vanban.org

Bản án 13/2018/KDTM-ST — Tranh chấp về cung ứng dịch vụ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về cung ứng dịch vụ — án kinh doanh thương mại — "Tranh chấp giao dịch gửi tiền"
  • Căn cứ chính? Luật Thanh tra; Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 116 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN HOÀN KIẾM TP HÀ NỘI
Bản án số:13/2018/KDTM-ST
Ngày: 24/10/2018
Về việc: Tranh chấp giao dịch tiền gửi

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HOÀN KIẾM, THÀNH PHỐ HÀ NỘI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Hà - Thẩm phán Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm Các Hội Thẩm nhân dân:Bà Trần Thị Yên Bái và Ông Nguyễn Đỗ Dụ. Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Mai - Thư ký Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 10 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Kinh doanh thương mại về “Tranh chấp giao dịch tiền gửi” thụ lý số 21/2018/TB-TLST ngày 16/5/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 12/2018/QĐXXST-KDTM ngày 04/10/2018 giữa:

*Nguyên đơn: Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS (Công ty HS). Trụ sở: Đường 80B, xã PX, huyện TT, thành phố Hà Nội. Người đại diện theo pháp luật: Ông Trần QD - Giám đốc.

- Bị đơn: Ngân hàng TMCP Q Việt Nam (QX hoặc Ngân hàng). Trụ sở: Tầng 1, tầng 6, tầng 7 Tòa nhà CS, 16 phố PT, phường PT, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn NV - Tổng Giám đốc.

Đã ủy quyền tham gia tố tụng cho: Bà Trần Thị TH - Giám đốc Trung tâm quản lý nợ Khách hàng cá nhân, Khối Quản trị rủi ro QX. Theo Giấy ủy quyền số 3.0141.17 ngày 16/01/2017.

Bà Trần Thị TH đã ủy quyền lại cho: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1979. Ông Nguyễn B B, sinh năm 1984. Bà Nguyễn Bích N, sinh năm 1988. Cùng là cán bộ Ngân hàng TMCP Q Việt Nam. Theo Giấy ủy quyền số 3,1209,18 ngày 29/5/2018. Địa chỉ liên hệ: Tầng 6, Tòa nhà CS, 16 phố PT, phường PT, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

- Ngƣời có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: 1. Bà Nguyễn Thị H. Sinh năm 1968. Nơi làm việc: Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS. Địa chỉ: Đường 80B, xã PX, huyện TT, thành phố Hà Nội.

2. Ông Trần VD, sinh năm 1967. Nơi cư trú: thôn 5 xã PX, huyện TT, thành phố Hà Nội.

* Người đại diện theo ủy quyền của Bà Nguyễn Thị H và Ông Trần VD theo Giấy ủy quyền đã được công chứng tại Văn phòng công chứng Quốc Dân ngày 18/7/2018: Ông Nguyễn Mạnh TH. Sinh năm 1976. Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp ngày 08/1/2016. Địa chỉ liên hệ: Số 23, LK13B, Khu đô thị VH, HĐ, Hà Nội.

- Ngƣời bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Luật sư Nguyễn ĐT.Văn phòng Luật sư TH. Đoàn Luật sư Hà Nội. Địa chỉ: Số 23, LK13B, Khu đô thị VH, HĐ, Hà Nội.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện ngày 27/4/2018 và quá trình tham gia tố tụng tại Tòa án, đại diện theo pháp luật của nguyên đơn - ông Trần QD trình bày như sau:

Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS mở tài khoản tại Ngân hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT, số tài khoản 0577040600xxxxx.

Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS là khách hàng thường xuyên thực hiện các hoạt động liên quan đến tài chính thông qua tài khoản tại phòng giao dịch TT.

Ngày 16/4/2018, bà Nguyễn Thị H - nhân viên kế toán của Công ty HS đến phòng giao dịch TT của QX thực hiện giao dịch cho tài khoản cá nhân của Giám đốc Công ty - ông Trần QD, bà H đã được giao dịch viên quầy là chị Nguyễn Thị PH T tư vấn về việc Công ty nên gửi tiết kiệm lãi suất cao hơn đối với số tiền trong tài khoản. Sau khi nghe tư vấn, bà H đã về báo cáo lãnh đạo Công ty, lãnh đạo Công ty đã họp và đồng ý việc rút số tiền nhàn rỗi hiện có trong tài khoản của Công ty là ba tỷ đồng, giao cho bà H các giấy tờ liên quan để bà H đến Ngân hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT thực hiện việc gửi tiết kiệm ngắn hạn cho Công ty nhằm lấy lãi tiết kiệm.

Sau đó, bà H đã quay lại quầy gặp giao dịch viên chị Nguyễn Thị PH T, trình các văn bản bao gồm “séc, chứng minh nhân dân Nguyễn Thị H”. Chị T đã tiến hành làm thủ tục gửi tiết kiệm và đưa cho bà H ba cuốn sổ tiết kiệm, mỗi cuốn sổ có trị giá 01 tỷ đồng, thời hạn gửi là một tháng kể từ ngày 16/4/2018.

Ba cuốn sổ có số QT 14419584, số QT 14419585 và số QT 14419586 mang tên bà Nguyễn Thị H, số CMT/HC 112157131, địa chỉ PX, TT, Hà Nội, bà H đã mang ba cuốn sổ tiết kiệm cá nhân mang về bàn giao cho kế toán trưởng của Công ty.

Khi đó ông B và bà Lê Thị Hồng T đều cho rằng 03 quyển sổ tiết kiệm số QT 14419584, số QT 14419585 và số QT 14419586 mang tên bà Nguyễn Thị H (là nhân viên công ty) cũng chính là tiền của công ty nên không có thắc mắc gì với Ngân hàng.

Ngày 24/4/2018, Công ty được biết QX đã phong tỏa số tiền trong 03 quyển sổ tiết kiệm số QT 14419584, số QT 14419585 và số QT 14419586 mang tên bà Nguyễn Thị H gửi tại QX chi nhánh TH phòng giao dịch TT.

Công ty biết sự việc này do bà H báo lại có nhận được 01 bản thông báo từ QX gửi theo đường mail cho QX chi nhánh TH phòng giao dịch TT chưa đóng dấu (Chị T là nhân viên tại Ngân Hàng tH mại cổ phần Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT báo cho bà H) về việc QX đã phong tỏa số tiền trong 03 quyển sổ tiết kiệm số QT 14419584, số QT 14419585 và số QT 14419586 mang tên bà Nguyễn Thị H gửi tại QX chi nhánh TH phòng giao dịch TT.

