- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Minh T "Vận chuyển hàng cấm" - phạm tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (điều 191 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh T (T1) phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 26/2018/HS-ST Ngày: 14-8-2018 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Tấn Rỏn.
2. Bà Nguyễn Thị Xuân Lan.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Minh Vũ - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đức
Huệ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An tham gia
phiên tòa: Ông Lý Văn Quyển - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 8 năm 2018, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ xét
xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2018/HSST ngày 04 tháng 7 năm
2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 27/2018 /QĐXXST-HS ngày 30 tháng 7
năm 2018 đối với bị cáo:
Huỳnh Minh T (T1) - Sinh năm 1982, tại: Đức Huệ - Long An; nơi cư trú:
ấp 4, xã Q, huyện Đ, tỉnh A; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn: 02/12;
dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông
Huỳnh Văn A (chết) và bà Nguyễn Thị B; có vợ: Huỳnh Lệ H và hai con chung,
lớn nhất sinh năm 2006, nhỏ nhất sinh năm: 2013; tiền án; tiền sự: không; Bị bắt
tạm giữ, tạm giam từ ngày 04/5/2018 cho đến ngày 18/06/2018 được gia đình
bảo lĩnh tại ngoại chờ xử lý. (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan: Bà Huỳnh Thị Đ - Sinh năm
1980 - Địa chỉ: ấp 4 xã Q, huyện Đ, tỉnh A. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ
án được tóm tắt như sau:
Vào trưa ngày 04/5/2018, Huỳnh Minh T, mượn của chị ruột bà Huỳnh
Thị Đ, số tiền 20.000.000 đồng, T nói là để có vốn làm ăn, đến lúc 03 giờ 00 phút ngày 04/5/2018, T điều khiển xe mô tô không biển kiểm soát của T đi từ nhà theo đường cầu cây thuộc ấp 3, xã Q để đến vựa thuốc lá ngoại tại khu vực chùa Sóc Rừng, thuộc địa phận huyện Chanh - Tria, tỉnh Svây - Riêng, Campuchia với mục đích là mua thuốc lá ngoại để mang về nội địa Việt Nam bán cho khách đi chơi đánh bạc ở Casino để kiếm lời. Khi đến nơi, T gặp một người đàn ông không rõ lai lịch, quốc tịch Campuchia là chủ vựa thuốc để hỏi mua 1.000 bao thuốc lá ngoại hiệu Hero và 600 bao thuốc lá ngoại hiệu Jet với giá tiền tổng cộng là 22.000.000 đồng. Sau khi thanh toán tiền với người chủ vựa thuốc, T bỏ số thuốc lá vào 03 túi ni-long màu đen, 02 túi lớn chứa mỗi túi 700 bao thuốc và được ràng ở phía sau xe còn 01 túi nhỏ chứa 200 bao thuốc để ở phía trước xe. T điều khiển xe chở số thuốc lá ngoại kể trên từ Campuchia theo đường mòn về đến đoạn đường cầu Cây thuộc địa phận ấp 3, xã Q, huyện Đ thì bị tổ công tác của Phòng Cảnh sát kinh tế Công an tỉnh Long An bắt quả tang cùng tang vật.
Tang vật, phương tiện tạm giữ:
- Một xe mô tô không nhãn hiệu, không biển số, số máy: HC12E-
2006215, số khung: RRKWCHDUM5X006076;
- Thuốc lá điếu (nhãn hiệu nước ngoài): 1.000 (Một nghìn) bao nhãn hiệu
Hero, 600 (sáu trăm) bao nhãn hiệu Jet;
- Một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia X1 màu đen, đã qua sử dụng: số
sim 0941427770;
- Tiền Việt Nam 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng).
Ngoài ra T còn khai nhận trước đó vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày
02/5/2018, Huỳnh Minh T cũng đến vựa thuốc lá kể trên để mua 300 bao thuốc lá ngoại hiệu Hero với giá 3.831.000 đồng (Ba triệu tám trăm ba mươi mốt nghìn đồng). Sau đó mang về nhà và bán cho một người phụ nữ không rõ lai lịch là khách đi chơi đánh bạc ở Casino về, T lãi được 60.000 đồng (Sáu mươi nghìn đồng) và đã tiêu xài hết.
Đối với hành vi vận chuyển 300 bao thuốc lá ngoại hiệu Hero của T vào ngày
02/5/2018, ngoài lời khai của bị cáo T ra, không có chứng cứ tài liệu nào khác nên
không có cơ sở chứng minh, nên không xem xét xử lý.
