- Tranh chấp gì? án hình sự — "T và Tu - phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (điều 137 Luật sửa đổi, bổ sung m…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Cố ý gây thương t ch”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả tịch thu; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 13/2022/HS-ST Ngày 10-5-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DUYÊN HẢI, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Dương Tấn Thanh
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Trần Văn Nước
Ông Phạm Phi Long
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Vĩnh Lâm – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Lê Anh Kh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 10 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm C khai vụ án hình sự thụ lý số: 09/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022 đối với:
- Bị cáo Nguyễn Thanh T, sinh ngày 20/9/1995. Nơi sinh: tỉnh Trà Vinh. Nơi đăng ký thường trú: Khóm A, Phường B, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Chỗ ở: Khóm A, Phường B, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 07/12; Dân tộc: Kinh; iới t nh: Nam; Tôn giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; con ng Bùi Văn D, sinh năm: 1953 (Đã chết) và bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1973; Vợ: Phạm Thị L, sinh năm 1999 và có 02 người con; Tiền án: Không có; Tiền sự: Không có. Nhân thân: Tốt. Bị cáo bị bắt tạm giam tại Nhà tạm giữ C an thị xã Duyên Hải từ ngày 20/12/2021 cho đến nay (có mặt tại phiên tòa).
- Bị cáo Nguyễn Thanh Tu, sinh ngày 28/3/2002. Nơi sinh: tỉnh Trà Vinh. Nơi đăng ký thường trú: Ấp A, xã T, huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh. Chỗ ở: Khóm A, Phường B, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; iới t nh: Nam; T n giáo: Không có; Quốc tịch: Việt Nam; con ng Nguyễn Thanh H, sinh năm: 1982 và bà Lý Thị C T, sinh năm: 1981; Vợ: Đặng Thị Ngọc M và có 01 người con; Tiền án: Kh ng có; Tiền sự: Ngày 29/10/2021 bị C an thị xã Duyên Hải xử phạt vi phạm hành C về hành vi xâm hại đến sức khoẻ người khác với số tiền là 2.500.000 đồng. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/01/2022 tại Nhà tạm giữ C an thị xã Duyên Hải cho đến nay (có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Bà Võ Thị Đ, sinh năm 1964; Trú tại: Ấp N, xã T, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh. Chỗ ở: Ấp B, xã T, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh (Có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
+ Ông Lƣơng Thanh L, sinh năm 1994, trú tại: Ấp N, xã T, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh(Có mặt).
+ Ông Lƣơng Thanh G, sinh năm 1997, trú tại: Ấp N, xã T, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh (Có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Cáo trạng số: 16/CT-VKS-HS ngày 30 tháng 3 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh truy tố các bị cáo Nguyễn Thanh T và Nguyễn Thanh Tu về tội “Cố ý gây thương t ch” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 (Bộ luật hình sự năm 2015). Hành vi bị truy tố của các bị cáo như sau: Vào trưa ngày 06/11/2021, Nguyễn Thanh T tổ chức uống bia cùng Nguyễn Thanh Tu và Dương Huỳnh Đ tại nhà T thuộc Khóm A, Phường B, thị xã Duyên Hải. