- Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Quang S cùng đồng phạm Tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS n…"
- Tòa quyết gì? Bắt, tạm giam bị cáo: Nguyễn Văn Hưởng, sinh năm 1982.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH BẮC NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:13/2022/HS-PT Ngày 26/4/2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Ho ng Tu n Anh
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Trọng Trường
Ông Nguyễn Hữu Hòa
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Ho ng Hải - Thư ký Tòa án nhân dân
tỉnh Bắc Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà:
Ông Ngô Xuân Quý - Kiểm sát viên.
Hôm nay, ngày 26 tháng 4 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bắc
Ninh tiến h nh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 14/2022/TLPT-HS ngày 27 tháng 01 năm 2022 đối với các bị cáo Dương Quang S, Lê Văn T, Vũ Trung K do có kháng cáo của các bị cáo S, T, K đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 99/2021/HS-ST ngày 09 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Th nh, tỉnh Bắc Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Dương Quang S, sinh năm 1984; Hộ khẩu thường trú v nơi cư trú: phố
H, thị tr n H, huyện T, tỉnh BN; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học v n: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Dương Q v b Nguyễn Thị M; Vợ: Nguyễn Thị T; có 04 con, lớn nh t sinh năm 2009, nhỏ nh t sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại Quyết định số 27 ng y 14/02/2014 Công an huyện Thuận Th nh phạt h nh chính 1.000.000 về h nh vi đánh bạc; Tại Quyết định số 44 ng y 27/4/2017 Công an huyện Tiên Du phạt h nh chính 2.000.000 về h nh vi đánh bạc. Bị cáo đã ch p h nh xong các Quyết định phạt h nh chính; Bị cáo tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
2. Lê Văn T (tên gọi khác: L), sinh năm 1993; Hộ khẩu thường trú v nơi
cư trú: thôn Đ, xã N, huyện T, tỉnh BN; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học v n: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn V v b Nguyễn Thị N; Vợ: Lê Thị L; con: có 01 con, sinh năm 2022; Tiền sự: Không; Tiền án: Tại bản án số 54 ng y 15/10/2014 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Th nh, tỉnh Bắc Ninh xử phạt T 7 năm 6 tháng tù về tội “Cướp t i sản”. Bị cáo ch p xong bản án ng y 19/9/2018; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ng y 18/06/2021 đến ng y 24/06/2021 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “C m đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
3. Vũ Trung K, sinh năm 1978; Hộ khẩu thường trú v nơi cư trú: thôn B,
xã N, huyện L, tỉnh BG; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học v n: 09/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Vũ Ngọc A và b Cao Thị V; Vợ: Vũ Thị M; có 03 con, lớn nh t sinh năm 2006, nhỏ nh t sinh năm 2012; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Tại bản án hình sự số 75/2008/HSST ng y 28/10/2008 Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt 30 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Tại bản án hình sự phúc thẩm số 205/2012/HSPT ng y 26/10/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xử phạt 9 tháng tù về tội “Đánh bạc”, tổng hợp hình phạt bản án số 75/2008/HSST ng y ng y 28/10/2008 Tòa án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang buộc bị cáo phải ch p h nh hình phạt chung của 2 bản án l 3 năm 3 tháng tù. Phạt tiền 12.000.000 vnđ. Bị cáo ch p h nh án phạt tù ra trại ng y 03/02/2016, các quyết định khác của bản án đã ch p h nh xong. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 25/04/2021 đến ng y 28/04/2021 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn “C m đi khỏi nơi cư trú”. Bị cáo hiện tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.
