vanban.org

Bản án 13/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận Tuyên án 04/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo có quyền làm ñơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 04/6/2018).

TAND tỉnh Ninh Thuận; VKSND tỉnh Ninh Thuận;

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án Hình sự - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo có quyền làm ñơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 04/6/2018).
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THUẬN NAM
TỈNH NINH THUẬN
__________________
Bản án số: 13/2018/HS-ST
Ngày: 04/6/2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THUẬN NAM – TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội ñồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Ngô Văn Tiến.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Ngọc Hoài.

Bà Nguyễn Thị Chính.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lương Thanh Tâm - Thư ký của Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận.

- ðại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Thuận Văn Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thuận Nam, tỉnh Ninh Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 05/2018/TLST-HS ngày 06 tháng 3 năm 2018 theo Quyết ñịnh ñưa vụ án ra xét xử số: 15/2018/QðXXST-HS ngày 21 tháng 5 năm 2018 ñối với các bị cáo:

1. TRẦN VĂN TH (Thục), (Sinh ngày, tháng không nhớ) năm 1986 tại tỉnh Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Không; trình ñộ văn hóa: 1/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Văn Ng (Chết) và bà Trần Thị T; không có vợ, con; tiền án: Ngày 20/8/2008 bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt 15 tháng tù về hai tội “Trộm cắp tài sản” và “Hủy hoại tài sản”, ngày 25/11/2010 bị Tòa phúc thẩm Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xử phạt 06 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; chấp hành xong hình phạt tù ngày 06/02/2016; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 02/01/2018 bị Tòa án nhân dân huyện P, tỉnh Bình Thuận xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; bị cáo ñang giam tại Trại giam Thủ ðức thuộc Bộ Công an. (Có mặt)

2. NGUYỄN XUÂN H (Cu Kình), sinh ngày 30 tháng 12 năm 1991 tại tỉnh Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn L, xã Ph, huyện T, tỉnh Ninh Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình ñộ văn hóa: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân Ch và bà Lê Thị Ch; không có vợ, con; tiền án: Ngày 05/01/2010 bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 05 năm tù về tội “Cố ý gây thương tích”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 04/11/2013; ngày 18/12/2015 bị Tòa án nhân dân huyện T xử phạt 01 năm 03 tháng tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 21/4/2017; tiền sự: Không; bị cáo ñang tại ngoại. (Có mặt)

3. TRƯƠNG T (Hít), sinh ngày 01 tháng 10 năm 1992 tại tỉnh Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn V, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình ñộ văn hóa: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Ng và bà Nguyễn Thị Ch; có vợ và 03 con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 18/5/2018, chuyển tạm giam ngày 21/5/2018 và ñang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. (Có mặt)

4. TRƯƠNG L (Tỵ), (Sinh ngày, tháng không nhớ) năm 1996 tại tỉnh Ninh Thuận. Nơi cư trú: Thôn M, xã Nh, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; chỗ ở hiện nay: Thôn V, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận; nghề nghiệp: Làm thuê; trình ñộ văn hóa: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trương Ng và bà Nguyễn Thị Ch; không có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị cáo bị tạm giữ ngày 18/5/2018, chuyển tạm giam ngày 21/5/2018 và ñang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện T. (Có mặt)

Bị hại:

1. Ông Nguyễn Ngọc H, sinh năm: 1972; nơi cư trú: Thôn L, xã Ph, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. (Có ñơn xin xét xử vắng mặt)

2. Anh Nguyễn Văn N, sinh năm: 1992; nơi cư trú: Thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận. (Có ñơn xin xét xử vắng mặt)

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ñến vụ án:

1. Anh Nguyễn T, sinh năm: 1986; nơi cư trú: Thôn H, xã H, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. (Vắng mặt)

2. Chị Nguyễn Thị H, sinh năm: 1988; nơi cư trú: Thôn ð, xã T, huyện L, tỉnh Lâm ðồng. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án ñược tóm tắt như sau:

