- Tranh chấp gì? án hình sự — "vụ án thụ lý số 17/2020/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2020 - phạm tội vi phạm các quy định về quản lý khu bảo tồn thiên nhiên (điều 191 Bộ luật…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội " Tàng trữ hàng cấm ".
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 191 Bộ luật Hình sự; Điều 199 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:21/2020/HSST Ngày: 25 /3/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Thái Dương;
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Trần Văn Hân
2. Ông Ngô Trọng Thế
- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Dương Thị Hiền, Thư ký Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An: Bà Lại Thị Hiền – Kiểm sát viên.
Ngày 25 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 17/2020/HSST ngày 26 tháng 02 năm 2020, Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 21/2020/QĐXXST-HS, ngày 12 tháng 3 năm 2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Tr . Tên gọi khác: không. Giới tính: Nam. Sinh ngày 02/5/1982, tại huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Nơi cư trú: Xóm 8, xã Công Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Quốc tịch: Việt nam. Dân tộc: kinh. Tôn giáo: Công giáo. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Trình độ học vấn: 1/12. Họ và tên cha: Nguyễn Văn Nh; sinh năm 1954. Họ và tên mẹ: Nguyễn Thị B, sinh năm 1955. Anh chị em ruột: gia đình có 07 chị em, Tr là con thứ hai. Vợ: Trần Thị T, sinh năm 1988 . Con: có ba con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2014. Tiền án, tiền sự: Chưa. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/12/2019 đến ngày 16/12/2019, đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 16/12/2019 đến nay. Có mặt tại phiên toà.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào ngày 09/12/2019, Nguyễn Văn Tr đang đứng ở khu vực xã Đăk Môn, huyện Đăk Glei, tỉnh KonTum đón xe khách về Nghệ An thì có hai người phụ nữ không quen biết đến gặp Trọng và hỏi “có mua pháo không?” Trọng đã đồng ý mua. Nguyễn Văn Tr đã mua 28 bánh pháo hình hộp chữ nhật các loại và 05 gói nilon màu trắng bên trong chứa các quả pháo hình cầu với giá là 7.000.000VNđ( Bảy triệu đồng chẵn), mục đích của Trọng là mang về nhà sử dụng nhân dịp Tết và cho anh em bạn bè. Sau khi mua được pháo Nguyễn Văn Tr đã bỏ 20 hộp pháo hình chữ nhật kích thước 14 x 14 x 10cm vào trong bì tải xác rắn màu đỏ ( để dưới hầm chứa hàng của xe khách)và 02 hộp pháo 17 x 17 x 10cm cùng 06 hộp pháo có kích thước14 x 14 x 12cm vào trong ba lo màu xanh, còn 05 gói pháo Trọng bỏ vào túi nilon màu đen( trọng để cạnh chỗ ngồi). Đến 18 giờ cùng ngày Tr đón được xe khách Hiệp Hòa BKS 37B – 09122 để về quê ở huyện Yên Thành, Nghệ An ( việc Trọng mang theo pháo lên xe không ai biết). Khoảng 07 giờ 15 phút ngày 10/12/2019, khi xe khách về đến xã Viên Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An thì Trọng gọi điện thoại cho anh Nguyễn Văn Th; sinh năm 1984 tại xóm 8, xã Công Thành, huyện Yên Thành đón Trọng tại cây xăng thuộc xóm Ngọc Thượng, xã Công Thành, huyện Yên Thành. Anh Th có hỏi Trọng bì đó là gì, Trọng trả lời là ngô, khi đang vận chuyển số pháo lên xe mô tô mang BKS 37P1 071.01 của anh Nguyễn Văn Th để về nhà thì bị tổ công tác Công an Môi trường tỉnh Nghệ An phối hợp với lực lượng công an huyện Yên Thành bắt quả tang thu giữ toàn bộ số pháo của Nguyễn Văn Tr , tại cơ quan Điều tra Nguyễn Văn Tr đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình.