Ngoài ra trong vụ án còn có các bị cáo khác l Vũ Ngọc H, Nguyễn Tu n
A, Ngô Văn B không kháng cáo và không bị kháng nghị nên Tòa án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các t i liệu có trong hồ sơ vụ án v diễn biến tại phiên tòa, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 18 giờ 15 phút ng y 20/4/2021, Dương Quang S đến Cơ quan
Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh tự thú về h nh vi đánh bạc bằng hình thức nhận, chuyển (mua, bán) các số lô, đề với Vũ Trung K v một số người trực tiếp bán các số lô, đề cho người chơi (các thư ký đề). S tự nguyện giao nộp 01 điện thoại di động Iphone lưu thông tin về việc S mua, bán số lô, số đề ng y 15/4/2021 và ngày 20/4/2021.
Vào các ngày 25/4/2021, 03/5/2021 v 18/6/2021, Vũ Trung K, Ngô Văn
B, Vũ Ngọc H, Lê Văn T v Nguyễn Tu n A đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh đầu thú khai nhận h nh vi đánh bạc bằng hình thức mua bán số lô, số đề với S, T.
Hình thức đánh "lô", "đề" như sau: Số "lô", số "đề" l số có hai chữ số
được so với kết quả của giải xổ số Miền Bắc mở thưởng trong ng y đánh (ng y mua số); số "đề" l số so với số h ng chục v h ng đơn vị của giải đặc biệt hoặc giải nh t; số "lô" được so với số h ng chục v h ng đơn vị của to n bộ 27 giải thưởng; số "lô xiên" l một bộ số "lô" (cặp số lô) có từ 2 số "lô" trở lên, bộ có 2 số "lô" gọi l "lô xiên hai", bộ có 3 số "lô" gọi l "lô xiên ba", bộ có 4 số "lô" gọi l "lô xiên bốn" ...; số “3 c ng” (đề 3 số) l số có 3 chữ số được so với số h ng trăm, h ng chục v h ng đơn vị của giải đặc biệt. Người trúng số l người mua số trùng với kết quả mở thưởng. Trường hợp số lô trúng nhiều giải thưởng thì người trúng số được tính to n bộ các giải. Người trúng số được trả thưởng theo tỷ lệ:
- Trúng số "đề" g p 80 lần số tiền mua số;
- Trúng số "lô" thì cứ 1 điểm "lô" nhân với 80.000 vnđ;
- Trúng số "lô xiên hai" g p 10 lần, trúng số "lô xiên ba" g p 40 lần, trúng
số "lô xiên bốn" g p 100 lần v trúng số “3 c ng” g p 400 lần tiền mua số... Việc thanh toán cho người trúng số v o ng y hôm sau.
Kiểm tra nội dung tin nhắn lưu trong chiếc điện thoại của Dương Quang S
v đ u tranh xét hỏi các bị cáo, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh l m rõ được:
S và T thỏa thuận cùng nhau l m chủ đề (nhận các số lô, số đề của các thư
ký đề), S và T cùng hưởng hoặc cùng chịu 50% số tiền thắng hoặc thua bạc. Sau khi thống nh t, S thỏa thuận với Ngô Văn B v Vũ Ngọc H l m thư ký đề cho S. S thỏa thuận giá mua, bán số lô với B, H: 1 điểm lô = 21.700 đồng, lô xiên = 60%. Riêng số đề S mua, bán với B 82%, mua bán với với H 71,5%. Vũ Trung K biết S l m chủ đề, vì vậy khi S hỏi K có nhận (mua, bán) các số lô, đề với S không thì K chỉ nhận mua, bán số đề với giá 71,5% thông qua tin nhắn SMS. Lê Văn T thỏa thuận với Nguyễn Tu n A l m thư ký đề cho T với giá mua, bán số đề = 82%, 1 điểm lô = 21.700 đồng, lô xiên = 60%;
Để nhận các số lô, đề của các thư ký đề Dương Quang S, Lê Văn T lập 3