Ông B đã nhiều lần đến QX chi nhánh TH phòng giao dịch TT để làm việc trực tiếp với giám đốc là ông Phan Văn A và yêu cầu phía Ngân Hàng xóa bỏ phong tỏa số tiền trong 03 quyển sổ tiết kiệm nêu trên vì đây là tiền của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS chứ không phải tiền của bà Nguyễn Thị H tuy nhiên ông A trả lời sự việc này do Hội Sở Ngân hàng QX phong tỏa, chi nhánh phòng giao dịch TT không có thẩm quyền giải quyết. Các buổi làm việc giữa ông B và ông A không lập biên bản làm việc.

Ngày 27/4/2018, ông B có gửi Công văn đề ngày 27/4/2018 đến Phòng xử lý nợ khách hàng cá nhân miền bắc của QX và đến QX chi nhánh TH phòng giao dịch TT có nội dung khẳng định số tiền bị QX phong tỏa là tiền của công ty và đề nghị Ngân hàng giải tỏa để công ty thực hiện quyền sở hữu số tiền này.

Để giải quyết sự việc này nhằm đòi lại số tiền của Công ty đã bị QX phong tỏa, ông B đã ký hợp đồng dịch vụ pháp lý với Văn phòng luật sư TH, trụ sở tổ dân phố 4, phường La Khê, quận HĐ, Hà Nội.

Ngày 03/5/2018, Văn phòng Luật sư TH đã cử luật sư Nguyễn Mạnh TH và luật sư Nguyễn ĐT đến phòng giao dịch TT QX chi nhánh TH làm việc và lập biên bản sự việc nhằm làm sáng tỏ và giải quyết đòi lại số tiền cho công ty.

Sau ngày 24/4/2018, ông B có buổi làm việc với bà H nhân viên Công ty HS, bà H cho biết trước đây vợ chồng bà (ông Trần VD) có vay tín dụng của QX, đến nay còn nợ QX số tiền lớn chưa trả được.

Nguyên đơn đề nghị Tòa án giải quyết: Buộc Ngân hàng TMCP Q Việt Nam xóa bỏ phong tỏa số tiền trong 03 sổ tiết kiệm số QT 14419584, QT số 14419585 và số QT 14419586 mang tên bà Nguyễn Thị H gửi tại Ngân hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT, trả lại cho Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS số tiền 3.000.000.000 (Ba tỷ) đồng trong ba sổ tiết kiệm QT 14419584, QT số 14419585 và số QT 14419586 mang tên bà Nguyễn Thị H gửi tại Ngân hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT.

Theo nguyên đơn, căn cứ của yêu cầu khởi kiện yêu cầu ngân hàng xóa bỏ phong tỏa, trả lại số tiền 3.000.000.000 (Ba tỷ) đồng cho nguyên đơn vì số tiền này không thuộc sở hữu của bà Nguyễn Thị H mà là tài sản thuộc sở hữu của Công ty. Và việc Ngân hàng phong tỏa tài khoản số tiền trong 03 sổ tiết kiệm số QT 14419584, QT số 14419585 và số QT 14419586 mang tên bà Nguyễn Thị H gửi tại Ngân hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT là sai.

*Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đại diện theo ủy quyền của bị đơn có ý kiến tại Bản tự khai đề năm 2018 (không có ngày tháng) và ý kiến tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Trong giao dịch tiền gửi của 03 sổ tiết kiệm: QT 14419584; QT 14419585; QT 14419586 giữa QX và bà Nguyễn Thị H thì QX không có giao dịch nào liên quan đến Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS (Công ty HS) nên không phát sinh quyền và nghĩa vụ nào giữa QX với Công ty HS.

Vì vậy QX đề nghị Tòa án bác yêu cầu khởi kiện của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS đối với QX.

Việc Ngân hàng phong tỏa 03 sổ tiết kiệm là vì toàn bộ số tiền trong sổ đều đứng tên bà Nguyễn Thị H, Ngân hàng cho rằng bà H là chủ sở hữu số tiền tiết kiệm trong 03 sổ tiết kiệm: QT 14419584; QT 14419585; QT 14419586 và bà H hiện tại đang có một khoản nợ với Ngân hàng mà bà có nghĩa vụ phải thanh toán nên việc làm của Ngân hàng là đúng theo quy định của pháp luật. Ngân hàng không có nghĩa vụ phải trả lại số tiền trên cho bà H hay Công ty HS.

Ngân hàng QX có nhận được văn bản do QX phòng giao dịch TT gửi báo cáo là: Biên bản làm việc ngày 03/5/2018 giữa ông Phan Văn A - Giám đốc phòng giao dịch TT; bà Nguyễn Thị PH T - Giao dịch viên phòng giao dịch TT với ông Nguyễn Mạnh TH - Luật sư Phó trưởng văn phòng luật sư TH; ông Nguyễn ĐT - Luật sư văn phòng luật sư TH; Có sự chứng kiến của ông Quách B P - Cảnh sát khu vực xã Bình Phú.

*Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H và đại diện theo ủy quyền của bà H ông VD - ông Nguyễn Mạnh TH có ý kiến tại Bản tự khai đề ngày 25/5/2018, Đơn yêu cầu độc lập đề ngày 27/6/2018 và ý kiến tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Ngày 16/4/2018, theo yêu cầu của giám đốc Công ty HS, bà H có đến Ngân Hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT để nộp tiền trả góp chiếc xe ô tô tải KIA Bongo III cho Công ty HS (chiếc xe này Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS vay tiền của Ngân Hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT để mua). Sau khi nộp tiền trả góp chiếc xe ô tô xong, chị T là cán bộ tín dụng của Ngân Hàng tH mại cổ phần Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT đã tư vấn cho bà H là trong tài khoản công ty có nhiều tiền như thế nếu chưa cần dùng đến thì chuyển sang gửi tiết kiệm để được hưởng lãi suất cao hơn, sở dĩ chị T biết trong tài khoản của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS có tiền vì khoảng đầu tháng 4 năm 2018 bà H có đến Ngân Hàng rút tiền từ tài khoản của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS về để trả tiền hàng, tại thời điểm đó chị T cũng đã nói với bà H về việc rút tiền từ tài khoản của công ty ra để gửi tiết kiệm. Vì đây không phải là tiền của bà H mà là tiền của công ty nên bà H có nói với chị T rằng đây là tiền của công ty để trả tiền hàng, không có tiền để gửi tiết kiệm. Chị T có nói với bà H là cứ gửi đi mỗi tháng được hơn chục triệu, bà H có nói với chị T là khi công ty cần tiền thì có rút ra được không thì chị T có nói là rút ra bình thường nhưng không có lãi. Bà H có nói với chị T là để về báo cáo với giám đốc Công ty xem thế nào.