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Nguyễn Thanh T rủ Nguyễn Thanh Tu đi gây thương t ch cho người khác tại ấp Ba Động, xã Trường Long Hòa, thị xã Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh thì được Tu đồng ý. Khi rủ Tu, T có nói là xong việc sẽ cho Tu năm triệu đồng nhưng kh ng nói đánh ai. Đến khoảng 17 giờ cùng ngày, Tu lấy theo 01 cây búa có lưỡi bằng sắt cán bằng gỗ dài khoảng 50 cm, T lấy theo 01 cây dao mũi bằng, lưỡi bằng sắt và cán bằng gỗ dài 43 cm rồi Tu điều khiển xe m t SIRIUS màu đỏ biển số XXP5-4854chở T đến ấp Ba Động, xã Trường Long Hòa tìm người để đánh. Trên đường đi, T nói với Tu là việc hứa cho Tu năm triệu đồng chỉ là nói chơi và Tu vẫn tiếp tục chở T đi gây thương t ch cho người khác. Khi Tu chạy ngang nhà bà Võ Thị Đ tại ấp Ba Động, xã Trường Long Hòa, thị xã Duyên Hải thì T kêu Tu quay đầu xe và đậu trước cửa nhà bà Đ. T để 01 cây búa trên yên xe rồi cầm theo một cây dao chạy vào cửa cái nhà bà Đ. Lúc này, bà Đ đang đóng cửa lại nhưng chưa kịp gài chốt thì T dùng chân phải đạp mạnh 01 cái vào cánh cửa làm cho cánh cửa bật lại trúng vào người bà Đ khiến bà Đ té xuống nền gạch. Tiếp theo, T đi đến vị tr bà Đ té rồi dùng tay và chân đánh đá nhiều cái trúng vào vùng mặt, tay bà Đ gây thương t ch. Trong lúc T đang đánh đá bà Đ thì Tu cầm theo 01 cây búa chạy vào đưa búa lên định chém thì T ngăn lại và kêu Tu đi ra ngoài canh chừng, còn T thì tiếp tục dùng tay và chân đánh đá bà Đ. Khi Tu đi ra cổng thì nhìn thấy ng Lương Minh C là chồng bà Đ về đến cổng nên Tu cầm búa rượt ng C. Ông C bỏ chạy và hỏi “mày là ai mà chém tao”. Nghe ông C nói chuyện nên T cầm dao chạy ra rượt theo nhưng ng C đã chạy vào nhà người dân lẫn trốn nên Tu điều khiển xe môtô SIRIUS màu đỏ biển số XXP5-4854chở T về. Sau đó, bà Đ được đưa đến bệnh Viện đa Kh tỉnh Trà Vinh điều trị.
Tại Kết luận giám định số 155 ngày 03/12/2021 của Trung tâm pháp y Sở y tế Trà Vinh kết luận dấu hiệu C qua giám định: gãy xương mũi can xấu ảnh hưởng đến thở và ngửi, tỉ lệ 15%; sẹo trung bình vùng trán phải, tỉ lệ 6%; Sẹo nhỏ vùng giữa xương mũi, tỉ lệ 3%; dấu xuất huyết dưới da vùng cẳng tay phải, tỉ lệ 0%. Tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương t ch gây nên tại thời điểm giám định là 22%. Cơ chế hình thành vết thương là do ngoại lực tác động trực tiếp, vật gây ra thương t ch là vật tày cứng, hướng từ trên xuống.
Đối với Dương Huỳnh Đ trong lúc uống bia chung có nghe T rủ Tu đi gây thương t ch, Đ xin đi theo nhưng T kh ng cho. Sau đó, Đ điện thoại kêu Trần Đăng Kh chở Đ đi theo T và Tu nhưng Đ và Kh chỉ đứng ở ngoài nhìn nên chưa đủ căn cứ truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với Dương Hoàng C được Nguyễn Thanh T nhờ thay dàn áo xe SIRIUS màu đỏ biển số XXP5-4854thành áo xe SIRIUS màu đen và gắn biển số 84B1-227.33 thay cho biển số XXP5-4854để tránh sự phát hiện của C an. C kh ng biết mục đ ch T thay dàn áo và biển số xe để làm gì nên kh ng xem xét xử lý.
Trong phần xét hỏi tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai báo và thừa nhận toàn bộ hành vi cố ý gây thương t ch trên địa bàn thị xã Duyên Hải như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải m tả và truy tố.
Trong phần tranh tụng tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ quyền C tố vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Thanh T và Nguyễn Thanh Tu như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Về hình phạt:
- Đối với bị cáo Nguyễn Thanh T: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 điều 134, các điều 17, 38, điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
- Đối với bị cáo Nguyễn Thanh Tu: Đề nghị áp dụng điểm đ khoản 2 điều điều 134, các điều 17, 38, điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Tu từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù.
Về trách nhiệm dân sự:
- Bị hại bà Võ Thị Đ yêu cầu các bị cáo bồi thường toàn bộ các chi ph gồm: tiền xe cấp cứu đi và về: 2.000.000 đồng, tiền giám định: 1.000.000 đồng, tiền thẩm mỹ: 10.000.000 đồng, tiền C lao động của bà Đ trong 30 ngày: 6.000.000 đồng và tiền thuốc 500.000 đồng. Tổng cộng là 37.500.000 đồng. Tại phiên toà, các bị cáo đồng ý bồi thường cho bà Đ với tổng số tiền là 37.5000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận giữa các bị cáo và bị hại.
