- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp đòi tài sản trong hđ vay tài sản"
- Tòa quyết gì? - Chấp nhận yêu c u hởi i n “Tranh chấp đòi tài sản” của bà Nguyễn Thị H đối với bà Võ Thị Kim T về vi c đòi tài sản là 03 lượng vàng 18 ara.
- Căn cứ chính? Điều 137 Bộ luật Dân sự; Điều 184 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 185 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH ĐỒNG NAI Bản án số: 13/2017/DS-ST Ngày 15-11-2017 “V/v tranh chấp đòi tài sản” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỊNH QUÁN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trịnh Thị Kha
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Phạm Văn Sơn
Bà Nguyễn Thị Quy
-Thư ký phiên tòa: Bà Tr n Thị Thắm- Thư Tòa án nh n d n huy n Định uán
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Định Quán tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan- Kiểm sát viên
Ngày 15 tháng 11 năm 2017 tại trụ sở TAND huy n Định uán, xét xử sơ thẩm công hai vụ án thụ l số 136/2016/TLST-DS ngày 29 tháng 12 năm 2016, thụ l bổ sung số 26/2017/TLST-DS ngày 30/8/2017 về vi c “Tranh chấp đòi tài sản” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 18/2017/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 9 năm 2017 và Quyết định hoãn phiên tòa số 05/2017/QĐST- DS ngày 25 tháng 10 năm 2017 giữa các đương sự:
-Nguyên đơn:
Bà Nguyễn Thị H - sinh năm 1966, “có mặt”
HKTT: Khu 1, ấp Suối Soong 2, xã Phú Vinh, huy n Định uán, tỉnh Đồng Nai
-Bị đơn:
Bà Võ Thị Kim T - sinh năm 1972, “vắng mặt”
HKTT: Số 76, tổ 3, hu phố 114, TT Định uán, huy n Định uán,Đồng Nai
-Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
Ông Đoàn Văn K – sinh năm 1966, “có mặt”
HKTT: Khu 1, ấp Suối Soong 2, xã Phú Vinh, huy n Định uán, tỉnh Đồng Nai
Ông Chúng Văn X- sinh năm 1970, “vắng mặt”
HKTT: Số 23, phố 4, ấp 3, xã Phú Lợi, huy n Định uán, tỉnh Đồng Nai
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 28/11/2016, đơn khởi kiện bổ sung ngày 30/8/2017 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Thị H trình bày:
Bà và ông K là vợ chồng Bà và bà T là có quan h họ hàng với bà con bên chồng của bà Số vàng và đô la mà bà cho bà T mượn là tài sản chung của vợ chồng bà
Nguồn gốc số vàng và đô la Mỹ mà bà cho bà T mượn là do vợ chồng bà có hoảng 4 ha đất nông nghi p chuyên canh trồng lúa một năm trồng được 3 vụ lúa và 2,3 ha đất trồng điều tại xã Phú Vinh, huy n Định uán Cả gia đình bà 6 thành viên (vợ chồng bà và 4 người con nhưng lúc đó còn nhỏ) đều làm nông nghi p èm theo buôn bán tạp hóa nhỏ trong hu d n cư vùng s u Thu nhập chính trong gia đình từ thu hoạch lúa, điều, chăn nuôi heo và nấu rượu đồng thời buôn bán tạp hóa nhỏ Hàng năm sau hi thu hoạch lúa nếp và điều thì vợ chồng bà có dành dụm được một số tiền và những năm trước đ y gia đình bà đều trúng lúa với giá lúa nếp hơn 4000đồng/1 g nên vợ chồng bà đều dư tiền để cất trữ Lúc đ u vợ chồng bà mua thêm đất lúa, đất rẫy Sau đó cho mượn tiền để lấy lãi và một ph n để mua vàng và đô la cất trữ để sau này lo cho các con và sửa chữa nhà cửa Vào năm 2005 sau khi gom được đủ 1 số tiền từ thu hoạch lúa và điều bà đã đi ra ti m vàng Thanh Bình Phúc ở uốc lộ 20 đối di n chợ C u Trắng của huy n Định uán mua đô la mỹ Bà đã mua được 1000 đô la mỹ tổng cộng 10 tờ, mỗi tờ m nh giá 100 đô với giá 16 000 000 đồng Vi c mua bán đô la bà hông có hóa đơn chứng từ của ti m vàng mà chỉ trả tiền Vi t Nam đồng rồi nhận đô la Mỹ