Bà H quay trở về Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS gặp giám đốc để báo cáo việc đã nộp xong tiền trả góp xe ô tô và có nói với giám đốc công ty là bà H thấy chị T là cán bộ tín dụng của Ngân Hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT nói nếu Công ty chưa cần dùng đến tiền trong tài khoản thì chuyển sang gửi tiết kiệm để được hưởng lãi suất cao hơn. Bà H thấy giám đốc Công ty đã gọi kế toán trưởng lên trao đổi một lúc rồi giám đốc công ty gọi bà H vào và nói với bà H đi rút số tiền 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) trong tài khoản của Công ty ra để chuyển sang gửi tiết kiệm và kế toán trưởng viết séc cho bà H đi rút tiền.

Bà H cầm séc của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS đến Ngân Hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT để rút tiền từ tài khoản của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS chuyển sang gửi tiết kiệm theo yêu cầu của giám đốc Công ty.

Khi đến Ngân Hàng, bà H gặp chị T và nói với chị T là làm thủ tục để bà H rút tiền từ tài khoản của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS bằng séc để chuyển sang gửi tiết kiệm cho Công ty. Bà H đưa séc và giấy chứng minh nhân dân cho chị T để làm thủ tục và ngồi chờ, chị T đã chủ động làm thủ tục rút tiền và tự lập sổ tiết kiệm, tất cả mọi việc trên chỉ diễn ra trên sổ sách chứng từ chứ bà H không hề được cầm tiền mặt. Khi chị T làm xong hồ sơ thì bảo bà H ký vào các giấy tờ, bà H ký xong chị T có đưa cho bà H 03 quyển sổ tiết kiệm số QT 14419584, số QT 14419585 và số QT 14419586 mang tên Nguyễn Thị H, mỗi quyển sổ tiết kiệm có số tiền gửi là 1.000.000.000 đồng (một tỷ đồng). Từ lúc bà H đưa séc và nói với chị T là làm thủ tục rút tiền từ tài khoản của Công ty để chuyển sang gửi tiết kiệm cho Công ty, chị T không hỏi hay tư vấn cho bà là nên làm như thế nào cho đúng với pháp luật mà chị T tự làm tất cả các thủ tục, tự làm 03 sổ tiết kiệm mang tên Nguyễn Thị H. Do thiếu hiểu biết về pháp luật và hoạt động Ngân hàng nên khi chị T đưa cho bà 03 quyển sổ tiết kiệm thì bà cầm sổ tiết kiệm về giao lại cho Công ty.

Ngày 24/4/2018, bà H được biết Ngân Hàng TMCP Q Việt Nam đã phong tỏa số tiền trong 03 quyển sổ tiết kiệm số QT 14419584, số QT 14419585 và số QT 14419586 mang tên Nguyễn Thị H gửi tại Ngân Hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT.

Bà H đã cùng với Giám đốc Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS đến Ngân Hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT để làm rõ sự việc và yêu cầu phía Ngân Hàng xóa bỏ phong tỏa số tiền trong 03 quyển sổ tiết kiệm nêu trên vì đây là tiền của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS chứ không phải tiền của cá nhân bà H. Tuy nhiên, đại diện Ngân Hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT đã từ chối giải quyết và nói rằng việc phong tỏa tiền trong 03 quyển sổ tiết kiệm của chị Nguyễn Thị H là do Trung tâm xử lý nợ Ngân Hàng TMCP Q Việt Nam thực hiện và việc xóa bỏ phong tỏa số tiền trong 03 quyển sổ tiết kiệm sẽ do Trung tâm xử lý nợ Ngân Hàng TMCP Q Việt Nam giải quyết.

Bà H đề nghị Tòa án xem xét đến nguồn gốc số tiền, nguyên nhân và lý do dẫn đến việc có 03 quyển sổ tiết kiệm mang tên cá nhân bà để xóa bỏ phong tỏa số tiền trong 03 quyển sổ tiết kiệm số QT 14419584, số QT 14419585 và số QT 14419586, trả lại tiền cho Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS.

Bà H trình bày giao dịch dân sự gửi tiền vào ngày 16/4/2018 có sự nhầm lẫn về chủ thể gửi tiền tiết kiệm giữa cá nhân và công ty, do đó ngày 27 tháng 6 năm 2018, bà đã nộp đơn yêu cầu độc lập đến Tòa án.

Bà H đề nghị Tòa án giải quyết tuyên hủy giao dịch dân sự giữa bà Nguyễn Thị H và Ngân hàng TMCP Q Việt Nam về số tiền gửi tiết kiệm số QT 14419584, QT số 14419585 và số QT 14419586 mang tên Nguyễn Thị H gửi tại Ngân hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT để trả lại số tiền 3.000.000.000 (Ba tỷ) đồng cho Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS.

Đại diện theo ủy quyền của bà H cho rằng về căn cứ, lý do cho yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn nguồn tiền là của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS chứ không phải của bà H.

Thực tế do chị T Giao dịch viên tại QX TT đã tư vấn cho bà H nói với Công ty gửi tiền nên bản chất chị T biết rõ số tiền này là số tiền của Công ty gửi tiết kiệm chứ không phải của bà H gửi tiết kiệm. Khi bà H mang các giấy tờ đến làm thủ tục gửi tiết kiệm cho Công ty, chị T mặc dù biết rõ đây là tiền của Công ty gửi tiết kiệm nhưng đã nhầm lẫn khi làm thủ tục gửi tiết kiệm mang tên bà Nguyễn Thị H.

Ngân hàng không có thẩm quyền để phong tỏa tài khoản của bà Nguyễn Thị H.

*Đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông Trần VD và đại diện theo ủy quyền của ông VD - ông Nguyễn Mạnh TH có ý kiến tại Đơn yêu cầu độc lập đề ngày 27/6/2018, Bản tự khai đề ngày 03/8/ 2018 và ý kiến tiếp theo trong quá trình giải quyết vụ án như sau:

Năm 2011, để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh, ông Trần VD và vợ là bà Nguyễn Thị H có vay của Ngân Hàng tH mại cổ phần Q Việt Nam số tiền là 3.500.000.000 đồng theo hợp đồng tín dụng số 016/HĐTD ngày 17/6/2011.