- Cũng tại phiên toà, các bị cáo đồng ý bồi thường cho ng Lương Thanh L tiền C nu i bệnh bà Võ Thị Đ trong hai ngày là 1.000.000 đồng, bồi thường cho ng Lương Thanh G tiền C nu i bệnh bà Võ Thị Đ trong hai ngày là 2.000.000 đồng nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thoả thuận giữa các bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án.
Về vật chứng: Kiểm sát viên đề nghị:
- Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu huỷ:
+ 01 con dao Khi mũi bằng, lưỡi bằng sắt và cán bằng gỗ dài 43 cm;
+ 01 cây búa có lưỡi bằng sắt dày 03 milimet, trên lưỡi có nhiều hình tam giác, có đục một lỗ tròn trên thân lưỡi, lưỡi búa có nhiều cạnh, có một cạnh sắt bén; cán búa bằng gỗ dài 50 cm, có dán băng keo đen bên ngoài thân cán búa;
+ 01 nón bảo hiểm màu xám loại che nữa đầu, có vành mũ nhựa màu đen, trên nón có chữ “KINA Drag”, bên trong nón có chữ “ASIAN”, đã qua sử dụng;
+ 02 đ i dép kẹp màu trắng, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) quần Jean sọt màu xanh Size 31, đã qua sử dụng; 01 áo khoác màu đen có mũ trùm qua đầu hiệu Versale, đã qua sử dụng;
+ 01 nón bảo hiểm màu trắng loại che nữa đầu, có vành mũ nhựa màu đen, bên trong nón có ghi “C ty TNHH thời trang Nón Sơn”, mũ cỡ lớn M4, đã qua sử dụng;
+ 01 áo khác màu đen có mũ trùm qua đầu, có nhiều ký hiệu hoa văn khác nhau màu xám trên áo, đã qua sử dụng;
+ 01 quần tây dài màu đen, đã qua sử dụng;
+ 01 cái khẩu trang màu đen, đã qua sử dụng;
+ Biển số kiểm soát 84B1-227.33
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:
+ 01 bộ dàn áo xe và 01 đầu đèn xe Yamaha Sirius RC EDITION màu đỏ gồm 09 mảnh rời khác nhau;
+ 01 biển số xe 37P5-4854;
+ 01 chiếc xe m t nhãn hiệu Yamaha Sirius RC EDITION màu đen, có một k nh chiếu hậu bên trái, đã qua sử dụng; có số máy: 5C63-045110 và số khung: 08Y-045110.
- Đối với 01 đĩa DVD hình tròn màu cam trắng, chứa trong một vỏ bằng nhựa màu t m, được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có k ch thước 11 x 19cm, có chữ ký của Lương Minh C, điều tra viên Nguyễn Văn Thái và có đóng dấu tròn đỏ của cơ quan CSĐT C an thị xã Duyên Hải tại nơi giáp lai của phong bì là chứng cứ của vụ án nên đề nghị Hội đồng xét xử yêu cầuChi cục Thi hành án dân sự thị xã Duyên Hải giao lại cho Toà án nhân dân thị xã Duyên Hải để lưu vào trong hồ sơ vụ án.
Khi được nói lời sau cùng, bị cáo Nguyễn Thanh T, bị cáo Nguyễn Thanh Tu tỏ ra hối hận và đều xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thanh T, bị cáo Nguyễn Thanh Tu đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi cố ý gây thương t ch cho bà Võ Thị Đ vào ngày 06/11/2021 tại ấp B, xã T, thị xã Duyên Hải. Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo, bị hại tại Cơ quan điều tra, biên bản khám nghiệm hiện trường, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận được bị cáo Nguyễn Thanh T và Nguyễn Thanh Tu đã thực hiện hành vi cố ý gây thương t ch cho bà Võ Thị Đ. Tỷ lệ thương tật của bà Đ theo Kết luận giám định có tổng tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương t ch gây nên tại thời điểm giám định là 22%. Tại phiên toà, các bị cáo khai kh ng có ai thuê các bị cáo gây thương t ch cho bị hại. Bị hại kh ng xác định được có ai thuê các bị cáo gây thương t ch cho bà. Cơ quan Cảnh sát điều tranh C an thị xã Duyên Hải trong quá trình điều tra vụ án cũng kh ng xác định và không chứng minh được có ai thuê các bị cáo gây thương t ch cho bà Đ không. iữa các bị cáo và bị hại kh ng có mâu thuẫn từ trước nên hành vi cố ý gây thương t ch cho bà Đ của các bị cáo thể hiện t nh chất c n đồ. Vì vậy, đã có đầy đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thanh T và Nguyễn Thanh Tu phạm tội “Cố ý gây thương t ch” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duyên Hải truy tố các bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Đối với Dương Huỳnh Đ, Trần Đăng Kh và Dương Hoàng C, tại phiên toà Kiểm sát viên đề nghị kh ng xem xét xử lý trách nhiệm hình sự do kh ng có cơ sở nên kh ng xem xét.