Ngày 10/12/2019, Cơ quan điều tra Công an huyện Yên Thành đã thành lập Hội đồng, tiến hành mở niêm phong xác định số pháo thu giữ của Trọng có tổng khối lượng các loại khối pháo và khối hình cầu thu giữ của Trọng là 39,5 kg.
Tại Bản Kết luận giám định số 401/KL-PC09 (DD2 - CN) ngày 17/12/2019 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Mẫu vật (ký hiệu M1, M2 và M3) thu giữ của Nguyễn Văn Tr gửi giám định đều là pháo có đầy đủ các đặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc đốt có gây tiếng nổ) 05 mẫu từ M4 đến M8 thu giữ của Nguyễn Văn Tr gửi đến giám định là pháo nổ (Đối tượng giám định đã sử dụng hết 4,7 kg trong quá trình giám định), khối lượng pháo còn lại là 34,8kg.
Tại bản cáo trạng số 23/VKS - HS ngày 21 tháng 02 năm 2020 cũng như tại phiên tòa hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An giữ nguyên Quyết định truy tố Nguyễn Văn Tr về tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại Điều 191 của Bộ luật hình sự.
Đề nghị Hội đồng xét xử Áp dụng: khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự 2015. Xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 36 đến 48 tháng; không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Căn cứ khoản 1, điều 47 BLHS; điểm a, c khoản 2 điều 106 BLTTHS tịch thu tiêu hủy toàn bộ vật chứng của vụ án.
Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23
Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội; buộc bị cáo phải chịu 200.000Vnđ án phí Hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận và trình bày lời nói sau cùng: Bị cáo hối hận với hành vi của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đối với hai người phụ nữ bán pháo cho Trg, sau khi điều tra xác minh nhưng không có căn cứ, anh Đặng Văn B là phụ xe khách Hòa Hiệp là người trực tiếp đưa hàng hóa của Trọng lên xe, anh Nguyễn Văn Th là người đón Trọng cùng hàng hóa nhưng không biết đó là pháo nổ nên không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát viên trong quá trình Điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận: Toàn bộ hành vi phạm tội của mình về tàng trữ trái phép 39,5 kg pháo các loại.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp với lời khai của người làm chứng, vật chứng vụ án và các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án.
. Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng
nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của nhà nước trong quản lý một số loại hàng cấm tàng trữ, vận chuyển, lưu thông trên thị trường. Vì thế, cần phải xử lý bằng biện pháp hình sự mới có tác dụng cải tạo và phòng ngừa chung.Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Xét bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 nên không nhất thiết phải cách ly khỏi đời sống xã hội mà tiếp tục giao cho gia đình và chính quyền địa phương quản lý giám sát cũng là phù hợp.
. Về hình phạt bổ sung: Theo quy định phải áp dụng khoản 4 điều 191 BLHS phạt tiền là hình phạt bổ sung đối với bị cáo, xét thấy bị cáo không có nghề nghiệp hay thu nhập ổn định, hoàn cảnh kinh tế gia đình khó khăn, nên xem xét miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo.
. Vật chứng của vụ án gồm: Thu giữ của Trg là 39,5 kg pháo các loại(đã lấy đi xét nghiệm 4,7kg) còn lại 34,8 kg pháo các loại. Xét đây là vật cấm lưu hành vì vậy cần tịch thu tiêu hủy.
. Đối với hai người phụ nữ bán pháo cho Trg cơ quan Điều tra đang xác minh làm rõ và sẽ xử lý sau, anh Đặng Văn B là phụ xe khách Hòa Hiệp, anh Nguyễn Văn Th là người đón Trọng không biết hàng hóa của Trg là Pháo, xét thấy không đủ cơ sở để truy cứu trách nhiệm hình sự nên miễn xét.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 buộc bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm.
Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Viện kiểm sát tại phiên tòa là phù hợp,
cần chấp nhận.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Tr phạm tội " Tàng trữ hàng cấm ".
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Tr 21( hai mốt) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 42( bốn hai ) tháng kể từ ngày tuyên án.