Đến đ u năm 2006 bà trúng lúa và điều nên bà có thêm tiền cất trữ và l n này bà hông mua đô la mỹ nữa mà bà chuyển sang mua vàng Bà cũng ra ti m vàng Thanh Bình Phúc nêu trên để mua vàng Bà đã mua vàng 2 l n ở ti m vàng này L n thứ nhất bà mua 1 c y loại vàng miếng SJC 9999 và bà đã mua 1 miếng với giá 12.000.000 đồng L n thứ hai cách l n thứ nhất hoảng 4 tháng (sau 1 vụ lúa) bà lại ra ti m vàng này mua tiếp 2 c y vàng loại vàng miếng SJC 9999 với giá 24 000 000 đồng Vi c mua vàng SJC 9999 cũng hông có hóa đơn chứng từ gì cả Sau hi bà mua được đô la mỹ và vàng SJC 9999 nêu trên được hoảng hơn 3 tháng thì bà T gọi đi n hỏi mượn tiền Nhưng bà nói bà hông có tiền mà chỉ có vàng vậy bà T có mượn hông thì bà T đồng mượn
Trước hi bà cho bà T mượn vàng và đô la mỹ vào tháng 7 năm 2006 thì bà có cho bà T mượn nhiều l n tiền với số tiền tổng cộng là 90.000.000 đồng nhưng hông có giấy tờ gì nên bà cũng hông i n đòi được Cụ thể vào năm 2004- 2005 thông qua người chị em bạn d u của bà tên là Hương thì bà mới biết bà T là người môi giới cho vay tiền lấy lãi Cô Hương nói với bà là chị có tiền thì đưa em để đưa cho bà T để bà T cho người hác vay iếm tiền lời mà nuôi con Thấy có l nên hi trúng lúa bà hông mua đất nữa mà có đưa cho cô Hương mấy l n hoảng hơn 15 tri u đồng và cô Hương có đưa cho bà T để bà T cho người hác mượn lấy lời Bà có nhận được mấy tháng tiền lời từ cô Hương. Sau đó bà T biết bà có tiền dư nên đã trực tiếp liên h với bà và từ đó trong hoảng 2 năm 2004 – 2005 bà đã rất nhiều l n đưa cho bà T tiền để bà T cho người hác mượn với tổng số tiền 90 tri u đồng và có nhận từ bà T được tổng cộng hoảng 20 tri u đồng tiền lãi Số tiền 90 tri u đồng bà T nhận từ bà hông có giấy tờ vay mượn gì cả Bà thấy hàng tháng bà T đều đưa tiền lãi đ y đủ nên bà cũng rất tin tưởng hông nghi ngờ gì Hơn nữa bà T còn mượn tiền của rất nhiều người trong xóm bà ở mà cũng hông có giấy tờ gì giống như bà nhưng đều trả lãi uy tín Cụ thể cô Hương là chị em bạn d u của bà đã cho bà T mượn hoảng 70-80 tri u đồng mà cũng hông có giấy tờ giống như bà nên b y giờ cũng hông đòi được Một trường hợp hác là bà Tư Em ở trong xóm bà cũng cho bà T mượn 20 tri u đồng nhưng cũng hông có giấy tờ và mới nhận tiền lãi được hoảng 1 tháng thì bà T bể nợ
Vào năm 2006 bà T có gọi đi n thoại cho bà hỏi mượn tiền mặt để giải quyết công vi c và trong vòng một tu n lễ là trả Bà có nói với bà T bà hông có tiền mặt mà chỉ có vàng thì bà T có đồng mượn hông Bà T đồng mượn Buổi sáng bà T gọi đi n hỏi mượn tiền của bà thì đến buổi chiều bà T đến nhà bà để nhận vàng Bà có giao cho bà T mượn vàng miếng SJC 9999 loại vàng miếng và tổng cộng là 3 miếng vàng SJC 9999 trị giá 03 c y Bà T nói như vậy hụt quá hông đủ để giải quyết công vi c nên bà có nói vậy thì em còn 1000 đô la Mỹ chị có mượn hông Bà T đồng mượn và bà đã giao cho bà T mượn 1000 đô la mỹ, tổng cộng 10 tờ m nh giá 100 đô la Vi c giao nhận vàng và đô la cho mượn giữa bà và bà T diễn ra ngay tại nhà bà và hông có ai làm chứng và cũng hông viết giấy tờ gì vì bà nghĩ chỉ mượn một tu n thôi là trả nên hông làm giấy Hai bên cũng hông thỏa thuận trả lãi và định của bà cũng không lấy lãi vì bà T vay đỡ 1 tu n Vi c cho mượn vàng và đô la thì ông K chồng của bà hông biết mà đến chiều ông K đi làm về bà nói cho ông K thì ông K mới biết Ông X hông vào nhà bà nhận vàng và đô la mà chỉ có một mình bà T.
