vanban.org

Bản án 13/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 22/03/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bị cáo Lê Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Bị cáo Lê Thị Q phạm tội “Tiêu thụ tài sản do ng ư ời khác phạm tội mà Áp dụng : Khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2 Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn M và Lê Thị Q - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Bị cáo Lê Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 21 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HÀ TRUNG
TỈNH THANH HOÁ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số : 13/2018/HS-ST
Ngày: 22/3/2018

NHÂN DANH

NƯ ỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘ

I CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÀ TRUNG, TỈNH THANH HOÁ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hoàng Ngọc Tuấn

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Liên

2. Ông Trần Ngọc Châu.

- Thư ký phiên toà: Ông Bùi Văn Tư - Thư k ý Toà án nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà: Ông Đinh Văn Khươ ng - Kiểm sát viên.

Ngày 22 tháng 3 năm 2018, tại Tòa án nhân dân huyện Hà Trung , tỉnh Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ th ẩm thụ lý số 06/2018/TLST-HS ngày 02 tháng 02 năm 2018, theo Quyế t định đưa v ụ án ra xét xử số 11/2018/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 02 năm 2018 đối với các bị cáo:

1/ Lê Văn M, sinh năm 1996; Tại: xã Đ, huyện L, Thanh Hóa; Nơi cư trú : Thôn P, xã Đ, huyện L, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: L ao động tự do; Trình độ văn hóa: 7/12; Dân tộc: Kinh ; Giới tính: Nam ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn T và bà Nguyễn Thị N; Tiền sự : Không; Tiền án: Không; Nhân thân: Ngày 09/01/2014 bị Tòa án nhân dân thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dươ ng xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thươ ng tích”, ra trại ngày 11/7/2015. Bị bắt tạm giữ từ ngày 30/10/2017 đến ngày 0 8/11/2017 chuyển tạm giam cho đến nay; Có mặt.

2/ Lê Thị Q , sinh năm 1992; Tại: xã H, huyện H, Thanh Hóa; Nơi cư trú:

Thôn T, xã H, huyện H, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao

động tự do; Trình độ văn hóa: 11/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nữ ; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn N và bà Bùi Thị N; có chồng là Lê Minh B và 02 con; Tiền án; tiền sự : Không; Bị cáo hiện đang chấp hành lệnh cấm đi khỏi nơ i cư trú; Có mặt.

Ngư ời bị hại : Ạn h Lê Văn S - Sinh năm 1971 (có mặt )

Địa chỉ: Thôn T, xã H , huyện H, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ s ơ v ụ án và diễn biến tại phiên tòa

, nội dung vụ án đư ợc tóm tắt như sau:

Lê Văn M và Lê Thị Q không có đăng ký kết hôn, chung sống với nhau nh ư vợ chồng tại nhà Q. Khoảng 10h ngày 30/10/2017 sau khi cả hai đi ăn sáng về, M nhìn thấ y anh Lê Văn S (là hàng xóm ở sát bên) đóng cổng. Biết không có ai ở nhà nên M nảy sinh ý định trộm cắp tài sản . M đi lại t ư ờng g iáp nhà anh S trèo qua tư ờng đột nhập vào nhà. M vào phòng khách phát hiện thấy có ba chiếc

điện thoại gồm 1 điện thoại Nokia X2 màu đen, một điện thoại Nokia 2700 đang sạc pin và 1 điện thoại Sam sung màu xanh màn hình cảm ứng

để tại bàn uống n ư ớc, M lấy ba chiế c điện thoại bỏ vào túi quần.

M tiếp t ục đi vào phòng ngủ , lục trong tủ quần áo lấy đư ợc 50.000 đ bỏ vào túi quần. M đi lại bàn trang điểm gần cửa ra vào,

mở cánh cửa d ư ới của bàn trang điểm thấy một ví da nam màu nâu,

M không kiểm tra ví mà bỏ luôn vào túi quần, mở ng

ăn kéo bàn trang điểm thấy tiền mặt

và hai chiếc đồng hồ đeo tay, M lấy hết số tài sản trên vào túi quần sau

đó đi ra sân trèo tư ờng về nhà Q.