Zalo nhóm đặt tên l “A Núi 1”, “A Núi 2” v “A.O” mỗi nhóm có 4 thành viên, trong đó S sử dụng số điện thoại 0787.330.5xx lập v đặt tên t i khoản zalo: “A Núi”, Lê Văn T sử dụng sim rác (không nhớ số) lập v đặt tên t i khoản zalo: “Nguyễn Văn L”. Mỗi nhóm zalo đều có t i khoản zalo của S và T, 01 t i khoản của thư ký đề v 01 t i khoản zalo chưa xác định được tên t i khoản. Vũ Ngọc H sử dụng số điện thoại 0325.329.6xx lập v đặt tên t i khoản zalo l “Nguyễn Thị C”, Ngô Văn B sử dụng số điện thoại 0979.452.6xx lập v đặt tên t i khoản zalo l “A”, Nguyễn Tu n A sử dụng sim rác (không nhớ số) lập v đặt tên t i khoản zalo l “Tu n A”. Dương Quang S l người thêm (add) các t i khoản zalo “A” của B v o nhóm “A Núi 1”, thêm t i khoản zalo “Nguyễn Thị C” của H vào nhóm zalo “A Núi 2” v đặt thêm tên “H” cho t i khoản n y. Lê Văn T thêm tài khoản zalo “Tu n A” của Nguyễn Tu n A vào nhóm zalo “A.0”. Khi các số lô, đề do B, H, Tu n A chuyển v o zalo nhóm thì T, S sẽ nhắn “OK” hoặc số đếm theo thứ tự tin nhắn để thông báo đã nhận được số lô, số đề. Quá trình điều tra Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc Ninh chỉ chứng minh được ng y 15/4/2021, S chuyển số đề cho Vũ Trung K; Ngày 20/4/2021, S và T nhận số lô, số đề của Nguyễn Tu n A, Vũ Ngọc H v Ngô Văn B. Cụ thể như sau:
1. Hành vi tổ chức đánh bạc của Dương Quang S và Vũ Trung K ngày
15/4/2021:
Khoảng 18 giờ ng y 15/4/2021, sau khi Dương Quang S nhận các số lô, số
đề do các thư ký đề gửi v o các nhóm zalo thì S sử dụng điện thoại số 0787.330.5xx nhắn tin SMS chuyển 5 số đề: 99, 66, 01, 10, 95 với tổng số tiền đánh 45.500.000vnđ v o số 0987.976.8xx l số điện thoại Vũ Trung K sử dụng, K nhắn “1” có nghĩa K đồng ý nhận các số đề, số tiền đánh đề do S chuyển đến. K không chuyển số cho ai nữa, vì vậy nếu thắng thì K hưởng, thua thì K phải trả tiền cho S. Theo thỏa thuận số tiền S phải thanh toán cho K: 45.500.000 vnđ x 71,5% = 32.532.500 vnđ. Đối chiếu các các số đề S chuyển cho K ngày 15/4/2021 với kết quả xổ số kiến thiết miền Bắc mở thưởng cùng ng y, thì các số đề S chuyển cho K đều không trúng. Vì vậy S đã thanh toán trả cho K 32.532.500 đồng.
2. Hành vi tổ chức đánh bạc của Dương Quang S, Lê Văn T, Vũ Ngọc
H và hành vi đánh bạc của Nguyễn Tuấn A, Ngô Văn B ngày 20/4/2021:
2.1 Hành vi của Vũ Ngọc H
Ngày 20/4/2021, H bán số lô, số đề cho nhiều người không rõ tên v địa
chỉ. Tổng số ng y 20/4/2021 H bán được 99 số đề = 30.614.000 vnđ v 5 số lô = 3.110 điểm lô. H khai tiền bán số đề H thu 80%, 1 điểm lô H bán 22.000 vnđ. Như vậy tổng số tiền bán số đề, số lô ng y 20/4/2021 H thu được l : (30.614. 000 vnđ x 80%) + (3.110 điểm lô x 22.000 vnđ) = 92.911.200vnđ. Sau đó, từ khoảng 17 giờ 45 phút đến khoảng 18 giờ 26 phút cùng ngày H sử dụng t i khoản Zalo “Nguyễn Thị C” nhắn 15 tin chuyển to n bộ số lô, số đề v tiền đánh bạc v o Zalo nhóm “A Núi 2”, sau mỗi tin H nhắn v o nhóm thì Lê Văn T sử dụng tài khoản zalo “Nguyễn Văn L” nhắn số đếm từ 1 đến 15 đồng ý nhận t t cả các số lô, đề v tiền đánh lô, đề do H nhắn đến. Theo thỏa thuận về giá mua, bán lô đề giữa H và S thì số tiền H phải thanh toán cho S, T là: (30.614.000 x 71.5% )+ (3.110 điểm lô x 21.700đồng) = 89.376.000 vnđ. H chưa thanh toán số tiền n y cho S và T.
