vanban.org

Bản án 13/2021/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Trà Vinh Tuyên án 07/04/2021 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 07/04/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo c a bị cáo Lâm Văn T.

Giữ nguyên bản án hình sự s thẩm số: 05/2021/HS-ST ngày 20/01/2021 c a Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh T. Tuyên bố bị cáo: Lâm Văn T phạm tội “ Tổ chức đánh bạc”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc (điều 322 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo c a bị cáo Lâm Văn T.
  • Căn cứ chính? Điều 38 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 322 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TRÀ VINH
___________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:13/2021/HS-PT
Ngày: 07- 4-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH

Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trịnh Minh T

Các Thẩm phán:

Ông Nguyễn Văn T

Ông Ngô Đ

Thư ký phiên tòa: Ông Phan V L, là Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh H - Kiểm sát viên.

Ngày 07 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh tiến hành xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 07/2021/TLPT-HS ngày 24 tháng 02 năm 2021 đối với bị cáo Lâm Văn T do c kháng cáo c a bị cáo Lâm Văn T đối với Bản án hình sự s thẩm số: 05/2021/HS-ST ngày 20 tháng 01 năm 2021 c a Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh T.

Bị cáo có kháng cáo:

Lâm Văn T (tên gọi khác: Đ), sinh năm 1957 tại tỉnh T. N i cư trú: ấp C, xã H, huyện T, tỉnh T; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn h a: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trầm Yến Đ (chết) và bà Lâm Thị H (chết); c vợ Trầm Thị T, sinh năm 1960 và 03 người con, lớn nhất sinh năm 1987, nhỏ nhất sinh năm 1993; tiền án: C 01 tiền án, bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt số tiền 20.000.000 đồng về tội đánh bạc theo Bản án hình sự s thẩm số: 55/2018/HSST ngày 12/11/2018; tiền sự: không; nhân thân: xấu; bị cáo bị khởi tố ngày 13/10/2020 và bị cấm đi khỏi n i cư trú cho đến nay (c mặt).

Người bào chữa cho bị cáo Lâm Văn T: Ông Lưu Văn Đ là Luật sư Văn phòng luật sư Nguyễn Thy- HG, thuộc đoàn luật sư tỉnh H (c mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:Vào khoảng 17 giờ ngày 20/8/2020, tại quán nước giải khát c a bị cáo Lâm Văn T c nhiều người (không biết tên và địa chỉ) đến ch i game bắn cá và uống nước. Sau đ , cùng nhau bàn bạc chuyển sang đánh bạc thắng thua bằng tiền với hình thức ch i lắc bầu cua nhưng do không c người đứng ra làm cái nên những người trên muốn tìm người làm nhà cái để đánh bạc. Lúc này, bị cáo T nghe được liền sử dụng điện thoại di động c a bị cáo nhãn hiệu VIVO, màu vàng đồng, loại cảm ứng đang gắn sim số 0376885420 gọi cho anh Giang Hữu L (tên gọi khác T) qua số thuê bao 0966194199, bị cáo hỏi „„T i tụi n muốn ch i bầu cua c ở không thì qua lắc bầu cua cho tụi n ch i”, anh L trả lời “một lát con ăn c m xong thì con chạy qua”.

Khoảng 20 phút sau, anh L điều khiển xe mô tô đến nhà c a bị cáo, khi anh L vừa đến thì bị cáo T đem ra dụng cụ đánh bạc mà bị cáo đã chuẩn bị sẳn từ trước gồm: 01 cái khây và 01 nấp xoan, nhưng chưa c bộ bầu cua. Sau đ bị cáo đi bộ đến tiệm tạp h a c a ông Châu Phước D mua một bộ bầu cua và một tấm giấy c hình tư ng ứng với các hột bầu cua. Sau khi mua được bộ bầu cua, bị cáo đem về đưa cho anh L thì anh L cùng các đối tượng đi ra nhà sau c a bị cáo để làm nhà cái cho các đối tượng tham gia đánh bạc dưới hình thức lắc bầu cua thắng thua bằng tiền. Theo quy định ch i mở mỗi bàn cao nhất là 60.000 đồng, thấp nhất là 10.000 đồng. Các đối tượng tham gia đánh bạc từ khoảng 20 giờ 45 phút đến 21 giờ 15 phút cùng ngày thì bị lực lượng Công an xã H đến kiểm tra và phát hiện mời bị cáo, anh Giang Hữu L, anh Nhan Trúc P, anh Thạch Văn D, anh Thạch Đ, anh Thang Văn H, anh Thạch T về c quan Công an làm việc, riêng một số đối tượng khác đã bỏ chạy.