Đến hạn một tu n trả nợ bà T hông trả, bà T hẹn tiếp 1 tu n nữa nhưng cũng không trả được rồi lại hẹn tiếp 01 tháng sẽ trả cho bà nhưng cũng hông trả nợ cho bà Đúng hẹn 01 tháng bà có ra nhà bà T để tìm bà T thì thấy mọi người ở đó rất đông và lúc đó bà mới biết bà T bị bể nợ Thấy vậy đợi mọi người về hết bà mới năn nỉ bà T viết giấy nội dung mượn của bà 3 c y vàng và 1000 đô la mỹ Bà nói với bà T nếu bà T hông viết giấy mượn vàng và đô la của bà thì chồng bà là ông K sẽ giết bà chết Lúc đó trong nhà bà T chỉ còn bà T và 1 đứa bé Thấy bà khóc năn nỉ thì bà T đã viết giấy mượn nợ đưa cho bà. Bà khẳng định chữ và chữ viết trong giấy mượn vàng và đô la là của bà T tự viết. Nội dung giấy mượn vàng và đô la mỹ là tự bà T ghi theo của bà T chứ bà cũng không đọc cho bà T viết. Bà chỉ kịp nhìn thấy bà T ghi có chữ vàng và đô la mỹ trong tờ giấy đó thì cảm thấy yên t m ph n nào chứ bà cũng không để là bà T không ghi cụ thể loại vàng. Bà còn bảo bà T sao không ghi luôn cả số tiền 90 000 000 đồng bà đã cho bà T mượn trước đó thì bà T nói là khoản tiền đó từ từ rồi tính chứ b y giờ đ u óc bà ấy rối bời.
Sở dĩ bà hông hởi i n bà T trong năm 2006 và bà cũng biết vi c bà T ông X bị bà L m Thị Miên lúc đó là cán bộ Tòa án, bà Nguyễn Thị Bích T là chủ cửa hàng đi n máy Minh Ch u và bà Tr n Yến u n là chủ ti m vàng Thanh Bình Phúc đều ở thị trấn Định uán đã cùng hởi i n Bà hông đến Tòa mà chỉ biết được thông tin 3 người này đã dàn xếp được với bà T và ông X phải giao nhà cho họ bán để chia ph n nợ Họ còn giao lại cho bà T ông X số tiền bán nhà còn lại hoảng hơn 200 tri u đồng Nhưng bà không khởi ki n bà T vào năm 2006 là bởi vì do hông hiểu biết pháp luật nghĩ đơn giản rằng bà T đã viết giấy nhận nợ với bà như vậy để làm tin là đủ. Hơn nữa bà T nói là người nhà nên thông cảm để từ từ bà T trả Thêm ph n ông Trai là bố đẻ của bà T cũng vô nhà bà vừa hóc vừa nói rằng con T bể nợ ông Trai thấy nhục nhã lắm nên mong vợ chồng bà thông cảm để bà T làm có tiền rồi trả sau Hơn nữa hi bà biết bà T bán nhà trả nợ còn dư được hơn 200 tri u nghĩ là người nhà bà T sẽ dấu những chủ nợ hác mà trả cho bà. Nhưng bà không ngờ được rằng sau khi bán được nhà trả nợ thì bà T ông X đã ôm tiền bỏ đi đ u không rõ.
Khi vợ chồng bà biết tin bà T ông X không còn ở Định Quán nữa mà lại hông biết đi đ u nên vợ chồng bà đã đi tìm iếm hắp nơi nhưng chẳng tìm được Thấy vợ chồng bà hổ sở quá nên ông Thanh (hi n nay đã chết rồi) là anh của bà T mới chỉ đường cho ông bà biết bà T ông X đang ở thị xã Thủ D u Một của tỉnh Bình Dương. Khoảng hơn 1 năm sau hi bà T bỏ trốn thì bà mới biết được nơi bà T ở Bà cùng con d u lặn lội đi tìm 2 l n thì 1 l n đ u có gặp được bà T ông X Bà T thì hóc lóc năn nỉ bà thông cảm chờ thêm một thời gian nữa bà sẽ trả còn ông X thì buông lời đe dọa là coi chừng ông ấy L n thứ 2 cách l n thứ nhất g n nửa năm hông thấy bà T trả nợ nên bà lại đi tìm gặp nữa nhưng l n này bà lại tìm hông thấy bà T.