Đối với việc bị hại bà Võ Thị Đ cho rằng có người khác thuê các bị cáo gây thương t ch cho bà nhưng bà Đ kh ng xác định cụ thể là ai. Cơ quan Cảnh sát điều tranh C an thị xã Duyên Hải trong quá trình điều tra vụ án cũng kh ng xác định và không chứng minh được có ai thuê các bị cáo gây thương t ch cho bà Đ. Vì vậy, Hội đồng xét xử kh ng có căn cứ để xem xét.
Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử cũng đã thẩm tra các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử và thấy rằng các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều đúng quy định pháp luật. Những người tham gia tố tụng kh ng khiếu nại hay có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng. Vì vậy, các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng đều hợp pháp.
Hành vi cố ý gây thương t ch của bị cáo Nguyễn Thanh T và Nguyễn Thanh Tu là hành vi bị pháp luật cấm, kh ng chỉ xâm hại sức khoẻ của người khác mà còn gây mất an ninh trật tự trên địa bàn thị xã Duyên Hải. Hành vi của các bị cáo là rất đáng lên án. Các bị cáo đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự nên các bị cáo phải chịu trách nhiệm đối với hành vi do các bị cáo gây ra.
Về tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự: Trong quá trình nghị án, Hội đồng xét xử đã xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo như: Bị cáo Nguyễn Thanh T, bị cáo Nguyễn Thanh Tu thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015. Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Về nhân thân: Bị cáo Nguyễn Thanh T có nhân thân tốt. Riêng bị cáo Nguyễn Thanh Tu có tiền sự về hành vi xâm hại đến sức khoẻ người khác và bị C an thị xã Duyên Hải xử phạt vi phạm hành C vào ngày 29/10/2021, đã nộp phạt xong.
Về hình phạt: Mức hình phạt mà Kiểm sát viên đề nghị áp dụng đối với bị cáo Nguyễn Thanh T và Nguyễn Thanh Tu là tương xứng với t nh chất, mức độ hành vi phạm tội của từng bị cáo cũng như vai trò của từng bị cáo trong vụ án trên cơ sở có xem xét đến các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ghi nhận sự thoả thuận của bị cáo Nguyễn Thanh T và Nguyễn Thanh Tu đồng ý bồi thường cho bà Võ Thị Đ tổng số tiền là 37.500.000 đồng theo yêu cầu của bà Đ; bồi thường cho ng Lương Thanh G số tiền 2.000.000 đồng và bồi thường cho ng Lương Thanh L số tiền 1.000.000 đồng.
Về xử lý vật chứng: Chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên về xử lý vật chứng do phù hợp quy định của pháp luật.
Về án ph : Bị cáo Nguyễn Thanh T và Nguyễn Thanh Tu kh ng thuộc trường hợp được miễn nộp án ph , giảm án ph và kh ng thuộc trường hợp kh ng phải nộp án ph nên phải chịu án ph theo quy định của pháp luật. Bị cáo Nguyễn Thanh T và Nguyễn Thanh Tu mỗi bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng và án phí dân sự sơ thẩm là 1.012.500 đồng
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thanh T phạm tội “Cố ý gây thương t ch”.
Bị cáo Nguyễn Thanh Tu phạm tội “Cố ý gây thương t ch”.
Về hình phạt:
Áp dụng điểm đ khoản 2 điều 134, các điều 17, 38, điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh T 03 năm 06 tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 20/12/2021.
Áp dụng điểm đ khoản 2 điều 134, các điều 17, 38, điểm s khoản 1 điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Nguyễn Thanh Tu 03 năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 10/01/2022.
Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Nguyễn Thanh T và bị cáo Nguyễn Thanh Tu liên đới trách nhiệm bồi thường cho bà Võ Thị Đ tổng số tiền là 37.500.000 đồng; bồi thường cho ng Lương Thanh L số tiền 1.000.000 đồng, bồi thường cho ng Lương Thanh G số tiền 2.000.000 đồng. Trong đó, mỗi bị cáo Nguyễn Thanh T và Nguyễn Thanh Tu có trách nhiệm bồi thường cho bà Võ Thị Đ số tiền là 18.750.000 đồng, bồi thường cho ng Lương Thanh L số tiền 500.000 đồng, bồi thường cho ng Lương Thanh G số tiền 1.000.000 đồng
Kể từ ngày quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
Về xử lý vật chứng:
- Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên tịch thu, tiêu huỷ:
+ 01 con dao Khi mũi bằng, lưỡi bằng sắt và cán bằng gỗ dài 43 cm;
+ 01 cây búa có lưỡi bằng sắt dày 03 milimet, trên lưỡi có nhiều hình tam giác, có đục một lỗ tròn trên thân lưỡi, lưỡi búa có nhiều cạnh, có một cạnh sắt bén; cán búa bằng gỗ dài 50 cm, có dán băng keo đen bên ngoài thân cán búa;
+ 01 nón bảo hiểm màu xám loại che nữa đầu, có vành mũ nhựa màu đen, trên nón có chữ “KINA Drag”, bên trong nón có chữ “ASIAN”, đã qua sử dụng;
+ 02 đ i dép kẹp màu trắng, đã qua sử dụng;
+ 01 (một) quần Jean sọt màu xanh Size 31, đã qua sử dụng; 01 áo khoác màu đen có mũ trùm qua đầu hiệu Versale, đã qua sử dụng;
+ 01 nón bảo hiểm màu trắng loại che nữa đầu, có vành mũ nhựa màu đen, bên trong nón có ghi “C ty TNHH thời trang Nón Sơn”, mũ cỡ lớn M4, đã qua sử dụng;
+ 01 áo khác màu đen có mũ trùm qua đầu, có nhiều ký hiệu hoa văn khác nhau màu xám trên áo, đã qua sử dụng;
+ 01 quần tây dài màu đen, đã qua sử dụng;
+ 01 cái khẩu trang màu đen, đã qua sử dụng;
+ Biển số kiểm soát 84B1-227.33
- Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tuyên trả tịch thu, nộp ngân sách nhà nước:
+ 01 bộ dàn áo xe và 01 đầu đèn xe Yamaha Sirius RC EDITION màu đỏ gồm 09 mảnh rời khác nhau;
+ 01 biển số xe 37P5-4854;
+ 01 chiếc xe m t nhãn hiệu Yamaha Sirius RC EDITION màu đen, có một k nh chiếu hậu bên trái, đã qua sử dụng; có số máy: 5C63-045110 và số khung: 08Y-045110
- Đối với 01 đĩa DVD hình tròn màu cam trắng, chứa trong một vỏ bằng nhựa màu t m, được niêm phong trong một phong bì màu trắng, có k ch thước 11 x 19cm, có chữ ký của Lương Minh C, điều tra viên Nguyễn Văn Thái và có đóng dấu tròn đỏ của cơ quan CSĐT C an thị xã Duyên Hải tại nơi giáp lai của phong bì là chứng cứ của vụ án nên Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duyên Hải sẽ giao lại cho Toà án nhân dân thị xã Duyên Hải để lưu vào trong hồ sơ vụ án.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; căn cứ điểm a, c khoản 1 điều 23, điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph , lệ ph Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Thanh T và bị cáo Nguyễn Thanh Tu mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng; buộc bị cáo Nguyễn Thanh T và bị cáo Nguyễn Thanh Tu mỗi bị cáo phải chịu án ph dân sự sơ thẩm là 1.012.500 đồng.
Bị cáo Nguyễn Thanh T và bị cáo Nguyễn Thanh Tu, bị hại bà Võ Thị Đ, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án là ng Lương Thanh L và ông Lương Thanh G có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Trà Vinh; - VKSND tỉnh Trà Vinh; - VKSND TX.Duyên Hải; - Chi cục THADS TX.Duyên Hải; - CQTHAHS C an TX.Duyên Hải; - CQĐT C an thị xã Duyên Hải; - UBND Phường 2, thị xã Duyên Hải; - UBND xã Tân Bình, huyện Càng Long; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dƣơng Tấn Thanh |