Về nhà, M đi xuống bếp lấy ví vừa trộm cắp

đư ợc ra kiểm tra thì thấy bên trong chỉ có 01 chứng minh th ư mang tên Lê Văn S, đồng thời kiểm tra số tiền

vừa trộm cắp đư ợc tổng 6.100.000 đ. Kiểm tra xong M đốt chiếc ví cùng chứng minh thư mang tên Lê Văn S. Đốt ví xong, M gọi Q lên nhà và đưa cho Q 5.000.000đ, Q hỏi M “tiền ở đâu mà nhiều thế?” M nói với Q “tiền lấy trộm bên nhà ông

S”. Q cầm tiền cất vào n gư ời. Còn M bỏ ba chiếc điện thoại cùng hai chiếc đồng hồ đeo tay vừa trộm đư ợc vào túi nilong cùng Q mang về nhà M ở thôn P , xã Đ cất giấu vào trong rương lúa. Gi ấu x ong, M và Q ra tiệm vàng H ở tiểu khu 1 thị trấn

H, Q mua một chỉ vàng (dạng nhẫn tròn)

với giá 3.560.000 đ, số tiền còn lại

Q mua sữa cho con và đồ dùng cá nhân hết. Đến chiều cùng ngày, Q không có tiền sử dụng lại đem chiếc nhẫn trên bán cho tiệm vàng V ở tiểu khu 3, thị trấn H lấy 3.450.000

đ, Q đưa cho M 1.000.000đ còn lại Q giữ; Gia đình anh S bị mất tài sản,

nên đã báo cáo với Công an , M nhận thấy hành vi trộm cắp tài sản của mình, không thể tr

ốn tránh đư ợc nên xin đầu thú với c ơ quan đi ều tra Công an huyện Hà Trung và khai báo toàn bộ hành vi phạm tội của mình.

Tiến hành khám xét khẩn cấp

nơi ở của Lê Văn M thu giữ đư ợc: một điện thoại Nôkia X2, màu đen đã qua sử dụng ; một điện thoại Nôkia 2700, màu đen, đã qua sử dụng ; một điện thoại Sam sung màn hình cảm ứng, mặt tr

ư ớc và mặt sau đã bị vỡ cùng hai chiếc

đồng hồ đeo tay nhãn hiệu BOSCH và CREMIC. Đồng thời M và Q đã giao nộp số tiền 4.000.000

đ, còn số tiền 2.100.000 đ các đối t ư ợng đã tiêu sài hết ch ưa kh ắc phục đư ợc.

Tại bản kết luận

định giá tài sản ngày 06/11/2017 Hội

đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Hà Trung

định giá b a chiếc điện thoại (Nôkia X2 màu đen, Nôkia 2700 màu đen và Sam sung màn hình cảm ứng đã bị vỡ) và hai chiếc đồng hồ đeo tay nhãn hiệu BOSCH và CREMIC có tổng giá trị là 1.075.000 đ.

Tổng giá trị tài sản trộm cắp trong vụ án này là 7.175.000

đ (Bảy triệu mộ t trăm bảy l ăm nghìn đồng).

Tại bản cáo trạng số

10/CT-VKS ngày 01/02/2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hoá đã truy tố Lê Văn M về tội “T rộm cắp tài sản ” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự n

ăm 1999; Lê Thị Q về tội “Tiêu thụ tài sản do ngư ời khác phạm tội mà có” theo khoản 1 Điều 250 Bộ luật hình sự năm 1999.

Tại phiên toà, đại diện Vi ện kiểm sát nhân dân huyện Hà Trung giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị áp dụng : khoản 1 Điều 138, điểm p khoản 1 khoản 2 Điều 46, Điều 3 3 Bộ l uật hình sự n ăm 1999, xử phạt Lê Văn M từ 09 đến 12 tháng tù. Áp dụng khoản 1 Điều 250, điểm h, p khoản 1 Điều 46, Điều 60 Bộ luật hình sự năm 1999, xử phạt Lê Thị Q từ 06 đến 09 tháng tù nhưng cho hư ởng án treo . Đối với số tiền anh S khai bị chiếm đoạt 27.400.000đ như ng không có căn cứ để chấp nhận mà chỉ có cơ sở chứn g minh số tiền bị mất là 6.100.000đ. Buộc các bị cáo phải bồi thư ờng số tiền còn lại 2.100.00 cho anh S.