Để đảm bảo cho khoản vay này, vợ chồng ông Trần VD đã thế chấp hai bất động sản là quyền sử dụng 131 m2 đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 217, tờ bản đồ số 00 tại thôn Đồng vàng, xã PX, huyện TT theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AQ 083716 và quyền sử dụng 97 m2 đất và tài sản gắn liền với đất thuộc thửa số 02, tờ bản đồ số 15 tại thôn 6, xã PX, huyện TT theo giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AH 833102.

Do hoạt động sản xuất kinh doanh của vợ chồng ông Trần VD gặp khó khăn dẫn đến không có khả năng trả nợ cho Ngân Hàng, khoản vay của vợ chồng ông trần VD bị chuyển sang nợ quá hạn từ năm 2012. Vợ chồng ông Trần VD đã giao hai tài sản thế chấp là bất động sản cho Ngân Hàng TMCP Q Việt Nam để bán đi thu hồi nợ.

Tuy nhiên, sau khi bán hai tài sản thế chấp vẫn không đủ để thanh toán khoản nợ cho Ngân Hàng, tính đến năm 2018, vợ chồng ông Dần bà H còn nợ Ngân Hàng TMCP Q Việt Nam khoảng hơn 8 tỷ đồng tiền nợ gốc và nợ lãi.

Hiện nay, ông Trần VD vẫn làm cơ khí còn bà Nguyễn Thị H làm kế toán cho Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS. Hai vợ chồng ông Dần vẫn đang cố gắng lao động để kiếm tiền trả nợ cho Ngân Hàng, hai vợ chồng ông Dần không có tiền để gửi tiết kiệm, nếu có tiền nhiều như vậy thì vợ chồng ông Dần đã thanh toán trả nợ cho Ngân hàng.

Ông Trần VD cam đoan và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc vợ chồng ông không có số tiền 3.000.000.000 đồng để gửi tiết kiệm tại Ngân Hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT. Số tiền tiết kiệm trong 03 quyển sổ tiết kiệm số QT 14419584, số QT 14419585 và số QT 14419586 mang tên bà H tại Ngân Hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT là của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS.

Ông Dần đề nghị Tòa án xem xét đến nguồn gốc số tiền, nguyên nhân và lý do dẫn đến việc có 03 quyển sổ tiết kiệm mang tên cá nhân bà Nguyễn Thị H để xóa bỏ phong tỏa số tiền trong 03 quyển sổ tiết kiệm số QT 14419584, số QT 14419585 và số QT 14419586, trả lại tiền cho Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS.

Ông Dần trình bày giao dịch dân sự gửi tiền vào ngày 16/4/2018 có sự nhầm lẫn về chủ thể gửi tiền tiết kiệm giữa cá nhân và công ty, do đó ngày 27 tháng 6 năm 2018, ông và bà Nguyễn Thị H đã nộp đơn yêu cầu độc lập đến Tòa án.

Ông Dần đề nghị Tòa án giải quyết tuyên hủy giao dịch dân sự giữa bà Nguyễn Thị H và Ngân hàng TMCP Q Việt Nam về số tiền gửi tiết kiệm số QT 14419584, QT số 14419585 và số QT 14419586 mang tên bà Nguyễn Thị H gửi tại Ngân hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT để trả lại số tiền 3.000.000.000 (Ba tỷ) đồng cho Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS.

*Đối với đơn yêu cầu độc lập ngày 27/6/2018 của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H và ông Trần VD, đại diện theo pháp luật của nguyên đơn - ông Trần QD trình bày như sau:

Trong quá trình Tòa án giải quyết vụ kiện, bà Nguyễn Thị H đã có yêu cầu độc lập đề nghị Tòa án hủy giao dịch gửi tiền tiết kiệm mang tên cá nhân Nguyễn Thị H tại Ngân Hàng tH mại cổ phần Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT để trả lại tiền cho Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS. Yêu cầu này của bà Nguyễn Thị H và ông Trần VD đã thể hiện đúng nội dung, diễn biến và bản chất của sự việc, đề nghị Tòa án xem xét chấp thuận yêu cầu này của bà Nguyễn Thị H và ông Trần VD.

*Đối với đơn yêu cầu độc lập ngày 27/6/2018 của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị H và ông Trần VD, đại diện theo ủy quyền của QX - bà Nguyễn Thị H và ông Nguyễn B B trình bày như sau:

- Về việc cán bộ QX TT tư vấn gửi tiết kiệm: Ngân hàng là tổ chức hoạt động kinh doanh nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân, do đó việc nhân viên Phòng giao dịch của Ngân hàng tư vấn, giới thiệu các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm là việc làm phù hợp với chức năng nhiệm vụ của ngân hàng và đúng quy định của pháp luật.

- Về giao dịch tiền gửi của bà H tại QX TT: Theo quy định tại mục 4, mục 8 Điều 4 Luật các công cụ chuyển nhượng năm 2005 thì: ” Séc là giấy tờ có giá do người ký phát lập, ra lệnh cho người bị ký phát là ngân hàng hoặc tổ chức cung ứng dịch vụ thanh toán được phép của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam trích một số tiền nhất định từ tài khoản của mình để thanh toán cho người thụ hưởng” và “Người thụ hưởng là người sở hữu công cụ chuyển nhượng với tư cách của một trong những người sau đây: a) Người được nhận thanh toán số tiền ghi trên công cụ chuyển nhượng theo chỉ định của người ký phát, người phát hành”

Do vậy kể từ thời điểm Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS ký phát séc số VA 890056 ngày 16/04/2018 thì Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS đã chuyển quyền sở hữu số tiền 3.000.000.000đồng cho bà H nên khi bà H thanh toán séc tại QX TT thì bà H có toàn quyền định đoạt đối với số tiền 3.000.000.000 đồng được QX hạch toán chi trả cho bà H. Việc bà H gửi tiết kiệm số tiền 3.000.000.000đồng tại QX TT là hoàn toàn tự nguyện, tại thời điểm gửi tiền bà H có đủ năng lực hành vi để thực hiện giao dịch. Do vậy, giao dịch gửi tiền tiết kiệm của bà H theo 03 giấy nộp tiền ngày 16/04/2018 đã được thực hiện đúng quy định của pháp luật và đã hoàn thành. Từ những căn cứ nêu trên, QX đề nghị Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm không chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị H và ông Trần VD.