Khoảng mấy năm sau bà mới gặp lại bà T về lại Định uán Cụ thể là l n bà đi đón con đi học về ở trường Chu Văn An nên đã gặp bà T đang đứng đón con đi học về ở ngay cổng trường Bà đòi nợ thì bà T lại tiếp tục hóc lóc năn nỉ từ từ cho bà T trả Mấy l n tiếp theo ở cổng trường Chu Văn An bà đều gặp bà T, bà tiếp tục đòi nợ thì bà T lại hóc Bà cùng chồng và 2 con gái đến tận nhà bà T ông X lúc đó ở xã Phú Hòa để đòi nợ nhưng hông gặp bà T mà chỉ gặp ông X Ông X nói rằng bà T thiếu nợ bà thì gặp bà T mà đòi chứ ông X hông biết gì cả Tới nhà thì hông gặp bà T vì bà T đi làm nên mấy l n gặp ở ngoài đường bà đều đòi nợ bà T lại tiếp tục hất nợ Nghĩ là họ hàng nên bà hông bao giờ to tiếng và vẫn cứ tin tưởng lời bà T hất hẹn Khi tìm được chỗ làm của bà T ở nhà nghỉ Văn Minh ở uốc lộ 20 TT, Định uán bà và con gái đi đến nơi bà T làm thuê để đòi nợ Tại đ y bà T lại hóc và hất nợ với bà L n cuối cùng vào năm 2016 bà gặp bà T đang đi xe máy từ cổng nhà bố đẻ ra quốc lộ 20 Lúc đó bà đang đi chợ C u Trắng về Bà nói bà T dừng lại để nói chuy n nhưng bà T hông dừng xe mà tiếp tục đi nên buộc lòng bà phải chạy xe theo và cúp ngang đ u nhưng bà T vẫn hông dừng xe và vừa đi vừa chửi bà thách bà đi i n Bà nghĩ đến nước này hông còn tình cảm bà con họ hàng gì nữa nên bà đã nộp đơn hởi i n bà T vào cuối năm 2016.
Đối với số tiền bà cho bà cho bà T mượn là 90.000.000 đồng thì bà hông hởi i n đòi bà T vì bà hông có giấy tờ gì để hởi i n bà T trả số tiền 90 tri u đồng này cả Bà chỉ có giấy tờ về vi c bà T mượn vàng và đô la mỹ của bà nên bà mới i n
Thực tế loại vàng bà cho bà T mượn là vàng miếng SJC 9999 nhưng trong giấy tờ lại hông ghi rõ loại vàng gì Vì vậy bà xin chịu thi t một ph n và tự nguy n chỉ yêu c u bà T trả cho bà loại vàng 18 a ra với số lượng là 03 (ba) lượng. Đối với 1000 đô la Mỹ thì bà hông yêu c u trả đô la Mỹ mà bà yêu c u trả tiền Vi t Nam đồng tương đương là 22.456.000 đồng theo tỷ giá của ng n hàng nhà nước công bố tại thời điểm xét xử sơ thẩm. Bà không yêu c u bà T trả lãi. Ngoài ra bà hông yêu c u Tòa án giải quyết vấn đề nào hác
Đối với ông Chúng Văn X thì bà có đã có đơn rút yêu c u hởi i n đối với ông X vào ngày 30/8/2017 và bà hông yêu c u ông X trả nợ cho vợ chồng bà nữa
Trong bản khai ngày 09/01/2017, biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 09/3/2017 , ngày 16/8/2017, biên bản làm việc ngày 14/8/2017 bị đơn bà Võ Thị Kim T trình bày:
Bà thừa nhận giữa bà và chồng bà H có mối quan h là họ hàng xa. Vi c bà H hởi i n bà và ông X yêu c u trả 3 lượng vàng 18kara và 22 600.000 đồng tương đương 1000 đô la mỹ mà bà đã mượn thì bà hông đồng Bởi vì bà hông hề mượn vàng và đô la mỹ của bà H. Và bà cũng hẳng định từ trước tới giờ bà hông vay mượn tài sản gì của bà H ông K.
