- Tranh chấp gì? án hình sự — "LÊ XUÂN QUANG - phạm tội gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác trong khi thi hành công vụ (điều 137 Luật sửa đổi, bổ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Xuân Q phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 10/2018/HS-ST Ngày 24 - 8 - 2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Thuận.
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Đặng Công Kiên.
+ Bà Phan Thị Thanh Phượng.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Năm, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền tham gia phiên tòa: Ông Đặng Văn Minh - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 8 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Quảng Điền xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 08/2018/HSST, ngày 11 tháng 7 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 09/2018/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 8 năm 2018 đối với bị cáo: Lê Xuân Q, sinh ngày 24/10/1947 tại: tỉnh Thừa Thiên Huế. Nơi cư trú: Thôn Niêm Phò, Quảng Thọ, Quảng Điền, Thừa Thiên Huế; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê G (đã chết) và bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1926; Vợ: Nguyễn Thị L, sinh năm: 1954; Con: Có 03 con; lớn nhất sinh năm 1981; nhỏ nhất sinh năm: 1991; Quá trình nhân thân: Nhỏ sống cùng gia đình, được cho ăn học đến lớp 10/12 thì nghỉ học ở nhà lao động giúp gia đình. Năm 1971 đến nay làm ruộng và sinh sống tại địa phương cho đến ngày phạm tội.
Tiền sự; tiền án: Chưa; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
Ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1963. Nơi cư trú: Đội 4 Thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt tại phiên tòa.
- Đại diện gia đình bị cáo:
Bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1954 (vợ của bị cáo). Nơi cư trú: Thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
Bà Lê Thị H, sinh năm 1964. Nơi cư trú: Đội 4 Thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
Bà Hồ Thị Ái N, sinh năm 1989. Nơi cư trú: Thôn Niêm Phò, xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 19 giờ ngày 27/01/2018, sau khi cùng nhau ăn nhậu tại nhà ông Nguyễn Thanh T; Lê Như N (SN:1991) con trai ông Lê Xuân Q và Nguyễn Ngọc T (SN:1996) con trai ông Nguyễn Thanh T cùng nhau đi chơi và bị tại nạn giao thông. Nên khoảng 20 giờ cùng ngày ông Q lấy 01 cây rựa để ở hiên nhà mình đến trước cổng nhà ông Nguyễn Thanh T (SN: 1963) ở cạnh bên chởi bới và nói “Con tao mà có chuyện chi tao chém cả dòng họ mi”. Nghe vậy, bà Lê Thị H vợ ông T trong nhà đi ra cải vả với ông Q, thách đố ông Q chém mình; thấy vậy, ông T đi ra và nói “Chú chém tui đã được chưa mà đòi chém cả dòng họ tui”, ông Q với ông T xông vào gi ng co, vật nhau giữa đường, ông Q vùng dậy, tay trái cầm cây rựa mang theo chém một nhát từ trên xuống trúng vào vai phải ông T; thấy vậy, bà H xông vào dành lấy cây rựa từ tay ông Q. Ông T được mọi người đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện huyện Quảng Điền sau đó chuyển đến Bệnh viện Đại học y dược Huế điều trị đến ngày 01/2/2018 thì xuất viện.
Bản kết luận giám định pháp y về tổn thương cơ thể số 102-18/TgT ngày 22/4/2018 của Trung tâm giám định pháp y tỉnh Thừa Thiên Huế đối với ông Nguyễn Thanh T kết luận:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
Chấn thương gãy đầu ngoài xương đòn phải gây hạn chế động tác.
2. Tỷ lệ thương tổn chung cơ thể hiện tại là: 9% (Chín phần trăm).
3. Tính chất và vật gây: Vết thương được tạo ra có hướng từ trên xuống dưới, trái sang phải và trước ra sau. Vật sắc cạnh.
* Vật chứng vụ án:
- 01 (một) cây rựa quắn, lưỡi b ng kim loại, cán b ng tre (Dài 27 cm x 5 cm).