Các bị cáo biết hành vi phạm tội của mình là vi phạm phát luật, nên

đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :

Trên cơ s ở nội dung vụ án, c

ăn cứ vào các tài liệu trong hồ s ơ v ụ án đã đư ợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội

đồng xét xử nhận

định nh ư sau:

[1]. Về hành vi, quyết địn h tố tụng của C

ơ quan đi ều tra huyện Hà Trung, Điều tra viên; Viện Kiểm sát huyện Hà Trung, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục

và thời gian theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự

. Quá trình điều tra , truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những ngư ời tham gia tố tụng

không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của C ơ quan ti ến hành t ố tụng, ng ư ời tiến hành tố tụng;

Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của

Cơ quan ti ến hành tố tụng, ng

ư ời tiến hành tố

tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo

Lê Văn M và Lê Thị Q đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình

đúng như cáo tr ạng Viện kiểm sát truy tố . Đối chiếu lời khai nhận của

các bị cáo với lời khai của

bị hại , ngư ời làm chứng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ s

ơ v ụ án là hoàn toàn phù hợ p; Hội đồng xét xử có đủ c ơ s ở kết luận :

Khoảng 10h00’ ngày 30/10/2017 Lê Văn M lợi dụng gia đình anh Lê Văn S, trú tại thôn T, xã H, huyện H là hàng xóm nhà mẹ

Q đi vắng , M đột nhập v ào nhà trộm cắp tài sản với tổng giá trị 7.175.000

đ. Q biết đư ợc số tiền trên do phạm tội mà có như ng vẫn nhận của M 5.000.000đ để chi ti êu cá nhân và chi tiêu gia đình .

[3]. Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi

của các bị cáo:

Quyền sở hữu tài

sản luôn đư ợc pháp luật bảo vệ nh

ưng M đã không bỏ sức lao động chân chính để có đư ợc, lợi dụng việc sự s

ơ h ở của gia đình anh S khi không có ai ở nhà nên M đã lén lút trộm cắp . Đối với Q là ngư ời sống chung như vợ chồng với M, sau khi M chiếm đoạt đư ợc tiền và đư a cho Q, tuy không có bàn bạc trư ớc như ng Q biết số tiền này do phạm tội mà có đã không ngăn cản mà vẫn nhận để xử dụng vào việc chi tiêu cá nhân. Hành vi trộm cắp tài sản

và hành vi tiêu thụ tài sản do phạm tội mà có của các bị cáo là nguy hiểm, táo tợn, gây hoang mang tâm lý trong nhân dân và gây mất trật tự xã hội nên cần phải

đư ợc xử lý nghiêm nhằm r

ăn đe, giáo dục và phòn g ngừa chung.

[4]. Về nhân thân và tình tiết t ăng nặng , giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo không phải chịu tình tiết

tăng nặng.

Đối với M trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo

đã thành khẩn khai báo và sau khi phạm tội đã ra đầu thú . Nên cần áp dụng điểm p khoản 1 và khoản 2 Điều 46 của BLHS 1999 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo

để bị cáo thấy đư ợc sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với Q trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo

đã thành khẩn khai báo ăn năn hối cải; phạm tội lần

đầu và thuộc tr ư ờng hợp ít nghiêm trọng

, bản thân luôn chấp hành chủ tr ương chính sách pháp lu ật của nhà n ư ớc tại địa ph ương (có xác nhận của UBND xã) . Nên cần áp dụng điểm h, p khoản 1 , khoản 2 Điều 46 của BLHS 1999 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo

để bị cáo thấy

đư ợc sự khoan hồng của pháp luật.

Lê Văn M năm 2014 đã bị xét xử 02 năm 09 tháng tù về tội “Cố ý gây thươ ng tích” tuy đã đư ợc xóa án tích như ng đây thể hiện việc bị cáo coi thư ờng pháp luật , căn cứ vào nhân thân, hành vi phạm tội . Nên cần xử cách ly bị cáo ra khỏi cộng

đồng xã hội một thời gian để cải tạo giáo dục là cần thiết.

Lê Thị Q căn cứ vào n hân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và mức

độ nguy hiểm của tội phạm: Do bị cáo có n

ơi cư trú r õ ràng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, nhân thân tốt nên Hội

đồng xét xử thấy rằng không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà cần áp dụng

Điề u 60 của B ộ luật hình sự cho bị cáo

đư ợc hư ởng án treo và giao cho chính quyền địa ph ương theo d ỏi giám sát cũng đủ điều kiện Q sau này trở thành ng ư ời công dân tốt.