Vào năm 2006 bà có nợ tiền vay của bà Miên lúc đó đang làm ở Tòa án Định Quán, bà Thủy là chủ cửa hàng đi n máy Minh Ch u và bà u n là chủ ti m vàng Thanh Bình Phúc ở chợ C u Trắng Bà là người phải viết giấy vay tiền nhưng sổ đỏ c m cho chủ nợ và người nhận tiền vay là một người hác Họ có cho bà chút ít quà chứ hông có tiền lời gì cả Theo bà sở dĩ bà Miên bà Thủy bà u n cho bà viết giấy nợ là vì họ chỉ biết bà. Khi người này bỏ trốn thì bà là người viết giấy vay tiền nên bà phải giao nhà cho 3 người nêu trên để bán cấn trừ nợ Còn dư lại mấy chục tri u đồng bà cũng trả nợ cho 2 người hác Bà H có gặp bà ở cổng trường tiểu học Chu Văn An tiếp tục đòi nợ thì có sự vi c đó Nhưng bà H hông đòi nợ bà mà chửi anh bà nợ vàng của bà ấy hông trả nên mới chết Bà tức quá nên đã chửi lại Có l n bà H gặp bà từ trong nhà bố đẻ đi ra và bà H đòi nợ bà chặn xe của bà nhưng bà H hông đòi nợ bà mà là lôi anh bà nợ vàng của bà ấy ra nên hai bên đã cãi nhau và bà H ép xe bà.
Đối với chữ viết và chữ k trong giấy mượn vàng và đô la mỹ có nội dung : t i tên: õ Thị im T t i có mượn của mợ H cây vàng
ngàn đ m t ngày
D
trong một tháng t i s trả cho mợ cây vàng
đến
t i s trả mợ cây Nếu có gì t i hoàn triệu trư c pháp luật Người mượn tên T và ghi rõ họ tên Võ Thị Kim T thì chữ và chữ viết trong giấy này không phải của bà. Bởi vì bản th n bà chỉ mới biết tập viết g n đ y và chỉ viết được theo mẫu sẵn có. Sau hi nhận được thông báo về yêu c u giao nộp bổ sung tài li u chứng cứ số 21 ngày 20/02/2017 của Tòa án nh n d n huy n Định uán thì bà đã giao nộp chứng cứ cho Tòa án vào ngày 27/02/2017 là tài li u “Đề nghị vay vốn” ngày 30/8/2016 có chữ và họ tên của bà. Và cho đến nay bà hông có chứng cứ nào hác để giao nộp cho Tòa án. Bà không yêu c u Tòa án trưng c u giám định chữ và chữ viết của bà. Nếu bà H ông K có yêu c u giám định chữ viết và chữ của bà thì ông K bà H yêu c u Nếu ết quả giám định giấy mượn tiền là chữ viết và chữ của bà thì bà xin chịu trách nhi m trả vàng và đô la cho bà H ông K. Qua ết luận giám định của Ph n vi n hoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh- Tổng cục cảnh sát đã ết luận chữ và chữ viết là của bà thì bà hông thừa nhận Bởi vì các giấy tờ vay mượn tiền của bà Thủy, bà Trang và bà Qu n là do con nợ bỏ trốn nên bà mới phải cùng ông X bán nhà để trả nợ. Do đó bà không đồng trả nợ cho bà H ông K theo yêu c u khởi ki n của bà H.
Trong biên bản lấy lời khai của đương sự ngày
và đơn xin vắng mặt người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ng Chúng ăn X trình bày:
Ông đã nhận được Thông báo thụ l vụ án số 136/2016/TLST-DS ngày 29/12/2016 của TAND huy n Định uán, tỉnh Đồng Nai và đơn hởi i n và các tài li u chứng cứ của nguyên đơn Ông là chồng của bà Võ Thị Kim T hai vợ chồng ly hôn đ u năm 2006 nhưng ông hông biết là còn giữ quyết định của Tòa án hông nữa Giữa ông với bà Nguyễn Thị H- sinh năm 1966 và ông Đoàn Văn K- sinh năm 1966, địa chỉ: Khu 1, ấp Suối Soong 2, xã Phú Vinh, huy n Định uán, tỉnh Đồng Nai hông có quan h họ hàng gì cả. Về sự vi c ngày 15/7/2006 thì bà H có cho bà Võ Thị Kim T vay 03 c y vàng (dạng miếng 9999, giá vàng vào thời điểm cho vay là 12 000 000đ/01 c y vàng) và 1000 đô la Mỹ (tỷ giá đô la Mỹ vào thời điểm cho vay là 16 000đ/ 01 USD) Khi bà T hất nợ với bà H thì bà T có viết giấy hẹn trong một tháng sẽ trả nợ cho bà H thì ông hông biết sự vi c này. Thời điểm tháng 7/2006 ông có qua Bình Dương làm ăn nên hông có ở nhà và sự vi c bà H đến nhà tôi đòi nợ ngày 23/7/2006 thì ông hông có biết.