Quá trình điều tra, bị cáo và các đối tượng đã thừa nhận toàn bộ hành vi đánh bạc như sau: Bị cáo Lâm Văn T là ch nhà không tham gia đánh bạc nhưng là người trực tiếp r rê, lôi kéo, tụ tập, chuẩn bị dụng cụ và nhà ở để cho các đối tượng khác tham gia đánh bạc trái phép nhằm mục đích để buôn bán tăng thêm thu nhập; anh Giang Hữu L sử dụng số tiền 200.000 đồng để làm nhà cái, kết quả thắng được số tiền 20.000 đồng; anh Nhan Trúc P sử dụng số tiền 20.000 đồng để tham gia đánh bạc, kết quả không thắng không thua; anh Thạch Văn D sử dụng số tiền 200.000 đồng để tham gia đánh bạc, kết quả thua số tiền 25.000 đồng; anh Thang Văn H sử dụng số tiền 106.000 đồng để tham gia đánh bạc, kết quả không thắng không thua; anh Thạch T sử dụng số tiền 200.000 đồng để tham gia đánh bạc, kết quả không thắng không thua; anh Thạch Đ sử dụng số tiền 20.000 đồng để tham gia đánh bạc, kết quả thua hết số tiền trên. Tổng số tiền mà các đối tượng sử dụng để đánh bạc là 721.000 đồng.

Riêng bị cáo Lâm Văn T có 01 tiền án, bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt số tiền 20.000.000 đồng về tội đánh bạc theo Bản án số: 55/2018/HSST ngày 12/11/2018 (chưa x a tiền án).

Ngày 18/9/2020, C quan Cảnh sát điều tra ra Quyết định tạm giữ dụng cụ dùng để đánh bạc gồm 01 miếng kim loại màu trắng hình tròn, c chiều rộng 23,5cm, 01 cái hộp tròn bằng nhựa màu đỏ c quấn băng keo màu đen, c chiều cao 11cm và chiều rộng 17,5cm, 03 (ba) hột bầu cua và 01 (một) bàn bầu cua bằng giấy c in hình tư ng ứng với hột bầu cua; 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu VIVO, màu vàng đồng, loại cảm ứng, bên trong c gắn sim số 0376885420 đã qua sử dụng từ bị cáo T.

Đối với anh Giang Hữu L, anh Nhan Trúc P, anh Thạch Văn D, anh Thang Văn H, anh Thạch T và anh Thạch Đ tham gia đánh bạc với số tiền dưới 5.000.000 đồng nhưng chưa c tiền án, tiền sự về hành vi đánh bạc, tổ chức đánh bạc hoặc gá bạc. Do đ , hành vi c a các đối tượng trên chỉ vi phạm về hành chính nên Công an xã H, huyện T, tỉnh Trà Vinh đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính mỗi đối tượng số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép. Đồng thời, tịch thu số tiền c a anh L 220.000 đồng, anh Phong số tiền 20.000 đồng, anh D số tiền 175.000 đồng, anh H số tiền 106.000 đồng và anh T số tiền là 200.000 đồng giao nộp cho Kho bạc huyện T, tỉnh Trà Vinh.

Tại bản án hình sự s thẩm số: 05/2021/HS-ST ngày 20/01/2021 c a Tòa án

nhân dân huyện T, tỉnh Trà Vinh đã quyết định:

Căn cứ vào điểm đ khoản 1 Điều 322, điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tuyên bố: Bị cáo Lâm Văn T phạm tội “Tổ chức đánh bạc”.

Xử phạt bị cáo Lâm Văn T 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày đi chấp hành án

Ngoài ra bản án s thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và dành quyền kháng cáo theo quy định c a pháp luật.

Ngày 01/02/2021, bị cáo Lâm Văn T kháng cáo bản án hình sự s thẩm xin hưởng án treo.

Quan điểm c a Vị Kiểm sát viên: Qua lời trình bày và tranh luận tại phiên tòa xét thấy bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội c a bị cáo đúng như nội dung án s thẩm mô tả. Do đ , án s thẩm xét xử bị cáo Lâm Văn T tội “Tổ chức đánh bạc” theo quy định tại điểm đ khoản 1 Điều 322 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 là đúng người, đúng tội. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo chỉ kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt và xin cho bị cáo hưởng án treo. Xét thấy bị cáo đã c 01 tiền án về hành vi “Đánh bạc”, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh T xử phạt hình phạt chính 20.000.000 đồng xem là bị cáo c nhân thân xấu và khi lượng hình Tòa án cấp s thẩm c ng đã c xem xét toàn diện tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội c a bị cáo c ng như đã xem xét hết các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo, tại phiên tòa hôm nay bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới, đối chiếu với quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 thì bị cáo không đ điều kiện để được hưởng án treo. Do đ , kháng cáo c a bị cáo không c căn cứ chấp nhận. Đề nghị Hội đồng xét xử phúc thẩm áp dụng điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự không chấp nhận kháng cáo c a bị cáo Lâm Văn T, giữ nguyên án s thẩm.

Quan điểm c a Luật sư bào chữa cho bị cáo: Hành vi c a bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện T xét xử 01 năm tù về tội đánh bạc là đúng pháp luật. Tuy nhiên, vai trò c a bị cáo không tham gia đánh bạc, không thu tiền bạc bị cáo chỉ mục đích bán nước cho khách, bị cáo có tuổi, vợ bị cáo bệnh thường xuyên, con c a bị cáo làm ăn xa, gia đình gặp kh khăn, bị cáo đã ăn năn hối cải về hành vi bị cáo được quy định điểm s, khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 65 Bộ luật Hình sự, điểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự sửa án s thẩm cho bị cáo được hưởng án treo.