*Tại phiên tòa hôm nay:

Nguyên đơn thay đổi, bổ sung yêu cầu khởi kiện, đề nghị HĐXX tuyên buộc QX xóa bỏ phong tỏa tài khoản, buộc QX trả cho nguyên đơn số tiền gửi gốc 03 tỷ đồng. Nguyên đơn đồng ý với yêu cầu độc lập của vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Trần VD, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu độc lập của vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Trần VD.

Bị đơn giữ nguyên ý kiến đã trình bày, đề nghị HĐXX không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu độc lập của vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Trần VD. Bị đơn trình bày ngày 25/5/2018, QX đã tự gỡ bỏ việc phong tỏa tài khoản tiền gửi 03 tỷ đồng, đồng thời thu hồi nợ của khách hàng bà H ông VD, căn cứ vào thông báo về việc phong tỏa tài khoản ngày 27/4/2018 số 4.0645.18, việc thực hiện thể hiện trên bút toán của QX, QX cho rằng khách hàng bà H ông VD đã biết vì nội dung đã có trên thông báo về việc phong tỏa tài khoản ngày 27/4/2018

Đại diện theo ủy quyền của vợ chồng bà Nguyễn Thị H, ông Trần VD - Ông Nguyễn Mạnh TH trình bày: giữ nguyên ý kiến đã trình bày, đề nghị HĐXX chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, chấp nhận yêu cầu độc lập của bà H, ông VD. Ông TH không đồng ý với việc bị đơn tại phiên tòa trình bày về việc đã gỡ phong tỏa tài khoản và thực hiện thu hồi nợ, đến nay vợ chồng bà H ông VD không nhận được thông báo về việc thu hồi nợ, không biết chính xác số nợ là bao nhiêu.

*Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hoàn Kiếm phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án như sau: Tòa án đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự về thụ lý vụ án, tống đạt văn bản tố tụng cho đương sự, tiến hành hòa giải, thu thập chứng cứ và ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Tại phiên tòa, Hội đồng xét xử, Thư ký Tòa án đã tiến hành đúng các thủ tục theo quy định của pháp luật về phiên tòa sơ thẩm. Đối với các đương sự: Từ khi thụ lý vụ án đến khi phiên tòa sơ thẩm, các đương sự đã chấp hành pháp luật theo các quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự 2015. Về nội dung vụ án đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H, ông Trần VD.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, sau phần tranh luận và nghị án, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thẩm quyền giải quyết và quan hệ pháp luật trong vụ án: Tranh chấp trong vụ việc xảy ra giữa hai pháp nhân, phát sinh trong hoạt động kinh doanh, việc gửi tiền tiết kiệm nhằm lấy lãi, căn cứ vào khoản 1 Điều 30 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015 đây là tranh chấp về kinh doanh tH mại.

Căn cứ vào Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015: bị đơn - Ngân hàng TMCP Q Việt Nam có trụ sở tại tầng 1, tầng 6, tầng 7, Tòa nhà CS, 16 phố PT, phường PT, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.

Do vậy, Tòa án nhân dân quận Hoàn Kiếm thụ lý và giải quyết vụ án kinh doanh thương mại về “Tranh chấp giao dịch gửi tiền” là đúng thẩm quyền.

[2]. Về thủ tục tố tụng:

[2.1]. Việc Tòa án xác định tư cách tham gia tố tụng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan căn cứ vào Điều 68, 70, 73, 77 và 78 của Bộ Luật tố tụng dân sự 2015; Do vậy, việc Tòa án xác định Ngân hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT không được tiếp tục tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan theo quy định của pháp luật là đúng.

[2.2]. Tại phiên tòa, nguyên đơn có trình bày yêu cầu khởi kiện cụ thể, đề nghị HĐXX xem xét, giải quyết:

+ Buộc Ngân hàng TMCP Q Việt Nam xóa bỏ phong tỏa số tiền trong 03 sổ tiết kiệm số QT 14419584, QT số 14419585 và số QT 14419586 mang tên bà Nguyễn Thị H gửi tại Ngân hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT;

+ Buộc Ngân hàng TMCP Q Việt Nam trả lại cho Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS số tiền 3.000.000.000 (Ba tỷ) đồng trong ba sổ tiết kiệm QT 14419584, QT số 14419585 và số QT 14419586 mang tên bà Nguyễn Thị H gửi tại Ngân hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT.

Việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chỉ là làm rõ yêu cầu, không làm thay đổi các thủ tục tố tụng khác nên việc HĐXX tiếp tục xét xử là theo đúng quy định của pháp luật.

[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu độc lập của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan - bà H, ông Dần:

[3.1]. Giao dịch gửi tiền tiết kiệm của bà Nguyễn Thị H tại phòng giao dịch TT, chi nhánh TH, ngân hàng QX vào ngày 16/4/2018 là một giao dịch dân sự.

Các đương sự đều công nhận có sự kiện pháp lý là hành vi gửi tiền tiết kiệm số tiền 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) nhằm mục đích lấy tiền lãi là có thật. Cụ thể có ba cuốn sổ tiết kiệm gồm QT 14419584, số QT 14419585 và số QT 14419586 cùng có ngày gửi 16/4/2018, ngày đến hạn 16/5/2018, lãi suất 5,2%, kỳ hạn 01 tháng do Ngân hàng TMCP Q Việt Nam phát hành.

Trong giao dịch gửi tiền, người đại diện cho Ngân hàng thực hiện các thủ tục tư vấn, hướng dẫn, thực hiện giao dịch là giao dịch viên của ngân hàng đang làm việc tại quầy giao dịch.

[3.2]. Trước hết cần xác định Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS có quyền khởi kiện đối với giao dịch tiền gửi là 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) không:

Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều công nhận số tiền trong giao dịch có tiền gửi gốc là 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) có nguồn gốc từ tài khoản của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS.

Bị đơn không công nhận số tiền này có nguồn gốc như trên, bị đơn cho rằng sự việc gửi tiền giữa cá nhân bà Nguyễn Thị H và bị đơn không có liên quan đến Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS.

