3 “hàng hóa nhập khẩu” của Nghị định số 98/2020/NĐ-CP ngày 26/8/2020 của Chính phủ, tất cả các mẫu thuốc lá điếu gửi giám định trên đều là thuốc lá điếu không được sản xuất, buôn bán tại Việt Nam Hiện tại V không đủ điều kiện đ giám định mẫu thuốc lá điếu mang các nhãn hiệu trên là của nước nào sản xuất
Ngày 18/10/2023 cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã xử lý vật chứng bằng hình thức đốt cháy tiêu hủy toàn bộ số vật chứng là 06 bao tải bên trong có chứa 177 cây thuốc lá điếu còn lại sau gửi mẫu giám định (mỗi cây chứa 10 bao mỗi bao, chứa 20 điếu thuốc) theo quyết định xử lý vật chứng số 14/QĐ-CS T ngày 18/10/2023 với lý do thuốc lá điếu là loại dễ gây cháy, độc hại, gây nguy hi m, ảnh hưởng đến việc bảo quản những đồ vật, tài liệu là vật chứng trong những vụ án khác tại kho vật chứng của Công an tỉnh L.
Ngày 09/11/2023 cơ quan cảnh sát điều tra Công an tỉnh L đã xử lý vật chứng bằng hình thức trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Suy Dừ X sinh năm 1993, 01 chiếc xe máy mang nhãn hiệu hiệu Honda Wave RSX màu đỏ đen bi n ki m soát 25M1-070.81; anh Chang A D sinh năm 1992, 01 chiếc mang nhãn hiệu suzuki màu đen bi n ki m soát 25B1-411 26 theo quyết định xử lý vật chứng số 17/QĐ-CSKT ngày 09/11/2023 vì không liên quan đến hành vi phạm tội của Chang h T.
Các vật chứng còn lại được bảo quản theo quy định của pháp luật
Đối với những ngư i có liên quan gồm: Chang A D, sinh năm 1992, trú tại bản Tả Chải, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu và Suy Dừ X, sinh năm 1993 trú tại bản Mới, xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu là em trai và em r của Chang h T. Ngày 20/9/2023 D và X điều xe máy mỗi ngư i chở 01 bao tải màu đen và 01 bao tải màu vàng từ lán nương nhà Chang K Tu đến khu vực bản S, xã S lầu huyện P, tỉnh Lai Châu giúp T L i khai của T, D và X trong quá trình điều tra th hiện D và X không biết, không tham gia vào việc vận chuy n hàng cấm của Chang K Tu nên cơ quan điều tra không xem xét xử lý hình sự đối với Chang A D và Suy Dừ X.
Đối với hai đối tượng nam giới liên hệ thuê Chang h T vận chuy n hàng cấm do bị cáo không biết tên tuổi, địa chỉ nên cơ quan điều tra không có cơ sở đ triệu tập làm rõ i m tra điện thoại của Chang h T đối tượng có sử dụng 0353600423 đ liên lạc với T thuê vận chuy n thuốc lá điếu Trung Quốc, qua tra cứu xác minhcủa tập đoàn V1, thông tin chủ thuê bao trên là anh Trương Quang H sinh ngày 30/12/1983 trú tại Ấp E xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, quá trình làm việc điều tra anh Hùng K1 vào năm 2011 anh có đăng ký sử dụng số điện thoại trên nhưng đến năm 2013 anh H không sử dụng số điện thoại trên nữa, sau đó bị nhà mạng thu hồi, từ năm 2013 đến nay anh H không cho ai, cũng không biết ai sử dụng SDT trên Trương Quang H và Chang h T không quen biết nhau, anh H cũng không liên quan đến việc vận chuy n hàng cấm vì vậy cơ quan C3 không có căn cứ xem xét, xử lý
Đối với ngư i đàn ông H mang quốc tịch Trung Quốc đã đưa 06 bao tải đựng 2 100 bao thuốc lá điếu cho Chang h T. T khai không biết nhân thân, lai lịch, đặc đi m hình dáng đối tượng nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ.