Trần Văn Th (Thục) và Nguyễn Xuân H (Cu Kình) là bạn bè với nhau. Chiều ngày 29/5/2017, H, Th và một số người bạn tổ chức ăn nhậu tại nhà H ñến khoảng 22 giờ cùng ngày thì nghỉ, Th ngủ lại nhà H ở thôn L, xã Ph. ðến khoảng 02 giờ ngày 30/5/2017, Th thức dậy rủ H ñi tìm tài sản sơ hở trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài, H ñồng ý. Cả hai ñi bộ theo ñường bờ kè xã Ph ñến trước nhà anh Nguyễn Ngọc H ở thôn L, xã Ph thì phát hiện trong sân nhà có 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Taurus BKS 85N1-8925 không có người trông coi, cổng nhà không khóa. Th kêu H ñứng ngoài cảnh giới, Th mở chốt cổng ñi vào dùng chìa khóa 3 cạnh mang theo mở khóa dắt trộm xe ra ngoài rồi nổ máy chở H chạy vào nhà Trương T (Hít) và Trương L (Tỵ) ở thôn V, xã T, huyện P, tỉnh Bình Thuận ñể bán. Khoảng 03 giờ cùng ngày Th và H chạy xe ñến nơi, nghe tiếng xe nổ hai anh em T và L ñi ra, Th nói xe mô tô trên là của bà dì ở thôn C có giấy tờ, thỏa thuận bán giá 5.000.000 ñồng, nhận tiền trước một nữa, khi nào có giấy tờ thì lấy ñủ tiền. Sau khi xem xe T và L ñồng ý, T lấy 800.000 ñồng cùng 01 ñiện thoại di ñộng ñưa cho L ñi cầm lấy tiền ñưa cho Th, Th dặn L mua cho Th 500.000 ñồng ma túy ñá, sau khi nhận ma túy Th ñể xe lại rồi cùng H ñi bộ ra chòi bỏ hoang gần ñó sử dụng ma túy. Khoảng 7 giờ 30 ngày 30/5/2017, Th quay lại gặp T và L lấy số tiền còn lại, Th nói cho T và L biết xe máy trên do Th trộm cắp mà có, xe không có giấy tờ nên bán giá 2.500.000 ñồng, T và L ñồng ý mua. T ñưa cho L 700.000 ñồng ñi mua ma túy ñá bán lại cho Th giá 1.000.000 ñồng và ñưa thêm cho Th 200.000 ñồng. Th và H tiếp tục sử dụng hết số ma túy ñá trên, sau ñó Th ñưa cho H 100.000 ñồng ñón xe về thôn C, Th ñi bộ về Xóm 7, xã V, huyện P, tỉnh Bình Thuận.

Biết xe mô tô BKS 85N1-8925 do Th trộm cắp mà có nên T và L cùng nhau dùng khóa số 8 tháo biển số xe và thay bóng ñèn chiếu sáng phía trước nhằm thay ñổi ñặc ñiểm xe, tránh bị chủ xe và Công an phát hiện. Sau ñó L ñưa xe máy ñến gửi tại nhà anh ruột tên Trương D ở thôn T, xã P, huyện B, tỉnh Ninh Thuận thì bị Công an huyện T thu giữ.

Kết quả ñịnh giá tài sản xe mô tô BKS 85N1-8925 có giá trị là 8.000.000 ñồng; Cơ quan ñiều tra ñã trả chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu anh Nguyễn Ngọc H, sau khi nhận lại xe anh H không yêu cầu gì thêm về mặt dân sự.

Ngoài ra, trong quá trình ñiều tra ñã làm rõ: Khoảng 02 giờ ngày 10/6/2017 Trần Văn Th ñi bộ một mình ñến nhà trọ Lê ở thôn L, xã C, huyện T thì phát hiện tại hành lang nhà trọ có dựng xe mô tô BKS 85F1-06239 của anh Nguyễn Văn N trú tại thôn ð, xã Nh, huyện N, tỉnh Ninh Thuận không có người trông coi nên Th lẻn vào dùng vam phá khóa mang theo bẻ khóa cổ xe, dắt xe ra ngoài, nổ máy chạy ñến nhà anh Nguyễn T trú tại thôn H, xã Ph, huyện P, tỉnh Ninh Thuận, tại ñây Th nói xe của Th, giờ ñang kẹt tiền nên thế chấp: 3.000.000 ñồng vài ngày quay lại lấy, anh T tin nên ñồng ý nhận xe và giao tiền cho Th. Sau một thời gian không thấy Th ñến chuộc xe nên anh T ñã ñưa xe cho em gái tên Nguyễn Thị H trú tại thôn ð, xã T, huyện L, tỉnh Lâm ðồng mượn dùng làm phương tiện ñi lại. ðến ngày 18/10/2017 Cơ quan ñiều tra công an huyện T phát hiện tạm giữ ñể làm rõ.