Giao bị cáo Nguyễn Văn Tr cho Ủy ban nhân dân xã Công Thành, huyện Yên Thành, Nghệ An quản lý, giám sát trong thời gian thử thách. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi làm việc thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.
Về vật chứng vụ án: Tịch thu tiêu hủy 19 hộp pháo hình chữ nhật kích thước 14 x 14 x 10cm ; 01 hộp pháo 17 x 17 x 10cm ; 05 hộp pháo có kích thước14 x 14 x 12cm, và 05 gói pháo hình cầu, tổng khối lượng 34,8 kg (Vật chứng hiện có tại kho vật chứng Công an huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An). Cơ quan Công an huyện Yên Thành có trách nhiệm chuyển số vật chứng trên đến chi cục Thi hành án dân sự huyện Yên Thành để xử lý theo quy định của Pháp luật.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có mặt khi tuyên án có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Yên Thành - VKSND tỉnh Nghệ An - Công an huyện Yên Thành - CQ Thi hành án - Bị cáo. - Lưu HS HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN Ngô Trọng Thế Trần Văn Hân Phạm Thái Dương 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN nghe và ký tên dưới đây. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH TỈNH NGHỆ AN BIÊN BẢN NGHỊ ÁN TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN YÊN THÀNH, TỈNH NGHỆ AN Với thành phần Hội đồng xét xử thẩm gồm có: Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: ông Lâm Quốc Tú Các hội thẩm nhân dân: 1, ông Trần Văn Hải 2, ông Phạm Hồng Châu Căn cứ vào Điều 199 và Điều 222 của Bộ luật tố tụng hình sự; Vào ngày 29 tháng 9 năm 2015. Tại phòng nghị án, Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án: Phan Văn Long, Nguyễn Văn Tr bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Yên Thành truy tố về tội " Tàng trữ trái phép chất ma túy" . Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác tại phiên toà, Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề giải quyết trong vụ án như sau: phép chất ma túy ". Hội đồng xét xử đồng ý, biểu quyết 3/3; hình sự: bị cáo sau khi phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Gia đình bị cáo có công với đất nước. Hội đồng xét xử đồng ý, biểu quyết 3/3; khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự. Hội đồng xét xử đồng ý, biểu quyết 3/3; chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày giam giữ bị cáo (03/7/2015). Hội đồng xét xử đồng ý, biểu quyết 3/3; quyết 3/3; Hội đồng xét xử đồng ý, biểu quyết 3/3; - Xử lý vật chứng: áp dụng Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự: gỗ màu nâu. Tịch thu tiêu huỷ: 02 phong bì niêm phong trong đó chứa các vỏ giấy niêm phong; 01 vỏ phong bì bưu điện. Hội đồng xét xử đồng ý, biểu quyết 3/3; Long, Nguyễn Văn Tr phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm. Hội đồng xét xử đồng ý, biểu quyết 3/3; an trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Hội đồng xét xử đồng ý, biểu quyết 3/3 ./. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN TRẦN VĂN HẢI PHẠM HỒNG CHÂU | TM/ HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà Phạm Thái Dƣơng THẨM PHÁN Bị cáo có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong thời hạn THẨM PHÁN Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả thành viên Hội đồng xét xử cùng THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM ĐỘC LẬP – TỰ DO – HẠNH PHÚC Yên Thành, ngày 29 tháng 9 năm 2015 - Về tội danh: bị cáo Phan Văn Long, Nguyễn Văn Tr phạm tội " Tàng trữ trái - Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không; Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm - Về mức án và Điều luật áp dụng: Áp dụng khoản 1 Điều 248; điểm p khoản 1, - Xử phạt: Bị cáo Phan Văn Long, Nguyễn Văn Tr 27 (hai bảy) tháng tù. Thời hạn - Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Hội đồng xét xử đồng ý, biểu - Tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm để bảo đảm thi hành án. Tịch thu sung công quỹ nhà nước số tiền 290.000 đồng; 01 điện thoại di động bọc - Về án phí: Áp dụng Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự buộc bị cáo Phan Văn - Tuyên bố: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ THẨM PHÁN LÂM QUỐC TÚ |