Bản cáo trạng số: 86/CT-VKSLC-P1 ngày 23/11/2023 của Viện i m sát nhân dân tỉnh Lai Châu truy tố bị cáo Chang h T về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo quy định tại đi m b khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự
Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung bản cáo trạng đã truy tố Bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố và không khiếu nại gì về kết luận giám định của cơ quan điều tra
Luận tội tại phiên tòa, i m sát viên thực hành quyền công tố sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ buộc tội đối với hành vi phạm tội của bị cáo, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã giữ nguyên quan đi m truy tố bị cáo như tội danh và điều luật được viện dẫn trong bản cáo trạng, đồng th i đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng đi m b khoản 1 Điều 191; đi m i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Chang K T từ 12 tháng đến 18 tháng tù Bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ Th i hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án Đề nghị miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo
Về vật chứng đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
+ Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước:
- 01 xe máy nhãn hiệu hiệu Honda Wave RSX màu trắng đen bi n ki m soát 28 L1-001.42.
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y81S trong khay sim có 1 sim thuê bao Viettel số thuê bao: 0367383491
+ Tịch thu để tiêu hủy:
- 02 bao tải to màu đen
Về án phí hình sự sơ thẩm: đề nghị miễn cho bị cáo
Ngư i bào chữa phát bi u quan đi m bào chữa cho bị cáo Chang h T: Nhất trí với cáo trạng truy tố đối với các bị cáo về tội danh và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét một số vấn đề như:
Đề nghị Hội đồng xét xử khi quyết định hình phạt cần xem xét tới nhân thân, điều kiện hoàn cảnh gia đình bị cáo và xem xét về tính chất, mức độ hành vi của bị cáo đảm bảo khách quan, đúng quy định của pháp luật; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trư ng hợp ít nghiêm trọng; chưa lấy tiền công vận chuy n; bản thân bị cáo không biết chữ, sinh sống vùng kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo, nhà động con bị cáo là ngư i dân tộc thi u số, nhận thức pháp luật còn rất hạn chế Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng đi m b khoản 1 Điều 191; đi m i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 3, Điều 54; Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo Chang K Tu được hưởng án treo đ bị cáo có điều kiện lao động sản xuất nuôi 05 ngư i con còn nhỏ dại và cũng đủ giáo dục, răn đe đối với bị cáo
Về chiếc xe máy cơ quan điều tra đã thu giữ của bị cáo là tài sản chung hai vợ chồng bị cáo, là phương tiện đi lại duy nhất của gia đình, khi bị cáo sử dụng chiếc xe này đ thực hiện hành vi phạm tội vợ bị cáo hoàn toàn không biết gì nên đề nghị HĐXX trả lại cho gia đình bị cáo.
Vì điều kiện hoàn cảnh gia đình của bị cáo khó khăn, thuộc hộ nghèo sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên đề nghị HĐXX căn cứ đi m đ khoản 1Điều 12 Nghị quyết số 326/NQ- UBTVQH hình phạt bổ sung và miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo
Bị cáo Chang h T nhất trí với l i bào chữa của ngư i bào chữa, không bổ sung gì thêm.
Những ngư i làm chứng có mặt tại phiên tòa trình bày, không biết hành vi phạm tội của bị cáo Chang h T hi được T nh chở giúp hàng cả Chang A D và Suy Dừ X đều không biết là hàng gì, và không được tham gia bàn bạc thống nhất gì với bị cáo đ thực hiện hành vi vận chuy n hàng cấm, cả hai ngư i làm chứng không được bị cáo T hứa hẹn trả tiền công nh vận chuy n
Ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt: Chị Phu Thổ B là vợ của bị cáo có đơn xin xét xử vắng mặt và có nguyện vọng muốn xin lại chiếc xe máy vì đây là tài sản chung của gia đình, việc bị cáo dùng xe đ thực hiện hành vi phạm tội chị không biết và không tham gia
L i nói sau cùng: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, ăn năn hối cải về hành vi của mình và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng lượng khoan hồng của pháp luật, giảm nhẹ hình phạt ở mức thấp nhất