Lời n i sau cùng c a bị cáo Lâm Văn T: Xin Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên c sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ s vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Đ n kháng cáo c a bị cáo Lâm Văn T là trong hạn luật định nên được Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét theo th tục phúc thẩm.

Đối với yêu cầu kháng cáo c a bị cáo Lâm Văn T. Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo là người c đ năng lực chịu trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 12 Bộ luật Hình sự 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa hôm nay bị cáo khai nhận vào khoảng 17 giờ ngày 20/8/2020, bị cáo điện thoại r Giang Hữu L đến nhà bị cáo để làm cái lắc bầu cua cho các ông Nhan Trúc P, ông Thạch Văn D, ông Thang Văn H, ông Thạch T, ông Thạch Đ tham gia ch i lắc bầu cua ăn thua bằng tiền. Sau đ bị cáo đi bộ đến tiệm tạp h a c a ông Châu Phước D mua một bộ bầu cua và một tấm giấy c hình tư ng ứng với các hột bầu cua, bị cáo đem ra 01 cái khây và 01 cái xoan bị cáo đưa cho anh L thì anh L cùng với các đối tượng đi ra nhà sau c a bị cáo để làm nhà cái cho các đối tượng. Mục đích c a bị cáo dùng nhà c a mình để cho các đối tượng lắc bầu cua là để bị cáo buôn bán tăng thêm thu nhập chứ bị cáo không c tham gia đánh bạc. Lời khai nhận tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay với lời khai c a bị cáo, người làm chứng tại phiên toàn s thẩm là nhất quán nhau không thay đổi và lời khai c a bị cáo tại C quan điều tra là do bị cáo tự khai không bị ép buộc, xúi dục, dụ dỗ hay bị đánh đập như vậy c căn cứ xác định các lời khai c a bị cáo là hoàn toàn khách quan, trung thực và phù hợp với các lời khai c a những người làm chứng (BL 150; 151; 154; 155; 170; 171), phù hợp với tang vật chứng thu được. Do đ , Tòa án cấp s thẩm xét xử bị cáo tội “Tổ chức đánh bạc” là đúng quy định pháp luật.

Đối với kháng cáo xin hưởng án treo c a bị cáo: Hội đồng xét xử thấy rằng bị cáo c vai trò quan trọng, hành vi c a bị cáo lôi kéo theo các người khác trong vụ án vi phạm pháp luật. Án s thẩm cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội là đúng. Trong vụ án này, tuy tổng số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng, nhưng trước khi bị truy tố lần này bị cáo đã c 01 tiền án chưa được x a án tích với tội “Đánh bạc”. Xét thấy hành vi phạm tội c a bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo c nhân thân xấu đã c 01 tiền án về tội “Đánh bạc”, bị Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh T xử phạt hình phạt chính 20.000.000 đồng nhưng bị cáo không ăn năn hối cải, bị cáo vẫn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật về tội “Tổ chức đánh bạc”, chứng tỏ bị cáo coi thường pháp luật, vì vậy việc áp dụng hình phạt khác không phải là hình phạt tù đối với bị cáo là không c tác dụng, không đ sức giáo dục, răn đe, cảm h a đối với bị cáo trở thành công dân tốt c ích cho xã hội, do đ việc áp dụng hình phạt tù bị cáo là cần thiết. Tòa án cấp s thẩm xét xử tuyên phạt bị cáo 01 năm tù là đã xem xét đánh giá toàn diện tính chất vụ án và hành vi phạm tội c a bị cáo, bị cáo không đ điều kiện được hưởng án treo theo quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đ , Hội đồng xét xử giữ nguyên bản án hình sự s thẩm c a Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh T.

Đề nghị c a Viện kiểm sát xét xử phúc thẩm phù hợp với nhận định trên c a Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Đề nghị c a vị Luật sư bào chữa cho bị cáo Hội đồng xét xử c xem xét cân nhắc, tuy nhiên không c c s chấp nhận cho bị cáo được hưởng án treo.

Về án phí: Bị cáo Lâm Văn T phải nộp án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác c a bản án s thẩm không c kháng cáo, kháng nghị đã c hiệu lực pháp luật khi hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Vì các l trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt được hưởng án treo c a bị cáo Lâm Văn T.

Giữ nguyên bản án hình sự s thẩm số: 05/2021/HS-ST ngày 20/01/2021 c a Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh T.

Tuyên bố bị cáo: Lâm Văn T phạm tội “ Tổ chức đánh bạc”.

Căn cứ điểm đ khoản 1 Điều 322, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 c a Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Lâm Văn T 01 (một ) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về án phí: Bị cáo Lâm Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác c a bản án s thẩm không c kháng cáo, không bị kháng nghị đã c hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm c hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