- Tranh chấp gì? Tranh chấp giữa cá nhân với cá nhân về quốc tịch Việt Nam — án dân sự — "Trần Nguyễn Trinh Ngân"
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 288 Bộ luật Dân sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| - 1 - TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LAGI TỈNH BÌNH THUẬN Bản án số: 13/2022/DS-ST Ngày: 20/5/2022 V/v: “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT N
TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ L
Thành phần HĐXX sơ thẩm gồm có
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Tạ Liễu
Các Hội Thẩm Nhân Dân: Ông Võ Thanh Đức và bà Hoàng Thị Tường Duy
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Thịnh - Thư ký Tòa án.
Đại diện viện kiểm sát nhân dân thị xã LaGi tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Xuân
- Kiểm sát viên.
Trong ngày 20/5/2022, tại trụ sở TAND thị xã LaGi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự đã thụ lý số : 112/2021/TLST-DS ngày 23 tháng 11 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản ” Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2022/QĐXXST-DS ngày 21/3/2022 và quyết định hoãn phiên tòa số 07/2022/QĐST-DS ngày 21/4/2022 giữa các đương sự:
*Nguyên đơn Bà Trần Nguyễn Trinh Ng, sinh năm 1976,
Địa chỉ Khu phố 3, phường Phước Lộc, thị xã Lagi.
*Bị đơn: Ông Đoàn L1, bà Phùng Thị Xuân N, sinh năm 1961 ( vắng mặt)
Địa chỉ: khu phố 1, phường Tân Thiện, thị xã Lagi
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 06/7/2021 và tại phiên Tòa nguyên đơn bà Trần Nguyễn Trinh Ng trình bày:
Xuất phát từ quen biết, ngày 3/3/2018 bà có cho vợ chồng ông L1, bà N vay 800.000.000 đồng, trong đó khoảng vay 300 triệu là tiền đứng, khoảng vay 500 triệu là tiền góp trong thời hạn 100 ngày kể từ ngày vay. Việc thoả thuận vay tiền thể hiện bằng giấy viết tay có chữ ký của ông L1 bà N vào ngày 03/3/2018.
Ngày 14/4/2021 bà đã có thông báo v/v yêu cầu trả nợ gửi cho ông L1 và bà N để yêu cầu ông L1, bà N phải hoàn trả sồ tiền trên trong thời hạn từ ngày 15/4/2021 đến ngày 15/5/2021. Thông báo đòi nợ của bà được Văn phòng Thừa phát lại Lagi lập vi bằng số 46/2021/VB-TPLLG xác nhận sự kiện pháp lý nêu trên.
- 2 -
Đến nay đã hết thời hạn thông báo đòi nợ nhưng ông L1, bà N vẫn không trả nợ cho bà, vì vậy nay bà yêu cầu Toà án buộc ông L1, bà N phải trả lại cho bà số tiền 800.000.000 đồng bà không yêu cầu lãi suất.
Bị đơn ông Đoàn L1 và bà Phùng Thị Xuân N đã được Toà án triệu tập và niêm yết hợp lệ tất cả các văn bản tố tụng nhưng không đến phiên toà và không có văn bản nêu ý kiến gửi cho Toà án.
Đại diện VKSND thị xã Lagi tham gia phiên tòa phát biểu:
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa HĐXX, những người tiến hành tố tụng đã tuân thủ đúng và đầy đủ trình tự thủ tục tố tụng, những người tham gia tố tụng nguyên đơn đã chấp hành đúng các quy định. Bị đơn đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng không đến phiên tòa do đó đề nghị Tòa án đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.
Về nội dung: Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn và tại phiên toà thì hiện nay vợ chồng bị đơn còn nợ của nguyên đơn số tiền vay là 800 triệu đồng.