[5]. Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định của pháp luật các bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền

. Tuy nhiên theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của các bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy, các bị cáo là l ao động tự do, không có thu nhập , không có tài sản riêng, Q đang nuôi con nhỏ . Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

[6]. Về trách nhiệm dân sự :

Theo báo cáo của gia đình anh S ngày 30/10/2017 gia đình anh bị mất số tiền

27.400.000đ. Quá trình điều tra M khai báo tổng số tiền trộm

đư ợc của nhà a nh S vào ngày 30/10/2017 là 6.100.000đ và số tài sản là đồng hồ, điện thoại , ví da ngoài ra không lấy thêm gì khác. Tại Cơ quan điều tra và tại phiên tòa anh S không đư a ra đư ợc tài liệu chứng cứ chứng minh việc có số tiền trên, mà M và Q thừa nhận có lấy số tiền là 6.100.000đ. Do đó không đủ c ăn cứ để kết luận bị can

M trộm cắp của gia đình anh S 27.400.000 đồng nh ư gia đ ình anh S báo cáo. Tại phiên tòa anh S đề nghị và chấp nhận do không có tài liệu chứng cứ chứng minh số tiền bị mất 27.400.000đ, nên anh đồng ý và đề nghị số tiền anh bị mất là 6.100.000đ, hiện nay anh đã nhận đư ợc 4.000.000đ còn lại số tiền 2.100.000đ anh yêu cầu buộc các bị cáo phải bồi thư ờng cho anh.

Như vậy do M là ngư ời trực tiếp phạm tội nên cần buộc M phải bồi thư ờng cho anh S số tiền còn lại là 2.100.000đ.

Đối với 03 chiếc điện thoại và 02 chiếc đồng hồ hiện nay anh S đã nhận lại và nay anh không có yêu cầu gì, nên miễn xét.

Đối với chiếc ví và giấ y tờ tùy thân anh S không yêu cầu bồi thư ờng đây là sự tự nguyện của anh nên cần chấp nhận .

. Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và M phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH :

1. Tuyên bố:

Bị cáo Lê Văn M phạm tội “Trộm cắp tài sản”

.

Bị cáo Lê Thị Q phạm tội “Tiêu thụ tài sản do ng ư ời khác phạm tội mà

có”

- Áp dụng : Khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1, khoản 2

Điều 46; Điều 33 của Bộ luật hình sự

1999.

Xử phạt: Bị cáo Lê Văn M: 09 (Chín) tháng tù. Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ 30/10/2017.

- Áp dụng : Khoản 1 Điều 250; điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46; khoản 1, 2 Điều 60 của Bộ luật hình sự

1999.

Xử phạt: Bị cáo Lê Thị Q : 06 (S) tháng tù nhưng cho hư ởng án treo, thời gian thử thách là 12 (Mư ời hai) tháng tính từ ngày tuyên án s ơ th ẩm.

Giao bị cáo Lê Thị Q cho Ủy ban nhân dân xã Hà Phong, huyện Hà Trung, tỉnh Thanh Hóa giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.

Trư ờng hợp ng ư ời đư ợc h ư ởng án treo thay đổi n ơi cư trú th ì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.

2. Về trách nhiệm dân sự và vật chứ

ng: Áp dụng Điều 589; Điều 357 của Bộ luật dân sự; khoản 1 Điều 42 của Bộ luật hình sự.

Buộc Lê Văn M phải bồi th ư ờng cho anh Lê Văn S số tiền 2. 100.000đ (Hai triệu một trăm nghìn đồng ).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, ng

ư ời đư ợc thi hành khoản tiền bồi

thư ờng hoặc thi hành không đầy đủ thì hàng tháng phải trả lãi theo quy

định tại Điều 468 Bộ luật dân sự, t ương ứng với thời gian và số tiền chậm trả.

3. Về án phí : Áp dụng: Áp dụng: Khoản 2 Điều 136 Bộ Luật tố tụng hình sự;

khoản 1, 3 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy

ban thư ờng vụ Quốc Hội. Bu

ộc Lê Văn M và Lê Thị Q mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đ án phí hình sự s ơ th ẩm ; bị cáo Lê Văn M phải chịu 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm .

Trư ờng hợp bản án

đư ợc t hi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì ngư ời phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị c ư ỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án

đư ợc thực hi ện theo điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Về quyền kháng cáo : Bị cáo Lê Văn M và Lê Thị Q , bị hại anh Lê Văn S có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