vanban.org

Bản án 13/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị V được ly hôn anh Lê Văn D.

Về con chung: Giao cho anh Lê Văn D được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Lê Thị X, sinh ngày 31-3-2004 và Lê Trí L, sinh ngày 30-11-2007 cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Chị Lê Thị V có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung với anh Lê Văn D 2.… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "ly hôn giữa chị V và anh D"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị V được ly hôn anh Lê Văn D.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN D
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 13/2020/HNGĐ-ST
Ngày 24-7-2020
V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi
ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN D - THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Văn Thắng

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Quang Thương

Ông Phạm Thanh Giản

- Thư ký phiên toà: Ông Phạm Ngọc Tiến - Thẩm tra viên Toà án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Ông Bùi Đình Lành - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 51/2020/TLST-HNGĐ ngày 26 tháng 5 năm 2020 về việc ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 382/2020/QĐXXST-HNGĐ ngày 30 tháng 6 năm 2020 và Quyết định hoãn phiên tòa số 435/2020/QĐST-HNGĐ ngày 15 tháng 7 năm 2020, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị V, nơi cư trú: Khu T, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; có mặt.

- Bị đơn: Anh Lê Văn D, nơi cư trú: Khu T, phường H, quận D, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình chuẩn bị xét xử, nguyên đơn là chị Lê Thị V trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Lê Văn D kết hôn trên cơ sở tự nguyện vào năm 2002, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã H, huyện Kiến Thụy (nay là phường H, quận D), thành phố Hải Phòng. Quá trình chung sống, vợ chồng sống hòa thuận đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do vợ chồng có nhiều bất đồng quan điểm trong tính cách và trong sinh hoạt gia đình. Vợ chồng không có sự tin tưởng nhau trong quan hệ tình cảm. Khi xảy ra mâu thuẫn, anh D còn có hành vi xúc phạm và không tôn trọng chị. Chị và anh D đã hòa giải với nhau nhiều lần nhưng không thành, mâu thuẫn ngày càng căng thẳng. Vợ chồng sống ly thân từ tháng 4-2020 đến nay. Nay, chị thấy tình cảm vợ chồng không còn nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn anh D.

Về con chung: Chị và anh D có 02 con chung là Lê Thị X, sinh ngày 31-3-2004 và Lê Trí L, sinh ngày 30-11-2007. Hiện tại hai con đang ở với anh D. Hiện tại chị đang phải đi thuê nhà trọ và chưa có điều kiện nuôi con nên chị đề nghị giao cả hai con cho anh D tiếp tục nuôi dưỡng. Về vấn đề cấp dưỡng nuôi con, chị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với anh D 2.000.000 đồng/tháng

Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu Toà án giải quyết.

Tại Biên bản lấy lời khai ngày 08-6-2020, bị đơn là anh Lê Văn D có trình bày nhưng không ký biên bản. Anh đề nghị Tòa án giải quyết theo đơn của chị V, anh không ký các văn bản cũng không lên Tòa án để giải quyết vì anh là người theo Đạo công giáo. Về con chung: Anh nhận nuôi cả hai con vì hai cháu đang ăn ở ổn định tại gia đình anh. Về tài sản chung, anh không đề nghị giải quyết.

Tòa án đã tiến hành xác minh về mâu thuẫn vợ chồng tại địa phương nơi chị V và anh D sinh sống, xác định: Hiện nay, chị V đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, anh D vẫn ăn ở sinh hoạt tại khu T, phường H, quận D. Quá trình chung sống, chị V và anh D có xảy ra mâu thuẫn nhiều lần. Gia đình anh D đã hòa giải nhiều lần nhưng vợ chồng vẫn không đoàn tụ được. Hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân. Chị V và anh D có 02 con chung, hiện tại đang ăn học ổn định tại gia đình anh D. Hai con chung là Lê Thị X và Lê Trí L cũng đơn thể hiện nguyện vọng được tiếp tục ở với anh D.

Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh D vắng mặt nên không tiến hành hòa giải được.

Tại phiên tòa, chị V vẫn giữ nguyên quan điểm đề nghị ly hôn anh. Về con chung, chị đề nghị giao cả hai con cho anh D tiếp tục nuôi dưỡng, chị có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con với anh D 2.000.000 đồng/tháng. Về tài sản: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng trong quá trình Tòa án giải quyết vụ án và ý kiến về việc giải quyết vụ án: Về quan hệ hôn nhân, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Cho chị V được ly hôn anh D. Về con chung: Chấp nhận đề nghị của chị V, giao cả hai con cho anh D tiếp nuôi con chung, chấp nhận sự tự nguyện của chị V có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con 2.000.000 đồng/tháng. Về tài sản chung vợ chồng, vợ chồng tự thỏa thuận, không yêu cầu giải quyết, nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra công khai tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về thủ tục tố tụng:

[1] Chị Lê Thị V có đơn đề nghị Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng giải quyết việc ly hôn với anh Lê Văn D cư trú tại phường H, quận D, thành phố Hải Phòng. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận D, thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử và tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng D vắng mặt tại phiên tòa lần thứ nhất không có lý do. Tòa án đã hoãn phiên tòa, ấn định thời gian mở lại phiên tòa lần thứ hai và tống đạt hợp lệ cho anh D nhưng tại phiên tòa hôm nay anh D vẫn vắng mặt. Căn cứ khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh D theo thủ tục chung.