* Về dân sự:
Nguyễn Thanh T yêu cầu bị cáo Q đền bù số tiền 28.136.000đồng, hiện bị cáo Q mới đền bù số tiền: 4.000.000đồng, ông T yêu cầu bị cáo Q tiếp tục đền bù số tiền còn lại.
Trong quá trình điều tra vụ án tại biên bản lấy lời khai ngày 10/5/2018 bị cáo Q có trình bày là nhất trí bồi thường cho ông T số tiền 21.500.000đồng nhưng tại phiên tòa bị cáo Q xin được tự nguyện đền bù số tiền 15.000.000đồng, nếu ông Nguyễn Thanh T không đồng ý thì yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, ông Nguyễn Thanh T xin rút lại một phần yêu cầu về đền bù dân sự. Ông T yêu cầu bị cáo Q bồi thường cho ông tổng số tiền là 11.178.424đồng bao gồm các khoản cụ thể như sau: Chi phí điều trị tại bệnh viện là 6.231.584đồng; Chụp X.Quang số tiền là 424.840đồng; Mua thuốc uống số tiền là 432.000đồng; Tiền cơm của ông T trong 6 ngày là 540.000đồng; Tiền mua sữa Ensure là 630.000đồng; Tiền mua nước yến là 420.000đồng; Tiền mua trái cây là 300.000đồng; Tiền thuê Taxi đi về là 400.000đồng; Tiền công của ông T trong 6 ngày là 1.500.000đồng; Tiền xăng xe đi lại là 300.000đồng. Nhưng trước đó, gia đình bị cáo Q đã bồi thường cho ông Tình số tiền là 3.700.000đồng (Bị cáo nói đã bồi thường trước cho bị hại 4.000.000đồng nhưng bị hại chỉ thừa nhận bị cáo bồi thường cho bị hại số tiền 3.700.000đồng). Nay, ông T yêu cầu bị cáo Q tiếp tục bồi thường số tiền còn lại cho ông là 7.478.424đồng. Còn về chi phí cho lần điều trị tiếp theo thì ông T sẽ khởi kiện b ng một vụ án dân sự khác sau khi đã tiến hành điều trị xong.
Tại bản cáo trạng số 09/QĐ-KSĐT ngày 10/7/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bố sung năm 2017.
Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 134, các điểm b, i, o, s, x khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Lê Xuân Q từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị chấp nhận yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại của người bị hại ông Nguyễn Thanh T; Buộc bị cáo Lê Xuân Q phải tiếp tục bồi thường cho người bị hại tổng số tiền là 7.478.424đồng.
Về vật chứng vụ án: Đề nghị tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây rựa quắn, lưỡi b ng kim loại, cán b ng tre (Dài 27 cm x 5 cm).
Về án phí hình sự và dân sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế; Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghãi vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có đủ cơ sở để kết luận: Do bực tức trong việc con trai là Nguyễn Như N đi chơi cùng Nguyễn Ngọc T bị tai nạn giao thông nên khoảng 20 giờ ngày 27/01/2018, Lê Xuân Q mang theo một cây rựa đến nhà ông T gây g , chém vào vai phải ông T gây thương tích với tỷ lệ thương tổn chung cơ thể hiện tại là: 9% (Chín phần trăm).
Xét tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của bị cáo thấy r ng: Hành vi cố ý gây thương tích do bị cáo Lê Xuân Q thực hiện là nguy hiểm đối với tính mạng, sức khỏe của người khác. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực hành vi, nhận thức, nhưng xuất phát từ những mâu thuẫn nhỏ trong đời sống, đã thực hiện hành vi dùng rựa xâm hại đến sức khỏe của ông T; hành vi của bị cáo thể hiện sự hung hãn, quyết liệt và coi thường pháp luật, coi thường sức khỏe người khác, gây bất bình và dư luận xấu trong quần chúng nhân dân, ảnh hưởng đến trật tự công cộng, trật tự xã hội, cần phải xử lý nghiêm khắc để giáo dục và răn đe chung. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Điền truy tố bị cáo Quang về tội “Cố ý gây thương tích” theo khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng pháp luật. Mặt khác, hành vi của bị cáo được thực hiện với l i cố ý. Vì vậy, khi quyết định hình phạt cần phải xem xét các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo.