Số tiền dùng để tổ chức đánh bạc của H là: 92.911.200 vnđ (Chín mươi hai
triệu, chín trăm mười một nghìn,hai trăm đồng).
2.2 Hành vi của Nguyễn Tuấn A
Lê Văn T thỏa thuận với Nguyễn Tu n A l m thư ký đề cho T nhưng Tu n
A khai: sau khi thỏa thuận với T xong thì Tu n A không bán số lô, số đề cho ai m đến ng y 20/4/2021, Nguyễn Tu n A sử dụng t i khoản Zalo “Tu n A” nhắn tin vào nhóm zalo “A.0” để đánh lô, số đề với S và T. Khoảng từ 17 giờ 12 phút đến 17 giờ 59 phút ng y 20/4/2021 Tu n A nhắn 6 tin nhắn v o nhóm zalo “A.0” đánh 13 số đề =13.000.000 vnđ; 5 số lô = 1.100 điểm v 01 cặp xiên ba = 5.000.000 vnđ. Lê Văn T nhắn “5” đồng ý nhận cả 6 tin nhắn đánh lô, đề của Tu n A. Theo thỏa thuận giữa Tu n A v Lê Văn T tổng số tiền Nguyễn Tu n A phải thanh toán cho T, S là: (13.000.000 vnđ x 82%) + (5.000.000 vnđ x 60% ) + ( 1.100 điểm lô x 21.700 vnđ) = 37.530.000 vnđ. Tu n A chưa thanh toán tiền đánh bạc cho S và T.
Số tiền dùng để đánh bạc của Nguyễn Tu n A là 37.530.000vnđ (Ba mươi
bẩy triệu, năm trăm, ba mươi nghìn đồng).
2.3 Hành vi của Ngô Văn B
Ngày 20/4/2021, B bán số lô, số đề cho nhiều người không rõ tên v địa
chỉ. Tổng số ng y 20/4/2021 B bán được18 số đề = 4.100.000 vnđ v 8 số lô = 430 điểm. B khai tiền bán số đề B thu đủ 100%, 1 điểm lô B bán 22.000 đồng. Như vậy tổng số tiền bán số đề, số lô ng y 20/4/2021 B thu được l : 4.100.000 vnđ + (430 điểm lô x 22.000 vnđ) = 13.560.000 vnđ. Sau đó, từ khoảng 18 giờ 02 phút đến 18 giờ 28 phút cùng ngày B sử dụng t i khoản Zalo “A” nhắn 6 tin chuyển to n bộ số lô, số đề v tiền đánh bạc v o Zalo nhóm “A Núi 1”, sau mỗi tin B nhắn v o nhóm thì Lê Văn T sử dụng t i khoản zalo “Nguyễn Văn L” nhắn số đếm từ 1 đến 6 đồng ý nhận t t cả các số lô, đề v tiền đánh lô, đề do B nhắn đến. Theo thỏa thuận về giá mua, bán lô đề giữa B và T thì số tiền B phải thanh toán cho S, T là: (4.100.000 vnđ x 82%) + (430 điểm lô x 21.700 vnđ) = 12.693.000 vnđ. B chưa thanh toán tiền cho T.