Kết quả ñịnh giá tài sản xe mô tô BKS 85F1-06239 hiệu Sirius có giá trị là 11.250.000 ñồng; Cơ quan ñiều tra ñã trả chiếc xe mô tô trên cho chủ sở hữu anh Nguyễn Văn N, sau khi nhận lại xe anh N không yêu cầu gì thêm về dân sự.

ðối với chìa khóa Th dùng mở xe mô tô BKS 85N1-8925, khóa số 8 T và L dùng tháo biển số và bóng ñèn xe, Chiếc vam Th dùng phá khóa xe mô tô BKS 85F1-062.39 các bị can ñã làm mất, cơ quan ñiều tra truy tìm nhưng không thu ñược.

Tại bản Cáo trạng số: 06/CT-VKSTN ngày 28/02/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T, tỉnh Ninh Thuận ñã truy tố các bị cáo Trần Văn Th (Thục), Nguyễn Xuân H (Cu Kình) về tội "Trộm cắp tài sản" theo ñiểm c khoản 2 ðiều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999; truy tố các bị cáo Trương T (Hít), Trương L (Tỵ) về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" theo khoản 1 ðiều 250 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Tại phiên tòa, ñại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: Hành vi của các bị cáo Trần Văn Th (Thục), Nguyễn Xuân H (Cu Kình), Trương T (Hít), Trương L (Tỵ) có ñủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" và tội "Tiêu thụ tài sản do gười khác phạm tội mà có", do ñó Viện kiểm sát giữ nguyên quyết ñịnh truy tố ñối với các bị cáo về tội "Trộm cắp tài sản" và "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có". ðề nghị Hội ñồng xét xử:

Tuyên bố các bị cáo Trần Văn Th (Thục), Nguyễn Xuân H (Cu Kình) phạm tội "Trộm cắp tài sản"; các bị cáo Trương T (Hít), Trương L (Tỵ) phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".

Áp dụng ñiểm c khoản 2 ðiều 138; ðiều 33; ñiểm p khoản 1 và khoản 2 ðiều 46; ñiểm g khoản 1 ðiều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Trần Văn Th (Thục) mức án từ 02 năm 06 tháng tù ñến 03 năm tù.

Áp dụng ñiểm c khoản 2 ðiều 138; ðiều 33; ñiểm p khoản 1 và khoản 2 ðiều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H (Cu Kình) mức án từ 02 năm tù ñến 02 năm 06 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 ðiều 250; ðiều 33; ñiểm h, p khoản 1 và khoản 2 ðiều 46; ðiều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Trương T (Hít) mức án từ 04 tháng tù ñến 05 tháng tù.

Áp dụng khoản 1 ðiều 250; ðiều 33; ñiểm h, p khoản 1 và khoản 2 ðiều 46; ðiều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Xử phạt bị cáo Trương L (Tỵ) mức án từ 04 tháng tù ñến 05 tháng tù.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không yêu cầu về bồi thường dân sự .

Lời nói sau cùng: Tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn Th (Thục), Nguyễn Xuân H (Cu Kình), Trương T (Hít), Trương L (Tỵ) biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nên mong Hội ñồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ðỊNH CỦA HỘI ðỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án ñã ñược thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội ñồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết ñịnh tố tụng của Cơ quan ñiều tra Công an huyện T, ðiều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện T, Kiểm sát viên trong quá trình ñiều tra, truy tố ñã thực hiện ñúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy ñịnh của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình ñiều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết ñịnh của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do ñó, các hành vi, quyết ñịnh tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng ñã thực hiện ñều hợp pháp.