Căn cứ vào giấy vay nợ có chữ ký của ông L1, bà N vào ngày 03/3/2018 được bà Ng xuất trình cho thấy, việc yêu cầu của bà Ng buộc ông L1, bà N hoàn trả nợ cho nguyên đơn 800 triệu là có cơ sở chấp nhận do đó đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
Về án phí, đương sự phải chịu án phí theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN;
Căn cứ vào các tài liệu chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của đương sự, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Lagi tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy;
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn kiện bị đơn yêu cầu bị đơn hoàn trả tiền vay là 800.000.000 đồng, đây là tranh chấp dân sự “ Hợp đồng vay tài sản” nên Toà án thụ lý giải quyết là đúng. Bị đơn có địa chỉ tại, thị xã Lagi nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Lagi theo quy định tại Điều 26, 35 và 39 của Bộ luật dân sự năm 2015. Bị đơn đã được Tòa án niêm yết hợp lệ các văn bản tố tụng trong đó có quyết định đưa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn phiên tòa nhưng bị đơn vẫn vắng mặt nên đã từ bỏ các quyền và nghĩa vụ của mình vì vậy Tòa án cần đưa vụ án ra xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Căn cứ lời khai của nguyên đơn tại phiên toà, căn cứ giấy vay nợ lập ngày 03/3/2018 có chữ ký của ông L1, bà N cho thấy. Trong ngày 03/3/2018 ông Đoàn L1 và bà Phùng Thị Xuân N có vay của bà Trần Nguyễn Trinh Ng 800.000.0000 đồng, trong đó 300 triệu là tiền đứng và 500 triệu là tiền góp trong thời hạn 100 ngày kể từ ngày mượn.
Đây là hợp đồng vay không thời hạn và không có lãi. Căn cứ Điều 469 Bộ Luật dân sự thì nguyên đơn có quyền đòi nợ lại bất cứ lúc nào sau khi đã thông báo đòi nợ gửi cho bị đơn. Ngày 14/4/2021 nguyên đơn đã có thông báo v/v yêu cầu trả nợ gửi cho ông L1 và bà N để yêu cầu ông L1, bà N phải hoàn trả sồ tiền trên trong thời hạn từ ngày 15/4/2021 đến ngày 15/5/2021. Thông báo đòi nợ của bà Ng được Văn phòng Thừa phát lại Lagi lập vi bằng số 46/2021/VB-TPLLG xác nhận sự kiện pháp lý nêu trên. Tuy nhiên đến nay đã hết thời hạn thông báo đòi nợ nhưng vợ chồng ông L1, bà N vẫn không trả nợ. Căn cứ Điều 466 Bộ luật
- 3 -
dân sự thì bị đơn đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên hiện nay nguyên đơn yêu cầu buộc bị đơn trả nợ là có căn cứ do đó HĐXX cần chấp nhận.
Về án phí, đương sự phải chịu theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH;
Căn cứ: Các Điều 26, 35, 39, 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Điều 288, 463,465,466,469, Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 37 Luật Hôn nhân và Gia đình; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016.
1. Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trần Nguyễn Trinh Ng
Buộc ông Đoàn L1, bà Phùng Thị Xuân N phải có nghĩa vụ liên đới hoàn trả cho bà Trần Nguyễn Trinh Ng số tiền 800.000.000 đồng ( tám trăm triệu đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
2. Về án phí: Ông Đoàn L1, bà Phùng Thị Xuân N phải chịu 36.000.000 đồng án phí DSST.
Hoàn lại cho bà Trần Nguyễn Trinh Ng 18.000.000 đồng tiền tạm ứng theo biên lai thu số 0004656 ngày 19/11/2021 của Chi cục thi hành án dân sự thị xã Lagi.
Án xử công khai, báo cho các đương sự có mặt biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.
Án có hiệu lực theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7,9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Thuận; - VKSND thị xã Lagi; - Chi cục thị xã Lagi; - Đương sự;- Lưu VT, hồ sơ vụ án - 4 - | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Tạ Liễu |