Số tiền dùng để đánh bạc của B là 13.560.000 vnđ (Mười ba triệu, năm
trăm, sáu mươi nghìn đồng).
2.4 Hành vi tổ chức đánh bạc của Lê Văn T và Dương Quang S:
Ng y 20/4/2021, Lê Văn T cùng với Dương Quang S sử dụng Zalo nhóm
“A Núi 1”, “A Núi 2” v “Nhóm A .O” nhận chung số lô, số đề. Trong đó các số lô, đề Ngô Văn B chuyển v o Zalo nhóm “A Núi 1” với tổng số tiền đánh bạc theo thỏa thuận l : 12.693.000 vnđ. Vũ Ngọc H chuyển v o Zalo nhóm “A Núi 2”các số lô, đề với số tiền đánh bạc theo thỏa thuận l : 89.376.000 vnđ. Các số lô, đề Nguyễn Tu n A tự đánh chuyển v o Zalo nhóm “Nhóm A.O”có số tiền đánh bạc l : 37.530.000 vnđ. Như vậy ng y 20/4/2021, tổng số tiền S, T tổ chức đánh bạc l 139.599.000 vnđ (Một trăm ba mươi chín triệu, năm trăm chín mươi chín nghìn đồng).
Riêng Dương Quang S khai: Ngày 15/4/2021 sau khi nhận các số lô, đề của
các thư ký S tự ý chuyển 5 số đề: 99, 66, 01, 10, 95 cho K. S không nói cho T biết việc mua bán số lô đề giữa S với K vì vậy Dương Quang S phải chịu trách nhiệm hình sự về h nh vi tổ chức đánh bạc với K v o ng y 15/4/2021 với tổng số tiền l 32.532.500 đồng.
Tại cơ quan điều tra, các bị cáo đã th nh khẩn khai nhận to n bộ h nh vi
phạm tội như đã nêu trên.
Quá trình điều tra, xác minh, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Bắc
Ninh không chứng minh được các số đề S nhận ng y 15/4/2021, sau đó chuyển cho K l của thư ký n o. Các số lô, số đề, tiền đánh lô, đề m S và T nhận những ng y khác đã bị các bị cáo xóa bỏ dữ liệu vì vậy Cơ quan Cảnh sát điều tra (PC02) Công an tỉnh Bắc Ninh chưa có cơ sở xác minh l m rõ.
Đối với những người mua số lô, số đề thì các thư ký đề đều khai không nhớ
cụ thể l những ai, ở đâu vì khi bán số thì thư ký đề đều ghi cáp đưa cho người mua số;
Với nội dung trên, Cáo trạng số: 109/CTr–VKS-P2 ng y 17/09/2021 của
Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh truy tố Dương Quang S, Lê Văn T, Vũ Ngọc H, Vũ Trung K về tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm c, khoản 1, Điều 322 Bộ luật Hình sự; Truy tố Nguyễn Tu n A, Ngô Văn B về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1, Điều 321 Bộ luật Hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 99/2021/HS-ST ngày 09 tháng 12 năm 2021
của Tòa án nhân dân huyện Thuận th nh, tỉnh Bắc Ninh đã xét xử v tuyên bố các bị cáo Dương Quang S, Lê Văn T, Vũ Ngọc H, Vũ Trung K phạm tội “Tổ chức đánh bạc”. Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tu n A, Ngô Văn B phạm tội “Đánh bạc”.
1. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm r, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Dương Quang S 24 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ng y bắt thi h nh án. Phạt bị cáo 25.000.000đ sung quỹ nh nước.
2. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Văn T 23 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ng y bắt thi h nh án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ 18/06/2021 đến 24/06/2021. Phạt bị cáo 25.000.000đ sung quỹ nh nước.
3. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Vũ Trung K 15 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ng y bắt thi h nh án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ 25/04/2021 đến 28/04/2021. Phạt bị cáo 20.000.000đ sung quỹ nh nước.