Xét thấy, tại “Biên bản làm việc đề ngày 03/5/2018 giữa các bên đại diện QX, đại diện cơ quan an ninh là ông Khuất B Phòng, đại diện văn phòng luật sư TH”, biên bản lấy lời khai ông A, bà T, lời khai của nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và các tài liệu do nguyên đơn cung cấp cho thấy:

+ Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS có mở tài khoản số 0577040600xxxxx tại Ngân Hàng TMCP Q Việt Nam chi nhánh TH phòng giao dịch TT để phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty, vào thời điểm ngày 16/4/2018 trước khi diễn ra hành vi gửi tiền của bà Nguyễn Thị H tại phòng giao dịch thì trong tài khoản có số dư hơn 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng).

+ Ngày 16/4/2018, Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS đã phát hành “Séc” có nội dung yêu cầu QX trả cho bà Nguyễn Thị H tiền mặt là 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng).

+ Giao dịch viên của QX là bà Nguyễn Thị PH T đã tiến hành việc rút số tiền 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) từ tài khoản của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS, không trả tiền mặt cho bà Nguyễn Thị H mà làm các thủ tục giấy tờ để hoàn thành 03 cuốn sổ tiết kiệm, mỗi cuốn sổ có giá trị tiền gửi là 1.000.000.000 đồng mang tên bà Nguyễn Thị H và giao cho bà Nguyễn Thị H ba cuốn sổ tiết kiệm này.

Như vậy, Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS có quyền khởi kiện vì sự kiện pháp lý giao dịch tiền gửi giữa bà Nguyễn Thị H và QX có liên quan đến Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS.

[3.3]. Có việc nhầm lẫn về chủ thể gửi tiết kiệm số tiền 03 tỷ đồng trong giao dịch gửi tiền tại phòng giao dịch TT, chi nhánh TH của QX không:

Đại diện QX khẳng định “Ngân hàng là tổ chức hoạt động kinh doanh nhận tiền gửi từ các tổ chức, cá nhân, do đó việc nhân viên Phòng giao dịch của Ngân hàng tư vấn, giới thiệu các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm là việc làm phù hợp với chức năng nhiệm vụ của ngân hàng và đúng quy định của pháp luật”

Giao dịch viên chị Nguyễn Thị PH T, người trực tiếp tư vấn, giới thiệu sản phẩm tiết kiệm khai:

+ tại biên bản lấy lời khai của Tòa án ngày 22/8/2018: “….., tôi có tư vấn với bà H là tài khoản của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS có số dư tiền nhàn rỗi để trong thời gian dài thì rút ra đem gửi tiết kiệm cá nhân sẽ có khoản lãi suất cao hơn, khi đó bà H chỉ nghe tư vấn mà không có ý kiến gì”.

+tại “ Biên bản làm việc đề ngày 03/5/2018 giữa các bên đại diện QX là ông Phan Văn A và bà T, đại diện cơ quan an ninh là ông Khuất B Phòng, đại diện văn phòng luật sư TH là ông Nguyễn Mạnh TH - luật sư và ông Nguyễn ĐT - luật sư” ghi nhận trong nội dung biên bản “Sau khi giao dịch xong, vì thấy tài khoản của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS là khách hàng thường xuyên giao dịch có số dư trong tài khoản để thời gian dài, tôi có tư vấn khách hàng Nguyễn Thị H nếu có số tiền trong tài khoản Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS chưa sử dụng đến thì có thể chuyển sang gửi tiết kiệm để hưởng lãi suất cao hơn. Sau khi tôi tư vấn, khách hàng chưa thực hiện giao dịch ngay cũng như chưa đồng ý gửi tiết kiệm mà ra về. Khoảng 15 phút sau khách hàng Nguyễn Thị H có gọi điện cho tôi để thông báo là sẽ mở sổ tiết kiệm”.

Bà Nguyễn Thị H trình bày tại các bản tự khai, biên bản hòa giải, đơn yêu cầu độc lập: “…..tại thời điểm đó chị T cũng đã nói với tôi về việc rút tiền từ tài khoản của công ty ra để gửi tiết kiệm. Vì đây không phải là tiền của tôi mà là tiền của công ty nên tôi có nói với chị T rằng đây là tiền của công ty để trả tiền hàng, không có tiền để gửi tiết kiệm. Chị T có nói với tôi là cứ gửi đi mỗi tháng được hơn chục triệu, tôi có nói với chị T là khi công ty cần tiền thì có rút ra được không thì chị T có nói là rút ra bình thường nhưng không có lãi. Tôi có nói với chị T là để tôi về báo cáo với giám đốc Công ty xem thế nào”.

Xét thấy, theo quy định của pháp luật về thủ tục gửi tiền tiết kiệm thì thủ tục gửi tiền tiết kiệm của cá nhân và của tổ chức là khác nhau, thủ tục gửi tiết kiệm cá nhân do cá nhân thực hiện, thủ tục gửi tiết kiệm của tổ chức, doanh nghiệp do người đại diện theo pháp luật của tổ chức, cá nhân thực hiện.

Giao dịch viên chị T nắm được nghiệp vụ nên đã khai rằng: tôi khẳng định tôi tư vấn cho khách hàng là trách nhiệm và nghĩa vụ của tôi. Tôi có nắm được việc nếu doanh nghiệp có tiền nhàn rỗi trong tài khoản thì gửi tiết kiệm sẽ có lãi suất. Lãi suất của doanh nghiệp gửi tiết kiệm khi gửi tiết kiệm, thủ tục phải do chủ doanh nghiệp ra ngân hàng gửi, ký hợp đồng tiền gửi với ngân hàng. Lãi suất tiền gửi của doanh nghiệp thấp hơn lãi suất tiền gửi của cá nhân.

Chi nhánh nào của QX thì chỉ nắm được thông tin của khách hàng giao dịch ở chi nhánh đó nên tôi không nắm được bà Nguyễn Thị H là người còn nợ tiền vay tín dụng của QX.

Thực tế, bà Nguyễn Thị H cũng không nói cho tôi biết khoản nợ của vợ chồng bà H ông Dần ở QX, vì khoản nợ tín dụng đó thực hiện ở chi nhánh giao dịch khác của QX.