Về sự vi c bà T viết giấy nợ có nội dung bà T có nợ bà H 03 c y vàng và 1000 đô la mỹ, hẹn trong vòng một tháng tính từ ngày 23/7 DL 206 bà T sẽ trả cho bà H 01 c y vàng 4/9 và hẹn đến ngày 04/10 bà T sẽ trả cho bà H 01 c y thì do thời điềm này ông đang làm ở Bình Dương nên ông hông biết sự vi c bà T có viết giấy hẹn nợ giữa bà T và bà H.
Nay bà Nguyễn Thị H yêu c u ông và bà Võ Thị Kim T phải trả số nợ gốc là 03 c y vàng 9999 (tính theo giá vàng bán ra tại thời điểm ngày 21/11/2016 là 33 812 000 đồng /01 c y) tương đương số tiền 101 436 000 đồng và 1000 USD (tính theo tỷ giá bán USD tại thời điểm ngày 21/11/2016 là 22 600 đồng/ USD tương đương số tiền là 22 600 000 đồng), tống cộng là 124 036 000 đồng thì ông hông biết sự vi c vay nợ này giữa bà Nguyễn Thị H và bà Võ Thị Kim T, ông hông có liên quan nên ông hông đồng trả nợ cho bà Nguyễn Thị H. Ngoài ra ông yêu c u Tòa án cho ông được vắng mặt trong quá trình giải quyết vụ án vì ông bận công vi c hông thể đến Tòa án làm vi c theo giấy tri u tập
Trong qua trình giải quyết vụ án người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ng Đoàn Văn K trình bày: Ông thống nhất iến với bà H là bà T phải trả cho ông bà 03 (ba) lượng vàng 18 ara và số tiền mặt 22 456.000 đồng là trị giá quy đổi của 1000 đô la Mỹ Ông cũng thống nhất với kiến của bà H là hông yêu c u ông Chúng Văn X trả nợ cho ông bà nữa
hát bi u của i m sát viên về việc tuân theo pháp luật t tụng của Thẩm phán Hội đồng xét xử Thư k phiên tòa và của người tham gia t tụng trong quá trình giải quyết vụ án và phát bi u kiến về việc giải quyết vụ án:
Thẩm phán đã tiến hành đ y đủ các hoạt động tố tụng về xác định quan h pháp luật, tư cách tham gia tố tụng của đương sự, thẩm quyền giải quyết của Tòa án, thời hạn chuẩn bị xét xử, thời hạn chuyển hồ sơ cho Vi n iểm sát nghiên cứu theo thẩm quyền, thủ tục gửi, cấp và tống đạt các văn bản tố tụng cho Vi n iểm sát và người tham gia tố tụng tất cả đều đúng quy định của pháp luật Hội đồng xét xử đã thực hi n đúng và đ y đủ các ph n của phiên tòa sơ thẩm, ph n thủ tục bắt đ u phiên tòa, ph n tranh tụng tại phiên tòa Thư phiên tòa thực hi n đúng và đ y đủ nhi m vụ, quyền hạn theo luật định Nguyên đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đã thực hi n đ y đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng Bị đơn chưa thực hi n đ y đủ các quyền và nghĩa vụ tố tụng
Ý iến về vi c giải quyết vụ án: ua iểm sát quá trình thụ l giải quyết vụ án và toàn bộ hồ sơ vụ án, nhận thấy rằng, Tòa án đã thực hi n đ y đủ các trình tự thủ tục tố tụng, xác định đ y đủ, đúng các nội dung quy định tại Điều 203 BLTTDS năm 2015, xét theo yêu c u của bà H, cùng các tài li u chứng cứ trong hồ sơ nhận thấy: Bà Nguyễn Thị H là người cho bà Võ Thị Kim T mượn số tài sản là 03 c y vàng và 1000 đô la Mỹ vào năm 2006 Theo bà H hai nhận thì đ y là số tài sản chung của bà và chồng bà là ông Đoàn Văn K có được từ làm nông nghi p là trồng lúa và làm rẫy Vì vậy đ y là tài sản thuộc sở chung của vợ chồng bà H và ông K theo quy định tại Điều 219 Bộ luật d n sự năm 2005 Vi c vay mượn tài sản giữa bà H và bà T vào năm 2006 dựa trên giấy viết tay và sự cam ết tin tưởng lẫn nhau chứ hông
ết hợp đồng Bà T hông thừa nhận vi c mượn số tài sản là 03 c y vàng và 1000 đô la Mỹ nêu trên Tuy nhiên tại ết luận giám định số 1659/C54B ngày 01/8/2017 của Ph n vi n hoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh ết luận chữ viết và chữa trong giấy mượn vàng, đô la mỹ là của bà Võ Thị Kim T. Bà T không thừa nhận kết luận giám định nhưng các tài li u được đưa đi giám định đều thể hi n vi c bà T đã vay mượn tiền của bà Miên, bà Thủy, bà Qu n và đã dàn xếp thỏa thuận bán nhà cho họ cấn trừ nợ. Hơn nữa trong biên bản ghi lời hai của bị đơn là bà Võ Thị Kim T vào ngày 09/3/2017 bị đơn có thừa nhận nếu ết quả giám định giấy mượn tiền là chữ viết và chữ của bị đơn thì bị đơn xin chịu trách nhi m trả vàng và đô la Mỹ cho nguyên đơn. Như vậy vi c bà Võ Thị Kim T có mượn 03 c y vàng và 1000 đô la Mỹ của bà H là hoàn toàn có cơ sở.