Đối với người phụ nữ mà T đã bán thuốc lá ngoại vào ngày 02/5/2018,
không xác định được nhân thân, lai lịch nên không mời làm việc được, nên
không đề cập.
Đối với Huỳnh Thị Đ (chị ruột của T): có cho T mượn số tiền 20 triệu
đồng. Tuy nhiên xét thấy bà Điệp không biết mục đích của T dùng số tiền trên
để mua thuốc lá ngoại, nên không xem xét xử lý.
Cáo trạng số: 27/CT-VKS-ĐH ngày 20 tháng 6 năm 2018 của Viện Kiểm sát
nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Huỳnh Minh T (T1) về tội “Vận chuyển
hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ sau khi phân
tích tính chất của hành vi và hậu quả xảy ra, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị
cáo Huỳnh Minh T phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;
Điều 32, Điều 65 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T từ 09 đến 12
tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ
Đề nghị tịch thu thu giao cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ xử lý:
1.600 bao, trong đó: 1.000 (Một nghìn) bao nhãn hiệu Hero, 600 (sáu trăm) bao
nhãn hiệu Jet do nước ngoài sản xuất không chứng hóa đơn xuất xứ hàng hóa.
Tịch thu sung công: Một xe mô tô không nhãn hiệu, không biển số, số
máy: HC12E-2006215, số khung: RRKWCHDUM5X006076; Bị cáo dung vận
chuyển hàng cấm không giấy tờ chứng minh chủ sở hữu.
- Trả lại cho bị cáo một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia X1 màu đen,
đã qua sử dụng: số sim 0941427770; không liên quan đến quá trình thực hiện
hành vi phạm tội.
- Trả lại cho bị cáo tiền Việt Nam 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm
nghìn đồng), không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan: Bà Huỳnh Thị Đ có cho bị cáo
mượn tiền, nhưng không biết việc bị cáo mua và vận chuyển thuốc lá ngoại nên
không đề cập.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào ngày 04/5/2018, (khoảng 03 giờ) Huỳnh Minh T dùng xe mô tô xe
mô tô không nhãn hiệu, không biển số, số máy: HC12E-2006215, số khung: RRKWCHDUM5X006076, vận chuyển 1.600 bao thuốc ngoại (1000 bao hiệu Hero và 600 bao hiệu Jet), từ khu vực chùa Sóc Rừng (giáp biên giới Campuchia - Việt Nam) về ấp 3 (địa danh Chơn Tóc) xã Q, huyện Đ không có chứng từ hóa đơn xuất xứ hàng hóa về số thuốc lá 1.600 bao với mục đích đem về ấp 3 xã Q để bán lại cho người khác để kiếm lời khi T vận chuyển số thuốc lá ngoại trên đến ấp 3 (địa danh Chơn Tóc) xã Q, huyện Đ thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang người và tang vật.
Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị cáo của cơ quan cảnh sát điều tra
và quyết định phê chuẩn khởi tố bị cáo và cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo điều thực hiện đúng theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành vi tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên điều thực hiện đúng và hợp pháp.
Tại phiên toà, bị cáo Huỳnh Minh T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm
tội. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các lời khai người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan biên bản bắt người phạm tội quả tang do công an tỉnh Long an (phòng Cảnh sát kinh tế) lập lúc 04 giờ 30 phút ngày 04/5/2018 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng bị cáo Huỳnh Minh T phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự 2015. Như vậy, cáo trạng số: 27/CT-VKS-ĐH ngày 20 tháng 6 năm 2018 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Huỳnh Minh T với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở đúng theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo Huỳnh Minh T là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh
hưởng đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, bị cáo là người đã thành niên thực hiện với lỗi cố ý là do ham thu lợi nên từ đó bị cáo vận chuyển hàng hóa là thuốc lá ngoại không có chứng từ hóa đơn xuất xứ hàng hóa từ khu vực biên giới Việt Nam
- Campuchia về ấp 3, xã Q, huyện Đ với số lượng 1.600 bao. Hành vi này của bị cáo Hệ phải được xử lý nghiêm, xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chưa có tiền án, tiền sự, nghề nghiệp ổn định nên không cần phải cách bị cáo ra khỏi xã hội mà dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục và phòng ngừa.