Xét về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Về nhân thân: Bị cáo Lê Xuân Q có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: Bị cáo Lê Xuân Q không phạm vào tình tiết tăng nặng nào; Sau khi phạm tội bị cáo tự nguyện bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả; Khi phạm tội bị cáo trên 70 tuổi ; Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và là con của Liệt sĩ. Vì vậy bị cáo được hưỡng các tình tiết quy định tại các điểm b, i, o, s, x khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về biện pháp chấp hành hình phạt: Xét thấy bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được pháp luật và xã hội, mặc dù thấy trước được hành vi của mình có thể gây ra hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Trong vụ án này l i chủ yếu thuộc về bị cáo nên phải quyêt định một mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo nh m răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung. Tuy nhiên, xét thấy bị cáo có nhân thân tốt, có nhiều tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, không cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội mà giao cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú giám sát, giao dục theo như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là thỏa đáng.
Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, giữa bị cáo và người bị hại không tự thỏa thuận được về phần trách nhiệm dân sự nên bị cáo Lê Xuân Q yêu cầu Hội đồng xét xử giải quyết theo quy định của pháp luật.
Qua quá trình tranh luận và xem xét thực tế tại phiên tòa về số tiền 4.000.000đồng mà bị cáo nói đã bồi thường cho người bị hại thì không có đủ cơ sở để chứng minh r ng bị cáo đã đưa đủ số tiền 4.000.000đồng cho gia đình bị hại.
Theo trình bày của ông Nguyễn Thanh T chi phí điều trị và các chi phí khác cho lần điều trị đầu tiên hết tổng số tiền là 14.068.000đồng và dự tính chi phí cho lần điều trị tiếp theo là 14.068.000đồng. Tổng cộng chi phí cho hai lần điều trị là 28.136.000đồng. Nhưng tại phiên tòa, ông T xin tự nguyện rút lại một phần yêu cầu về đền bù dân sự. Gia đình bị cáo Q đã đền bù trước cho ông T số tiền 3.700.000đồng, nay ông T yêu cầu bị cáo Q tiếp tục đền bù cho ông số tiền còn lại là 7.478.424đồng. Xét thấy, yêu cầu của ông Nguyễn Thanh T là hợp lý nghĩ cần chấp nhận.
Về vật chứng: 01 (một) cây rựa quắn, lưỡi b ng kim loại, cán b ng tre (Dài 27 cm x 5 cm) là công cụ, phương tiện phạm tội nghĩ cần tịch thu tiêu hủy.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Lê Xuân Q phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
2. Về hình phạt: Áp dụng các điểm b, i, o, s, x khoản 1 Điều 51; Điều 65; khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Lê Xuân Q 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18(mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Lê Xuân Q cho chính quyền Ủy ban nhân dân xã Quảng Thọ, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên Huế giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách; trường hợp người hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
3. Về trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 584; 585; 586 và Điều 590 Bộ luật Dân sự 2015. Buộc bị cáo Lê Xuân Q có trách nhiệm bồi thường tiếp số tiền 7.478.424đồng (bảy triệu bốn trăm bảy mươi tám nghìn bốn trăm hai mươi bốn đồng) cho ông Nguyễn Thanh T.
4. Về vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây rựa quắn, lưỡi b ng kim loại, cán b ng tre (Dài 27 cm x 5 cm).
5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự 2015; Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Lê Xuân Q phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm và 374.000đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, được sửa đổi bổ sung theo Luật sửa đổi, bổ sung Luật thi hành án dân sự năm 2014, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự và Điều 7a, 7b Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật thi hành án dân sự năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Thừa Thiên Huế; - Sở tư pháp; - VKSND huyện Quảng Điền; - Công an huyện Quảng Điền; - Thi hành án huyện Quảng Điền; - UBND xã Quảng Thọ; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu: HS; THS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hồ Thuận |