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh L, Điều tra viên, Viện i m sát nhân dân tỉnh Lai Châu, i m sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về sự vắng mặt của ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, NCQLNVLQ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt, trong nội dung đơn xin xét xử vắng mặt có nêu ý kiến trình bày về việc xin lại chiếc xe máy của gia đình bị cơ quan điều tra tịch thu Xét thấy việc vắng mặt của NCQLNVLQ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự xét xử vụ án là đảm bảo đúng quy định pháp luật
Về tính chất, mức độ nguy hi m cho xã hội của hành vi phạm tội: Xét thấy l i khai của bị cáo tại phiên toà hôm nay phù hợp với nội dung bản cáo trạng Viện ki m sát truy tố, phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà Vì vậy có đủ cơ sở đ khẳng định: Vào khoảng 19 gi , ngày 20/9/2023 Chang h T đã có hành vi vận chuy n 2 100 bao thuốc lá điếu sản xuất tại nước ngoài, không dán tem nhập khẩu, là hàng nhập lậu không được phép lưu hành, tiêu thụ tại Việt Nam từ khu vực biên giới giữa Việt Nam với Trung Quốc thuộc địa phận xã S, huyện P, tỉnh Lai Châu đến khu vực đưởng tỉnh lộ 132, thuộc địa phận bản S, xã V, huyện P, tỉnh Lai Châu, khi bị cáo đang chuẩn bị giao 2 100 bao thuốc lá điếu cho 02 ngư i đàn ông đã thuê bị cáo vận chuy n đ lấy 2 000 000 đồng tiền công thì bị Công an tỉnh L phát hiện, bắt quả tang và thu giữ toàn bộ vật chứng
Hành vi của bị cáo là nguy hi m cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, chế độ của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, sản xuất, kinh doanh đối với các loại hàng cấm Bị cáo là ngư i có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng do hám lợi nên bị cáo vẫn cố ý phạm tội, vì vậy bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình gây ra, tội phạm và hình phạt được quy định tại đi m b, khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015
Bản cáo trạng số 86/CT-VKSLC-P1 ngày 23/11/2023 của Viện ki m sát nhân dân tỉnh Lai Châu đã truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật đã viện dẫn ở trên và quan đi m của vị đại diện Viện ki m sát tại phiên tòa hôm nay về xử lý trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo là có căn cứ, đúng ngư i, đúng tội, đúng pháp luật, không oan sai.
Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo
Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự
Về tình tiết tăng nặng: không
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo Chang h T thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trư ng hợp ít nghiêm trọng; Bị cáo là ngư i dân tộc thi u số, không biết chữ, gia đình thuộc hộ nghèo, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn, nhận thức về pháp luật còn hạn chế, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được áp dụng cho bị cáo theo quy định tại đi m i, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự Xét đề nghị của đại diện Viện ki m sát và ngư i bào chữa cho bị cáo tại phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận một phần
Về hình phạt chính: Hành vi của bị cáo là nguy hi m cho xã hội, đã xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế, chế độ của Nhà nước trong lĩnh vực quản lý, sản xuất, kinh doanh đối với các loại hàng cấm Căn cứ tính chất, mức độ hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo trong quá trình thực hiện hành vi phạm tội, xét tính nguy hi m của hành vi phạm tội do bị cáo gây nên là ít nghiêm trọng, tuy nhiên bị cáo Chang h T là ngư i vận chuy n hàng cấm là 2 100 bao thuốc lá điếu lậu từ khu vực hàng rào biên giới Việt Nam- Trung Quốc về lán nương của gia đình cất dấu, sau đó nh ngư i vận chuy n đến giao cho ngư i thuê T vận chuy n theo thỏa thuận đ nhận tiền công là 2 000 000 đồng. Do đó cần áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đ i sống xã hội một th i gian nhất định đ răn đe, giáo dục bị cáo và làm bài học cảnh báo phòng ngừa chung, phục vụ cho công tác đấu tranh và phòng, chống các loại tội phạm xâm phạm trật tự quản lý kinh tế trong tình hình hiện nay
Quan đi m của ngư i bào chữa đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 54, Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo là không đảm bảo tính răn đe, giáo dục, phòng ngừa và chưa nghiêm khắc đối với bị cáo nên HĐXX không chấp nhận