Ngoài ra, Tòa án c p sơ thẩm còn quyết định về tội danh v hình phạt đối
với các bị cáo Vũ Ngọc H, Nguyễn Tu n A, Ngô Văn B, tuyên xử lý vật chứng, án phí v quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Trong các ngày 20, 21/12/2021 lần lượt các bị cáo Lê Văn T, Dương
Quang S, Vũ Trung K đều kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay các bị cáo Lê Văn T, Dương Quang S,
Vũ Trung K vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo và thừa nhận h nh vi “Tổ chức đánh bạc” như nội dung bản án sơ thẩm đã nêu. Các bị cáo thừa nhận bản án sơ thẩm xét xử các bị cáo về tội “Tổ chức đánh bạc” l không oan. Tuy nhiên các bị cáo đều cho rằng bản án sơ thẩm tuyên phạt các bị cáo mức hình phạt như vậy l nặng. Bị cáo S, T trình b y các bị cáo đã nhận thức được h nh vi phạm tội của mình nên trong thời gian chờ xét xử phúc thẩm bị cáo S, T đã đến Chi cục thi h nh án dân sự huyện Thuận Th nh nộp số tiền phạt theo bản án sơ thẩm đã tuyên trong đó bị cáo S đã nộp đủ số tiền phạt l 25.000.000 đồng; bị cáo T đã nộp 20.200.000 đồng. Vì vậy cả ba bị cáo S, T, K đều đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Ninh thực h nh quyền công tố tại
phiên tòa, sau khi nhận xét vụ án v phân tích h nh vi phạm tội, đánh giá nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của từng bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự: Ch p nhận kháng cáo của các bị cáo, Sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo từ 03 tháng đến 06 tháng tù.
Các bị cáo không tham gia tranh luận với Kiểm sát viên m chỉ đề nghị
xem xét xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ v o các t i liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về h nh vi, quyết định tố tụng: C p sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm
quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Đơn kháng cáo của các bị cáo gửi trong hạn luật định, được xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
. Về tội danh: Xem xét lời khai nhận tội của các bị cáo S, T, K tại phiên
tòa hôm nay ho n to n phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra v tại phiên tòa sơ thẩm, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án cùng vật chứng thu giữ, do vậy đã có đủ cơ sở kết luận Dương Quang S, Lê Văn T b n bạc thống nh t cùng lợi dụng kết quả xổ số kiến thiết Miền Bắc mở thưởng h ng ng y để tổ chức đánh bạc bằng hình thức lô, đề. Sau đó T lập 3 nhóm zalo: “A Núi 1”, “A Núi 2”v “A.0” để các thư ký chuyển số đề, số lô v o nhóm cho S, T. S thỏa thuận với Vũ Ngọc H và Ngô Văn B, còn Lê Văn T thỏa thuận với Nguyễn Tu n A l m thư ký ghi (bán) các số "lô", số "đề" cho người chơi rồi chuyển cho S, T. Ng y 20/4/2021 Vũ Ngọc H bán các số lô, đề được 92.911.200 vnđ; Ngô Văn B bán các số lô, đề được 13.560.000 vnđ. Sau đó H và B sử dụng t i khoản zalo chuyển to n bộ số liệu đánh bạc v o nhóm zalo mà H, B là thành viên. Theo thỏa thuận giữa S với H, B thì số tiền mua bán số lô, số đề ng y 20/4/2021 giữa S với H là 89.376.000 vnđ, số tiền mua, bán số lô, số đề giữa S với B là 12.693.000 vnđ. Nguyễn Tu n A tuy nhận l m thư ký đề cho T nhưng ng y 20/4/2021 Tu n A không bán số lô, đề cho ai mà sử dụng t i khoản zalo “Tu n A” tự gửi đánh các số lô, đề với số tiền 37.530.000 vnđ vào nhóm “A.0” để đánh bạc với T. Như vậy tổng số tiền S, T tổ chức đánh bạc ng y 20/4/2021 l 139.599.000 đồng.