Đối với vi c trong giấy vay chỉ ghi là 03 c y vàng nhưng hông ghi rõ loại vàng gì thì nguyên đơn là bà H và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là ông K có thống nhất tính loại vàng là vàng 18 kara có giá bán ra: 2 230 000 đồng, mua vào giá 2 130 000 đồng (theo biên bản xác minh ngày 28/7/2017). Nguyên đơn yêu c u trả vàng nên buộc bị đơn phải trả cho nguyên đơn 03 (ba) lượng vàng 18 ara Đối với giao dịch vay mượn 1000 đô la Mỹ thì giao dịch này vi phạm điều cấm của pháp luật nên giao dịch vô hi u. Do đó buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn số tiền 22.456 000 đồng theo tỷ giá đô la mỹ do ng n hàng nhà nước công bố vào ngày 15/11/2017.
Như vậy chấp nhận yêu c u hởi i n của nguyên đơn và buộc bị đơn phải trả lại cho nguyên đơn 03 (ba) lượng vàng loại vàng 18kara và số tiền 22 456 000 đồng (Hai mươi hai tri u bốn trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
Ngoài ra bị đơn còn phải chịu chi phí giám định theo quy định tại hoản 2 Điều 161 Bộ luật tố tụng d n sự năm 2015, chịu lãi suất chậm trả tiền đối với số tiền 22 456 000 đồng. Bị đơn phải chịu án phí theo quy định theo Pháp l nh án phí, l phí Tòa án. Những iến nghị là hông có
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là ông Chúng Văn X có đơn đề nghị vắng mặt Căn cứ hoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng d n sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt ông X.
Bị đơn bà Võ Thị Kim T đã được tòa án tri u tập hợp l l n thứ hai tham gia phiên tòa sơ thẩm nhưng vắng mặt hông có l do Căn cứ điểm b, hoản 2, Điều 227 của Bộ luật tố tụng d n sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà T.
Về thời hi u hởi i n, quan h pháp luật và tư cách tố tụng của đương sự: Theo giấy mượn vàng, đô la mỹ xác định được bà Võ Thị Kim T có mượn của bà H 03 c y vàng và 1000 đô la mỹ vào năm 2006, trong 01 tháng sẽ trả nợ d n. Bà H và ông K hông tranh chấp về hợp đồng vay tài sản cũng hông yêu c u trả lãi trên số nợ gốc. Do đó áp dụng điểm b, hoản 3 Điều 23 Nghị quyết số 03/2012/N -HĐTP ngày 03/12/2012, Điều 184, 185 của BLTTDS 2015 xác định đ y là tranh chấp về đòi lại tài sản thông qua giao dịch d n sự vay tài sản và hông áp dụng thời hi u hởi i n. Đồng thời cũng xác định quan h pháp luật là “Tranh chấp đòi tài sản” quy định tại khoản 3 Điều 26 BLTTDS năm 2015 Căn cứ Điều 68 của BLTTDS xác định bà Nguyễn Thị H là nguyên đơn, bà Võ Thị Kim T là bị đơn, ông Chúng Văn X và ông Đoàn Văn K là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan
Về đường lối giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị H khởi ki n yêu c u Tòa án giải quyết buộc bà Võ Thị Kim T phải có trách nhi m trả cho bà Nguyễn Thị H và ông Đoàn Văn K 03 (ba) lượng vàng 18 a ra và số tiền Vi t Nam đồng là 22.456.000 đồng tương đương với 1000 đô la Mỹ (theo tỷ giá đô la Mỹ được Ng n hàng nhà nước công bố ngày 15/11/2017) tại thời điểm xét xử sơ thẩm
Chứng minh cho yêu c u khởi ki n bà Nguyễn Thị H cung cấp bản chính giấy mượn vàng và đô la Mỹ có nội dung cụ thể như sau: t i tên: õ Thị im T t i có mượn của mợ H cây vàng
ngàn đ m t ngày
D
trong một tháng t i s trả cho mợ cây vàng
đến
t i s trả mợ cây Nếu có gì t i hoàn triệu trư c pháp luật Người mượn tên T và ghi rõ họ tên Võ Thị Kim T.