Trong quá trình ñiều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Trần Văn Th (Thục), Nguyễn Xuân H (Cu Kình), Trương T (Hít), Trương L (Tỵ) khai nhận: Ngày 30/5/2017 tại thôn L, xã Ph, huyện T, tỉnh Ninh Thuận các bị cáo Th, H ñã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu ñể lén lút trộm cắp tài sản của anh Nguyễn Ngọc H 01 (Một) xe mô tô hiệu Taurius, màu ñỏ ñen, hãng Yamaha, biển kiểm soát 85N1-8925, có trị giá 8.000.000 ñồng (Theo Biên bản ñịnh giá tài sản ngày 14/6/2017 của Hội ñồng ñịnh giá tài sản huyện T). Mặc dù biết rõ tài sản trên là do các bị cáo Th, H trộm cắp mà có nhưng vì mục ñích ham rẻ nên các bị cáo Trương T (Hít), Trương L (Tỵ) vẫn tiêu thụ tài sản.

Ngoài ra trong quá trình ñiều tra bị cáo Trần Văn Th (Thục) còn khai nhận: Ngày 10/6/2017 tại thôn L, xã C, huyện T, tỉnh Ninh Thuận bị cáo ñã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu nên lén lút trộm cắp tài sản của anh anh Nguyễn Văn N 01 (Một) xe mô tô hiệu Sirius, hãng Yamaha, biển kiểm soát 85F1-062.39, có trị giá 11.250.000 ñồng (Theo Biên bản ñịnh giá tài sản ngày 12/10/2017 của Hội ñồng ñịnh giá tài sản huyện T).

ðây là vụ án ñồng phạm mang tính giản ñơn, xét vai trò của từng bị cáo ñược ñánh giá như sau: Bị cáo Trần Văn Th (Thục) là người khởi xướng, rủ rê ñồng bọn và trực tiếp trộm cắp tài sản của người khác (02 lần); bị cáo Nguyễn Xuân H (Cu Kình) là người cảnh giới giúp sức cùng ñồng bọn trộm cắp tài sản (01 lần) và cùng với bị cáo Th mang tài sản trộm cắp ñược ñi tiêu thụ ñể lấy tiền tiêu xài; các bị cáo Trương T (Hít), Trương L (Tỵ) là người biết rõ tài sản trộm cắp nhưng vẫn tiêu thụ tài sản (01 lần). Xét thấy hành vi nêu trên của các bị cáo ñã trực tiếp và gián tiếp xâm phạm ñến quyền sở hữu tài sản của người khác, xâm phạm ñến trật tự an toàn xã hội, ñồng thời gây mất trật tự trị an tại ñịa phương. Bản thân các bị cáo Trần Văn Th (Thục), Nguyễn Xuân H (Cu Kình) sau khi chấp hành xong hình phạt tù của hai bản án, lẽ ra các bị cáo phải biết tu sửa và rèn luyện bản thân ñể trở thành người tốt sau này. Không làm ñược như vậy mà các bị cáo lại tiếp tục phạm tội. Do ñó, lần phạm tội này các bị cáo chưa ñược xóa án tích nhưng lại phạm tội nên hành vi của các bị cáo là tái phạm nguy hiểm, theo quy ñịnh tại ñiểm b khoản 2 ðiều 49 của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì ñây là tình tiết tăng nặng ñịnh khung nên Viện kiểm sát truy tố các bị cáo Trần Văn Th (Thục), Nguyễn Xuân H (Cu Kình) về tội "Trộm cắp tài sản" theo ñiểm c khoản 2 ðiều 138 của Bộ luật Hình sự năm 1999; truy tố các bị cáo Trương T (Hít), Trương L (Tỵ) về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" theo khoản 1 ðiều 250 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là có căn cứ, ñúng pháp luật. Vì vậy cần phải xử phạt các bị cáo một mức án thật nghiêm mới có tác dụng răn ñe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Ngoài ra, bị cáo Trần Văn Th (Thục) còn phạm tội nhiều lần. ðây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự ñược quy ñịnh tại ñiểm g khoản 1 ðiều 48 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Các bị cáo Th, H ñều có nhân thân xấu.