Ngo i ra, ng y 15/4/2021 sau khi nhận các số lô, đề của thư ký đề thì S còn
một mình chuyển 5 số đề bằng tin nhắn SMS cho Vũ Trung K. K biết S l chủ đề nên đồng ý nhận các số đề do S nhắn tin SMS đến với số tiền theo thỏa thuận là 32.532.500 vnđ. Do vậy h nh vi của các bị cáo Dương Quang S, Lê Văn T, Vũ Trung K đã phạm tội “Tổ chức đánh bạc” theo điểm c khoản 1 Điều 322 Bộ luật hình sự. Tòa án c p sơ thẩm đã xét xử đối với các bị cáo l đúng người, đúng tội, không oan.
.H nh vi phạm tội của các bị cáo l nguy hiểm cho xã hội, không những
gây m t trật tự trị an trên địa b n m còn trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng. Đây l một trong những tệ nạn xã hội thường l nguyên nhân dẫn đến các tội phạm khác, do vậy việc đưa ra xét xử đối với các bị cáo l nhằm giáo dục riêng v phòng ngừa chung.
. Xem xét nội dung kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt của các bị
cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm th y:
Khi quyết định hình phạt c p sơ thẩm đã xem xét vai trò, đánh giá mức độ,
tính ch t, h nh vi nguy hiểm của từng bị cáo đối với xã hội đồng thời xem đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ v nhân thân của các bị cáo Dương Quang S, Lê Văn T v Vũ Trung K đều có nhân thân x u, đã từng phạm tội hoặc bị xử phạt h nh chính. Đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho các bị cáo như có thái độ th nh khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.Bị cáo Dương Quang S nhận thức được lỗi lầm nên đến Cơ quan Công an tự thú về h nh vi phạm tội nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Các bị cáo Lê Văn T, Vũ Trung K đều có hành vi đầu thú; Vũ Trung K tự
nguyện nộp to n bộ số tiền sử dụng đánh bạc, tổ chức đánh bạc để bảo đảm việc thi h nh án; bị cáo Dương Quang S có ông nội được tặng thưởng huân chương chiến thắng; bị cáo Vũ Trung K có bố đẻ được Nh nước tặng thưởng Huân chương chiến sỹ giải phóng hạng nhì, Huy chương kháng chiến hạng nhì v bị suy giảm 81% sức khỏe do bị nhiễm ch t độc hóa học trong kháng chiến. Vì vậy đã cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Tòa án c p sơ thẩm xác định bị
cáo S tổ chức đánh bạc v o hai ng y 15/4/2021 v 20/4/2021 nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo Lê Văn T có 01 tiền án về tội “Cướp t i sản” chưa được xóa, nên bị
áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự.
Từ đó Tòa án c p sơ thẩm áp dụng loại hình phạt tù có thời hạn để buộc
các bị cáo S, T, K phải cách ly với đời sống xã hội một thời gian l đúng quy định pháp luật, tuy nhiên mức hình phạt m c p sơ thẩm đã áp dụng đối với các bị cáo l có phần nghiêm khắc. Tại giai đoạn xét xử phúc thẩm bị cáo S, T có thêm tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự do S đã tự nguyện nộp 25.000.000đ tiền phạt v T đã tự nguyện nộp 20.200.000 đồng.
Vì vậy căn cứ v o tính ch t h nh vi, cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm
nhẹ của các bị cáo S, T, K. Hội đồng xét xử phúc thẩm th y cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo. Do vậy xét th y cần ch p nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo S, T, K, sửa bản án sơ thẩm theo hướng giảm nhẹ một phần hình phạt chính cho các bị cáo.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Các bị cáo S, T, K không phải chịu án phí
hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1.Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố
tụng hình sự;
Ch p nhận kháng cáo của các bị cáo Dương Quang S, Lê Văn T, Vũ
Trung K. Sửa bản án hình sự sơ thẩm số 99/2021/HSST ng y 09/12/2021 của Tòa án nhân dân huyện Thuận Th nh, tỉnh Bắc Ninh.