Còn bà H khai rằng “Khi tôi đến Ngân hàng, tôi gặp chị T và nói với chị T là làm thủ tục để tôi rút tiền từ tài khoản của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS bằng séc để chuyển sang gửi tiết kiệm cho Công ty. Tôi đưa séc và giấy chứng minh nhân dân cho chị T để tàm thủ tục và ngồi chờ, chị T đã chủ động làm thủ tục rút tiền và tự lập sổ tiết kiệm, tất cả mọi việc trên chỉ diễn ra trên sổ sách chứng từ chứ tôi không hề được cầm tiền mặt. Khi chị T làm xong hồ sơ thì bảo tôi ký vào các giấy tờ, tôi ký xong thì chị T có đưa cho tôi 03 quyển sổ tiết kiệm số QT 14419584, số QT 14419585 và số QT 14419586 mang tên tôi, mỗi quyển sổ tiết kiệm có số tiền gửi là 1.000.000.000 đồng. Từ lúc tôi đưa séc và nói với chị T là làm thủ tục rút tiền từ tài khoản của Công ty để chuyển sang gửi tiết kiệm cho Công ty, chị T không hỏi hay tư vấn cho tôi là nên làm như thế nào cho đúng với pháp luật mà chị T tự làm tất cả các thủ tục, tự làm 03 sổ tiết kiệm mang tên tôi. Do thiếu hiểu biết về pháp luật và hoạt động Ngân hàng nên khi chị T đưa cho tôi 03 quyển sổ tiết kiệm thì tôi cầm sổ tiết kiệm về giao lại cho Công ty”.

Như vậy, đại diện của QX thực hiện giao dịch dân sự gửi tiền tiết kiệm với bà Nguyễn Thị H biết rõ thủ tục nghiệp vụ trong giao dịch dân sự gửi tiết kiệm nhưng khi tư vấn cho khách hàng đã không tư vấn đầy đủ, không giải thích rõ ràng, gây sự nhầm lẫn về chủ thể - người gửi tiền trong giao dịch dân sự gửi tiết kiệm.

Trường hợp, nếu bà Nguyễn Thị H không phải là khách hàng đang nợ QX thì sau thời hạn gửi tiền tiết kiệm, bà H đến lấy tiền lãi và tiền gốc của khoản tiền 03 tỷ đồng đã gửi về nộp cho Công ty, sự việc sẽ không có tranh chấp xảy ra liên quan đến giao dịch này.

Tuy nhiên, cũng phải xem xét lỗi của người đại diện theo pháp luật của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS và kế toán trưởng của Công ty HS khi tiến hành việc ký séc và nhận bàn giao 03 cuốn sổ tiết kiệm đã không nhận thức được đầy đủ về thủ tục tiến hành các giao dịch dân sự đúng quy định của pháp luật.

Như vậy, giao dịch dân sự gửi tiền tại QX ngày 16/4/2018 với số tiền 03 tỷ đồng đã bị vô hiệu do nhầm lẫn về chủ thể - người gửi tiền tiết kiệm. Yêu cầu độc lập của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông VD bà H đề nghị hủy giao dịch dân sự gửi tiền tiết kiệm 03 tỷ đồng có căn cứ nên được HĐXX chấp nhận.

Giao dịch dân sự đã có sự nhầm lẫn về chủ thể giao dịch thì bị vô hiệu, giao dịch không làm phát sinh, thay đổi, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của các bên kể từ thời điểm giao dịch được xác lập; khi giao dịch dân sự vô hiệu thì các bên khôi phục tình trạng ban đầu, hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; bên có lỗi gây thiệt hại hại thì phải bồi thường (Điều 131 của Bộ Luật dân sự năm 2015).

Xét quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chỉ yêu cầu trả lại số tiền gửi gốc 03 tỷ đồng, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà H ông VD chỉ yêu cầu hủy giao dịch dân sự tiền gửi, bị đơn chỉ có ý kiến đề nghị bác yêu cầu khởi kiện, yêu cầu độc lập. Các đương sự không có ý kiến giải quyết hậu quả của giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn nên Hội đồng xét xử không giải quyết hậu quả giao dịch dân sự vô hiệu do nhầm lẫn về chủ thể giao dịch là người gửi tiền tiết kiệm.

[3.4]. Ngân hàng TMCP Q Việt Nam có thẩm quyền phong tỏa số tiền gửi là 3.000.000.000 đồng (ba tỷ đồng) trong ba cuốn sổ tiết kiệm mang tên khách hàng gửi Nguyễn Thị H không:

Phong tỏa tài khoản là một biện pháp cưỡng chế trong tố tụng dân sự, tố tụng hình sự được điều chỉnh bởi Bộ Luật tố tụng dân sự, Bộ Luật tố tụng hình sự, do người có thẩm quyền tại các cơ quan Tòa án, Viện kiểm sát, Công an tiến hành.

Phong tỏa tài khoản là một biện pháp hành chính trong thực hiện việc thanh tra được điều chỉnh bởi Luật Thanh tra, do người có thẩm quyền thực hiện, đối tượng bị áp dụng trong đó có tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam.

Về hình thức của phong tỏa tài khoản: người có thẩm quyền theo quy định của pháp luật phát hành “Quyết định phong tỏa tài khoản”;

Tại thông báo số 4.0645.18 ngày 27/4/2018 của Ngân hàng TMCP Q Việt Nam cho rằng “căn cứ theo quy định tại khoản 10 điều 1 và khoản 1 điều 5 của Hợp đồng tín dụng đã ký giữa QX và bà Nguyễn Thị H và ông Trần VD, QX có quyền sau 07 ngày kể từ ngày gửi thông báo này, QX thực hiện các quyền của mình theo đúng nội dung hợp đồng tín dụng đã ký kết ”;

Tại phiên hòa giải ngày 03/10/2018, đại diện theo ủy quyền của QX đã xác nhận thực tế, tài khoản của bà Nguyễn Thị H bao gồm 03 cuốn sổ tiết kiệm gồm QT 14419584, số QT 14419585 và số QT 14419586 có giá trị tiền gửi gốc là 3 tỷ đồng đang bị QX phong tỏa, việc phong tỏa tài khoản chỉ có duy nhất văn bản thông báo số 4.0645.18 ngày 27/4/2018.

Do đó, việc đại diện theo ủy quyền của QX trình bày tại phiên tòa đã thực hiện gỡ bỏ phong tỏa tài khoản, thu hồi nợ của khách hàng là việc tự ý thực hiện không tuân thủ quy định của pháp luật.

Ngoài lời trình bày tại phiên tòa về việc gỡ bỏ phong tỏa và thu hồi nợ, đại diện theo ủy quyền của QX không giao nộp tài liệu, chứng cứ khác chứng minh.