- Về quan hệ hôn nhân:

Chị Lê Thị V và anh Lê Văn D xây dựng gia đình với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn theo quy định Luật Hôn nhân và Gia đình. Đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp, được pháp luật thừa nhận và bảo vệ. Sau khi kết hôn, cuộc sống chung của vợ chồng hoà thuận, hạnh phúc đến thời gian gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Quá trình xác minh thu thập chứng cứ tại nơi chị V và anh D cư trú có cơ sở xác định: Chị V và anh D có xảy ra mâu thuẫn từ nhiều năm nay, đến đầu năm 2020 thì mâu thuẫn căng thẳng. Bản thân chị V và anh D cùng gia đình hai bên đã hòa giải nhiều lần nhưng không thành. Hiện tại anh chị đã sống ly thân không còn quan tâm tới nhau. Chị V làm đơn ly hôn, anh D tuy không đồng ý ly hôn nhưng cũng không có giải pháp gì để vợ chồng hòa giải và đoàn tụ. Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng anh D đều vắng mặt nên không hòa giải được. Theo quy định tại Điều 19 của Luật hôn nhân và gia đình: "1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình. 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác". Như vậy, có thể thấy, quan hệ hôn nhân giữa chị V và anh D đã L vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, yêu cầu của chị V về việc xin ly hôn anh D là phù hợp với Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình nên cần chấp nhận.

- Về con chung:

Vợ chồng có 02 con chung là 02 con chung là Lê Thị X, sinh ngày 31-3-2004 và Lê Trí L, sinh ngày 30-11-2007. Chị V có đề nghị giao cả hai con cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử thấy, qua xác minh tại nơi anh D cư trú, theo đơn đề nghị của hai con chung thấy: Hiện tại hai con chung là Lê Thị X và Lê Trí L đang ăn ở, học tập, sinh hoạt ổn định tại gia đình anh D, các điều kiện nuôi dưỡng, giáo dục và chăm sóc các cháu đều đảm bảo. Anh D hiện tại có chỗ ở, công việc và thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi hai con. Yêu cầu của chị V về việc giao cả hai con chung cho anh D tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp với thực tế, đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp và nguyện vọng của con, phù hợp quy định tại các điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình. Vì vậy, cần giao con chung là Lê Thị X và Lê Trí L cho anh D tiếp tục nuôi dưỡng. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con: Quá trình giải quyết vụ án, chị V có đề nghị tự nguyện cấp dưỡng nuôi con với anh D 2.000.000 đồng/tháng (cấp dưỡng cho cháu Lê Thị X 1.000.000 đồng/tháng, cho cháu Lê Trí L 1.000.000 đồng/tháng) từ tháng 8-2020. Xét thấy, sự tự nguyện của chị V phù hợp với điều kiện thực tế và quy định pháp luật nên cần chấp nhận.

- Về tài sản chung:

Chị Lê Thị V và anh Lê Văn D tự thỏa thuận, không yêu cầu nên không đặt ra xem xét, giải quyết.

- Về án phí ly hôn sơ thẩm:

Chị Lê Thị V nguyên đơn trong vụ án ly hôn nên phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo:

Chị Lê Thị V và anh Lê Văn D có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 51, các điều 56, điều 81, điều 82, điều 83 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014; các điều 28, điều 35, điều 39, điều 147, điều 207, điều 227, điều 228 và điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Lê Thị V được ly hôn anh Lê Văn D.

2. Về con chung: Giao cho anh Lê Văn D được trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung là Lê Thị X, sinh ngày 31-3-2004 và Lê Trí L, sinh ngày 30-11-2007 cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Chị Lê Thị V có trách nhiệm cấp dưỡng nuôi con chung với anh Lê Văn D 2.000.000 (hai triệu) đồng/tháng; trong đó, cấp dưỡng cho cháu Lê Thị X 1000.000 (một triệu) đồng/tháng, cấp dưỡng cho cháu Lê Trí L 1000.000 (một triệu) đồng/tháng kể từ tháng 8-2020 đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định pháp luật.

Không ai được cản trở việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung sau ly hôn.

Khoản tiền cấp dưỡng nuôi con được thi hành ngay mặc dù có thể bị khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị; trường hợp chị Lê Thị V chậm thi hành khoản tiền nêu trên thì còn phải trả lãi đối với số tiền chưa thi hành tương ứng với thời gian chậm thi hành theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật Dân sự.

3. Về án phí ly hôn sơ thẩm: Chị Lê Thị V phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí về việc cấp dưỡng nuôi con, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí tòa án đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí Tòa án số AA/2014/0014373 ngày 26 tháng 5 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận D, thành phố Hải Phòng. Chị Lê Thị V còn phải nộp tiếp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí ly hôn sơ thẩm.

4. Về quyền kháng cáo: Chị Lê Thị V có mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Lê Văn D vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

5. Quyền yêu cầu thi hành án dân sự: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7a và 9 của Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