Tuyên bố các bị cáo Dương Quang S, Lê Văn T, Vũ Trung K phạm tội “Tổ
chức đánh bạc”;
1.1.Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm r, s khoản 1, khoản 2
Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Dương Quang S 17 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ng y bắt thi h nh án. Phạt bổ sung bị cáo S 25.000.000 đồng sung Ngân sách nh nước. Xác nhận bị cáo đã nộp đủ 25.000.000 đồng tiền phạt bổ sung theo biên lai thu tiền số 0004129 ng y 21/4/2022 của Chi cục thi h nh án dân sự huyện Thuận Thành.
1.2. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Lê Văn T 16 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ng y bắt thi h nh án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 18/06/2021 đến ngày 24/06/2021. Phạt bổ sung bị cáo T 25.000.000 đồng sung Ngân sách nh nước. Xác nhận bị cáo T đã nộp 20.200.000 đồng tiền phạt bổ sung theo biên lai thu tiền số 0004128 ng y 19/4/2022 của Chi cục thi h nh án dân sự huyện Thuận Th nh.
1.3. Áp dụng điểm c khoản 1, khoản 3 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2
Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt: Vũ Trung K 12 tháng tù về tội “Tổ chức đánh bạc”. Thời hạn tù tính từ ng y bắt thi h nh án, được trừ đi thời gian tạm giữ từ ngày 25/04/2021 đến ngày 28/04/2021. Phạt bổ sung bị cáo K 20.000.000 đồng sung Ngân sách nh nước.
2. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị
tiếp tục có hiệu lực pháp luật kể từ ng y hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
3.Các bị cáo Dương Quang S, Lê Văn T, Vũ Trung K không phải chịu án
phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ng y tuyên án. Nơi nhận:
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND tỉnh Bắc Ninh;
- Phòng PC 10 - Công an tỉnh Bắc Ninh;
- Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; -CQCSĐT;VKS;TAND; Chi cục THADS huyện Thuận Thành;
- Bị cáo;
Hoàng Tuấn Anh
- Lưu HS, VP TÒA ÁN NHÂN DÂN
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TỈNH BẮC NINH
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc Số: /2021/HSPT- QĐBTG
Bắc Ninh, ngày 09 tháng 9 năm 2021.
QUYẾT ĐỊNH BẮT, TẠM GIAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẮC NINH
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Tu n Anh
Thẩm phán: B Nghiêm Thị Lượng
Ông Nguyễn Hữu Hòa
Căn cứ v o các Điều 109, 113, 119 và 347 của Bộ luật tố tụng hình sự;
Căn cứ v o Biên bản nghị án ng y 09 tháng 9 năm 2021 của Hội đồng xét
xử phúc thẩm;
Xét th y cần thiết bắt, tạm giam bị cáo để đảm bảo thi h nh án;
QUYẾT ĐỊNH:
Điều 1
Bắt, tạm giam bị cáo: Nguyễn Văn Hưởng, sinh năm 1982.
Nơi cư trú: Thôn Chi Long, xã Long Châu, huyện Yên Phong, tỉnh Bắc
Ninh; Nghề nghiệp: Lao động tự do
Bị Tòa án c p phúc thẩm xử phạt 08 tháng tù về tội “Đánh bạc” theo khoản
1 Điều 321 Bộ luật hình sự.
Thời hạn tạm giam l : 45 (bốn mươi lăm) ng y kể từ ng y tuyên án.
Điều 2
Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh có trách nhiệm thi h nh Quyết định
này.
| Nơi nhận: - Trại tạm giam công an tỉnh Bắc THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ninh; - VKSND tỉnh Bắc Ninh; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hoàng Tuấn Anh |