Xét thấy: Nguyên tắc ký kết các giao dịch dân sự trong đó có các hợp đồng tín dụng, tại khoản 2 Điều 3 của Bộ Luật dân sự năm 2015 quy định “Cá nhân, pháp nhân khi xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện, cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội, có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng”.

Luật các tổ chức tín dụng năm 2010 cũng như các Luật khác không có quy định ngân hàng có quyền được phong tỏa tài khoản khách hàng cá nhân.

Hội đồng xét xử nhận thấy QX không có thẩm quyền tự phong tỏa tài khoản của khách hàng tại ngân hàng của mình trong sự việc này. Yêu cầu của nguyên đơn đề nghị xóa bỏ phong tỏa tài khoản của QX đối với tài khoản mang tên bà Nguyễn Thị H được sự đồng thuận của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là vợ chồng bà H ông VD, HĐXX nhận thấy có căn cứ theo quy định của pháp luật.

[3.5]. Tài sản tiền gửi tiết kiệm trên 03 cuốn sổ tiết kiệm gồm QT 14419584, số QT 14419585 và số QT 14419586 có giá trị tiền gửi gốc là 3 tỷ đồng mang tên bà Nguyễn Thị H là của ai:

Xét tài liệu, chứng cứ, lời trình bày của các bên cho thấy nguồn gốc số tiền xuất phát từ tài khoản của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS (Nguyên đơn giao nộp bảng kê giao dịch chứng minh dòng tiền trong tài khoản cho đến ngày 16/4/2018 số tiền trong tài khoản có hơn 03 tỷ đồng, cùng ngày 16/4/2018 số tiền trong tài khoản chỉ còn khoảng mấy chục triệu), bà Nguyễn Thị H là người đứng tên trên tài khoản gửi tiết kiệm số tiền này nhưng bà H không công nhận quyền sở hữu của bản thân, ông VD cũng xác nhận không công nhận đây là tài sản vợ chồng. Ông VD bà H cùng xác nhận đây là tài sản thuộc sở hữu của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS.

Bị đơn không công nhận tài sản 03 tỷ đồng tiền gửi gốc trong giao dịch dân sự này là của Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS và khẳng định căn cứ vào bản chất của giấy tờ có giá là “séc” để khẳng định tài sản này là của bà Nguyễn Thị H, giao dịch viên T trong lời khai thể hiện không tư vấn về hình thức gửi tiền cho bà H, việc bà H thực hiện giao dịch gửi tiền trong khi có đầy đủ năng lực pháp luật, ngoài ra không có căn cứ nào khác chứng minh.

Giao dịch viên và Giám đốc QX phòng giao dịch TT có lời khai làm chứng về việc không nắm được bà H là khách hàng còn nợ của QX, giao dịch viên đã tiến hành việc tư vấn và thực hiện giao dịch trực tiếp gây nhầm lẫn về chủ thể giao dịch nên mới có sự việc Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS đã viết “séc” cho người thụ hưởng là bà H để bà H đến phòng giao dịch của QX thực hiện gửi tiền tiết kiệm cho Công ty.

Nguyên đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đề nghị Tòa án xem xét số tiền gửi 03 tỷ đồng là của nguyên đơn để trả lại cho nguyên đơn là có căn cứ được HĐXX chấp nhận.

Bởi các lẽ trên, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn đề nghị Tòa án buộc QX trả lại số tiền 03 (ba) tỷ đồng cho nguyên đơn là có căn cứ được Hội đồng xét xử chấp nhận.

*Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn được HĐXX chấp nhận.

[4]. Về án phí:

. Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận nên nguyên đơn được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm.

[4.2]. Yêu cầu độc lập của bà H, ông VD được Hội đồng xét xử chấp nhận nên bà H, ông VD được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp tại Chi Cục thi hành án dân sự quận Hoàn Kiếm.

[4.3]. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

[5]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên!

QuyÕt ®Þnh:

Căn cứ vào

- Khoản 1 Điều 30; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; Điều 114; Điều 124; khoản 1 Điều 147; Điều 227; Điều 271; khoản 1 Điều 273 của Bộ Luật tố tụng dân sự năm 2015;

- Điều 116, 117, 122, 126, 131 của Bộ Luật Dân sự năm 2015;

- Luật các tổ chức tín dụng năm 2010;

- Luật ngân hàng Nhà nước Việt Nam năm 2010;

- Điều 129, 130 của Bộ Luật tố tụng hình sự năm 2015;

- Luật Thanh tra năm 2010;

- Điều 66, 67 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

- Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBNVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của UBTVQH về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn- Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS và yêu cầu độc lập của bà Nguyễn Thị H ông Trần VD đối với bị đơn - Ngân hàng TMCP Q Việt Nam;

1.1. Tuyên bố xóa bỏ việc phong tỏa tài khoản tiền gửi tiết kiệm của Ngân hàng TMCP Q Việt Nam đối với tài khoản tiết kiệm gồm 03 cuốn sổ tiết kiệm gồm QT 14419584, số QT 14419585 và số QT 14419586 có giá trị tiền gửi gốc là 3 tỷ đồng mang tên bà Nguyễn Thị H gửi ngày 16/4/2018;

1.2. Tuyên hủy giao dịch dân sự tiền gửi tiết kiệm gồm 03 cuốn sổ tiết kiệm gồm QT 14419584, số QT 14419585 và số QT 14419586 có giá trị tiền gửi gốc là 3 tỷ đồng mang tên bà Nguyễn Thị H gửi ngày 16/4/2018;

1.3. Buộc Ngân hàng TMCP Q Việt Nam trả số tiền tiết kiệm gửi gốc 03 tỷ đồng trên 03 cuốn sổ tiết kiệm gồm QT 14419584, số QT 14419585 và số QT 14419586 mang tên bà Nguyễn Thị H gửi ngày 16/4/2018 cho Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS;

2. Án phí: Công ty TNHH chế tạo cơ khí HS được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 36.000.000 đồng (Ba mươi sáu triệu đồng) đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự. Biên lai tạm ứng án phí số AA/2016/0002299 ngày 15/5/2018.

Bà Nguyễn Thị H ông Trần VD được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) đã nộp tại Chi Cục Thi hành án dân sự. Biên lai tạm ứng án phí số AA/2016/0002432 ngày 03/7/2018.

Ngân hàng TMCP Q Việt Nam phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 92.300.000 (Chín mươi hai triệu đồng ba trăm nghìn đồng) đồng.

3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, có mặt các đương sự. Các đương sự có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

4. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