ðối với các bị cáo Trương T (Hít), Trương L (Tỵ) sau khi có Quyết ñịnh ñưa vụ án ra xét xử thì các bị cáo không thực hiện theo Lệnh cấm ñi khỏi nơi cư trú mà lại bỏ trốn, gây khó khăn cho quá trình xét xử và ngày 18/5/2018 các bị cáo ñã ra ñầu thú và bị tạm giữ. Chứng tỏ các bị cáo chấp hành pháp luật chưa nghiêm.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan ñiều tra và tại phiên tòa các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; có trình ñộ học vấn thấp nên nhận thức pháp luật còn hạn chế; tại ñơn xin xét xử vắng mặt, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo. Riêng bị cáo Trương T (Hít) và bị cáo Trương L (Tỵ) ñều phạm tội lần ñầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; có nhân thân tốt và chưa có tiền án, tiền sự. Do ñó, cần cho các bị cáo hưởng các tiết giảm nhẹ ñược quy ñịnh tại ñiểm h, p khoản 1 và khoản 2 ðiều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Do các bị cáo T, L có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên Hội ñồng xét xử cần phải xem xét giảm nhẹ phần nào cho các bị cáo khi lượng hình là phù hợp với quy ñịnh tại ðiều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là các anh Nguyễn Ngọc H, Nguyễn Văn N ñã nhận lại tài sản bị mất và không có yêu cầu gì khác nên Hội ñồng xét xử không xét ñến.

Các bị cáo Trương T (Hít), Trương L (Tỵ) không yêu cầu các bị cáo Trần Văn Th (Thục), Nguyễn Xuân H (Cu Kình) phải trả lại số tiền ñã bỏ ra mua xe; anh Nguyễn T không yêu cầu Trần Văn Th (Thục) trả lại số tiền ñã cầm cố. Hội ñồng xét xử xét thấy ñây là sự tự nguyện của họ nghỉ nên chấp nhận.

ðối với anh Nguyễn T và chị Nguyễn Thị H có nhận cầm cố và sử dụng xe mô tô hiệu Sirius, hãng Yamaha, biển kiểm soát 85F1-062.39, nhưng không biết tài sản do bị cáo Trần Văn Th (Thục) trộm cắp mà có nên Cơ quan ñiều tra không xử lý là có cơ sở.

ðối với chìa khóa, chiếc khóa số 8 và chiếc vam mà các bị cáo Th, T, L dùng ñể mở khóa, tháo xe và phá khóa xe ñã bị mất. Cơ quan ñiều tra ñã tiến hành truy tìm nhưng không tìm thấy, do ñó không thu hồi ñược nên Hội ñồng xét xử không xét ñến.

ðối với Trương D hiện nay không có mặt tại ñịa phương nên Cơ quan ñiều tra tách ra xác minh, xử lý sau là phù hợp.

Bị cáo phải nộp án phí theo quy ñịnh của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ðỊNH:

Căn cứ vào ñiểm c khoản 2 ðiều 138; ñiểm g khoản 1 ðiều 48; ñiểm p khoản 1 và khoản 2 ðiều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuyên bố bị cáo Trần Văn Th (Thục) phạm tội "Trộm cắp tài sản". Xử phạt bị cáo Trần Văn Th (Thục) 03 (Ba) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Căn cứ vào ñiểm c khoản 2 ðiều 138; ñiểm p khoản 1 và khoản 2 ðiều 46 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân H (Cu Kình) phạm tội "Trộm cắp tài sản". Xử phạt bị cáo Nguyễn Xuân H (Cu Kình) 02 (Hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt giam thi hành án.

Căn cứ vào khoản 1 ðiều 250; ñiểm h, p khoản 1 và khoản 2 ðiều 46; ðiều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuyên bố bị cáo Trương T (Hít) phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có". Xử phạt bị cáo Trương T (Hít) 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2018.

Căn cứ vào khoản 1 ðiều 250; ñiểm h, p khoản 1 và khoản 2 ðiều 46; ðiều 47 của Bộ luật Hình sự năm 1999. Tuyên bố bị cáo Trương L (Tỵ) phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có". Xử phạt bị cáo Trương L (Tỵ) 04 (Bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 18/5/2018.

Căn cứ vào khoản 2 ðiều 135 và khoản 2 ðiều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội 14. Buộc các bị cáo Trần Văn Th (Thục), Nguyễn Xuân H (Cu Kình), Trương T (Hít) và Trương L (Tỵ), mỗi người phải chịu 200.000ñ (Hai trăm ngàn ñồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền làm ñơn kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 04/6/2018). Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận ñược bản án hoặc ñược tống ñạt hợp lệ.

Cỡ chữ