Đối với hành vi bị cáo tự khai nhận vào ngày 02/5/2018 có mua bán
300 báo thuốc lá ngoại hiệu Hero, ngoài lời khai của bị cáo ra, không có tài liệu nào để chứng minh nên không có cơ sở để buộc bị cáo nộp lại tiền thu lợi bất chính.
Xét thấy bị cáo Huỳnh Minh T phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít
nghiêm trọng, thật thà khai báo, bị cáo là lao động chính trong gia đình (qua xác
nhận của chính quyền địa phương), là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo
quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó khi lượng
hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo
Huỳnh Minh T là có cơ sở theo quy định pháp luật.
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan: Bà Huỳnh Thị Điệp
không biết bị cáo mượn tiền của bà để mua và vận chuyển hàng cấm nên không
xem xét là phù hợp.
Về các biện pháp tư pháp:
- Số thuốc lá 1.600 bao, trong đó: 1.000 (Một nghìn) bao nhãn hiệu Hero,
600 (sáu trăm) bao nhãn hiệu Jet do nước ngoài sản xuất không chứng từ hóa đơn
xuất xứ, không xác định chủ sở hữu. Theo quy định tại quyết định số 20/2018/QĐ-
TTg ngày 26/4/2018 của Chính phủ thì hiện nay tạm dừng tiêu hủy thuốc lá ngoại
nhập lậu theo quyết định số 2371/QĐ-TTg ngày 26/12/2014 nên tịch thu giao cho
cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ xử lý theo quy định chung.
Đối với, một xe mô tô không nhãn hiệu, không biển số, số máy: HC12E-
2006215, số khung: RRKWCHDUM5X006076; Bị cáo dùng vận chuyển hàng
cấm không giấy tờ chứng minh chủ sở hữu nên tịch thu sung công quỹ.
- Một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia X1 màu đen, đã qua sử dụng: số
sim 0941427770, không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho bị cáo.
Trả lại cho bị cáo: Tiền Việt Nam 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm
nghìn đồng), không liên quan đến việc phạm tội của bị cáo.
Tang vật hiện do chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý
Đối với những người giới thiệu, người giao nhận thuốc cho bị cáo,
cùng một số người khác mua hàng cấm không xác định được nhân thân, lai
lịch, địa chỉ, không làm việc được. Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục thẩm tra,
xác minh đề xuất xử lý sau, nên không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp.
Nhằm bỏ lọt tội phạm không được xử lý, kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra
xác minh để xử lý sau theo qui định của pháp luật.
Bị cáo Huỳnh Minh T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định
pháp luật.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51;
Điều 32, Điều 65, Điều 47 Bộ luật hình sự; Các Điều 106, Điều 135, Điều 136 ,Điều 299 và Điều 326 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
2. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Minh T (T1) phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
3. Xử phạt bị cáo Huỳnh Minh T (T1) 01 (một) năm tù cho hưởng án treo.
Thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Huỳnh Minh T (T1) cho Ủy ban nhân dân xã Q, huyện Đ, tỉnh
A theo dõi, giáo dục trong thời gian thi hành án treo.
Trong trường hợp bị cáo Huỳnh Minh T (T1) thay đổi nơi cư trú thì thực
hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ
02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
4. Về các biện pháp tư pháp:
- Tịch thu giao cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ sự xử lý
1.600 bao thuốc lá ngoại (trong đó: 1.000 (Một nghìn) bao thuốc lá ngoại nhãn hiệu Hero, 600 (sáu trăm) bao thuốc lá ngoại nhãn hiệu Jet) theo quy định hiện hành.
Tịch thu sung công: Một xe mô tô không nhãn hiệu, không biển số, số
máy: HC12E-2006215, số khung: RRKWCHDUM5X006076;
Trả lại cho bị cáo Huỳnh Minh T (T1):
- Một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia X1 màu đen, đã qua sử dụng: số
sim 0941427770.
- Tiền Việt Nam 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng).
5. Về án phí: Buộc bị cáo Huỳnh Minh T (T1) phải chịu 200.000 đồng (hai
trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước.
6. Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án
theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 14/8/2018).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật
Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành
án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi
hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh; - VKSND huyện Đức Huệ; - Công an huyện Đức Huệ; - CC.THADS huyện Đức Huệ; - Bị cáo; Liên quan; - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ, án văn; | Nguyễn Văn Triến |