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 191 Bộ luật hình sự, bị cáo còn có th bị phạt tiền từ 10 000 000 đồng đến 50 000 000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm Hội đồng xét xử xét thấy bị cáo ở nhà làm ruộng, điều kiện kinh tế khó khăn, gia đình thuộc hộ nghèo, hơn nữa toàn bộ số hàng hóa vẫn chưa giao được cho ngư i thuê vận chuy n, chưa thu được tiền công, do đó Hội đồng xét xử xem xét và quyết định miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo
Về xử lý vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự
+ Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước:
- 01 xe máy nhãn hiệu hiệu Honda Wave RSX màu trắng đen bi n ki m soát 28L1-011.42,
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y81S trong khay sim có 1 sim thuê bao Viettel số thuê bao: 0367383491
+ Tịch thu để tiêu hủy:
- 02 bao tải to màu đen
Về án phí hình sự sơ thẩm: Xét bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn, thuộc hộ nghèo, sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên căn cứ đi m đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo
Đối với những vấn đề liên quan trong vụ án:
Đối với Chang A D, và Suy Dừ X được bị cáo Chang h T nh vận chuy n 06 bao tải bên trong đựng 2 100 bao thuốc lá điếu, cơ quan điều tra đã xác định D và X không biết, không được bàn bạc, thống nhất với bị cáo T về việc thực hiện hành vi phạm tội vận chuy n hàng cấm của Chang h T, cơ quan điều tra không đề nghị xem xét xử lý hình sự đối với Chang A D và Suy Dừ X nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết
Đối với 02 đối tượng nam giới liên hệ thuê Chang h T vận chuy n hàng cấm và ngư i đàn ông H mang quốc tịch Trung Quốc đã đưa 06 bao tải đựng 2 100 bao thuốc lá điếu cho Chang h T. Do T khai không biết nhân thân, lai lịch, đặc đi m hình dáng các đối tượng nên cơ quan điều tra không có căn cứ xác minh làm rõ nên hội đồng xét xử không xem xét giải quyết
Đối với đối tượng có sử dụng số điện thoại 0353600423 đ liên lạc với T thuê vận chuy n thuốc lá điếu Trung Quốc, kết quả điều tra đã xác định chủ thuê bao trên là anh Trương Quang H sinh ngày 30/12/1983 trú tại Ấp E, xã X, huyện X, tỉnh Đồng Nai, anh H khai từ năm 2013 đến nay anh không sử dụng số điện thoại trên nữa, sau đó bị nhà mạng thu hồi Trương Quang H và Chang K Tu không quen biết nhau, anh H cũng không liên quan đến việc vận chuy n hàng cấm vì vậy cơ quan điều tra không có căn cứ xem xét, xử lý nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ đi m b khoản 1 Điều 191; đi m i,s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 331, Điều 332, Điều 333, Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; đi m đ, khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án
1 Tuyên bố bị cáo Chang h T phạm tội “Vận chuy n hàng cấm”
2.Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Chang K Tu 09 (chín) tháng tù về tội “Vận chuy n hàng cấm” Bị cáo được khấu trừ 09 ngày tạm giữ, bị cáo con phải chấp hành hình phạt tù là 08 (tám) tháng 21 (hai mươi mốt) ngày tù Th i hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án
Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo
3. Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu hóa giá sung công quỹ Nhà nước:
- 01 xe máy nhãn hiệu hiệu Honda Wave RSX màu trắng đen bi n ki m soát 28 L1-011 42 kèm chìa khóa xe máy và giấy t xe số 001249 mang tên Nguyễn Thị H1
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu VIVO Y81S trong khay sim có 1 sim thuê bao Viettel số thuê bao: 0367383491
+ Tịch thu để tiêu hủy: 02 bao tải to màu đen
T nh tr ng vật chứng như biên bản giao nhận giữa Cục Thi hành án ân sự và cơ quan điều tra Công an tỉnh L vào hồi 10 giờ 35 phút ngày 27 tháng 11 năm 2023).
4. Về Án phí: Miễn án phí Hình sự sơ thẩm cho bị cáo
5. Về Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong th i hạn 15 ngày k từ ngày tuyên án Ngư i có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong th i hạn 15 ngày k từ ngày nhận được bản án hoặc k từ ngày bản án được niêm yết công khai
| Nơi nhận: -TAND cấp cao tại Hà Nội; -V SND cấp cao tại Hà Nội; -V SND tỉnh Lai Châu; - Công an tỉnh Lai Châu; - Cục THADS tỉnh Lai Châu; - Sở tư pháp tỉnh Lai Châu; - Bị cáo; NBC cho bị cáo; - Ngư i có QLNVLQ; - Trại tạm giam CA tỉnh Lai Châu; - Lưu HSVA | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Thị Hƣơng Giang |