Bà Võ Thị Kim T không thừa nhận chữ viết và chữ k trong giấy mượn vàng và đô la Mỹ là của bà. Bà T cung cấp được 01 bản chính Đề nghị vay v n ghi ngày 30/8/2016 của bà Võ Thị Kim T. Ngoài ra bà T không cung cấp được tài li u chứng cứ nào khác thể hi n chữ k và chữ viết của bà T. Bà T có kiến rằng bà T không yêu c u giám định chữ k và chữ viết của bà. Bà H ông K có yêu c u giám định chữ viết và chữ của bà T thì đó là quyền của nguyên đơn Nếu ết quả giám định giấy mượn tiền là chữ viết và chữ của bà thì bà xin chịu trách nhi m trả vàng và đô la cho bà H ông K.
Bà H đã yêu c u Tòa án trưng c u giám định chữ k và chữ viết của bà T. Tài li u bản chính nêu trên của bà T cung cấp cho Tòa án cũng đã được đưa đi giám định. Tại ết luận giám định số 1659/C54B ngày 01/8/2017 của Ph n vi n hoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh đã ết luận như sau: Chữ k mang tên õ Thị im T, chữ viết trên tài liệu có nội dung bắt đầu và kết thúc bằng những t T i tên: õ Thị Kim T t i có… õ Thị im T (k hiệu A) so v i chữ k chữ viết mang tên õ Thị Kim T trên 5 tài liệu mẫu so sánh k hiệu t M đến M 5 là chữ k chữ viết của cùng một người
Bà T không đồng với kết luận giám định của Ph n vi n hoa học hình sự tại thành phố Hồ Chí Minh. Điều đó có nghĩa bà T không thừa nhận vi c bà T nợ của bà Miên, bà Thủy, bà Qu n. Nhưng thực tế vào năm 2006 bà T đã bị bà Miên, bà Qu n và bà Thủy khởi ki n ra Tòa án trên cơ sở các giấy mượn tiền có chữ k và chữ viết của bà T được lập vào năm 2006 và bà T ông X đã phải thỏa thuận với ba người này bán nhà cấn trừ nợ. Giấy mượn vàng và đô la của bà H xuất trình cho Tòa án cũng thể hi n được tài li u này lập vào năm 2006. Tất cả các tài li u này cùng với nhiều tài li u khác đều được cơ quan có thẩm quyền giám định và đưa ra kết luận.
Bên cạnh đó theo quy định tại Điều 91, Điều 96 BLTTDS thì bà T có nghĩa vụ chứng minh và nghĩa vụ cung cấp chứng cứ để chứng minh. Tòa án cũng đã giải thích nghĩa vụ chứng minh cho bà T biết và có thông báo cho bà T bằng văn bản yêu c u bà T cũng cấp tài li u chứng cứ. Tuy nhiên bà T không cung cấp được đ y đủ chứng cứ và không chứng minh được nên phải chịu hậu quả của vi c không chứng minh được hoặc chứng minh không đ y đủ. Vì vậy không có căn cứ chấp nhận lời khai của bà Võ Thị Kim T và có đ y đủ cơ sở khẳng định bà Võ Thị Kim T đã mượn 03 c y vàng và 1000 đô la Mỹ của bà H.
Bà H tự nguy n rút yêu c u khởi ki n đối với ông Chúng Văn X và không yêu c u ông X trả nợ cho vợ chồng bà. Đồng thời do trong giấy mượn vàng và đô la mỹ chỉ ghi là 03 c y vàng mà không ghi rõ loại vàng gì nên bà H chỉ yêu c u bà T phải có trách nhi m trả cho bà Nguyễn Thị H và ông Đoàn Văn K 03 (ba) lượng vàng, loại vàng 18 ara và số tiền Vi t Nam đồng là 22.456.000 đồng tương đương với 1000 đô la Mỹ (tỷ giá đô la Mỹ do Ng n hàng nhà nước công bố ngày 15/11/2017) tại thời điểm xét xử sơ thẩm Ông Đoàn Văn K cũng thống nhất với kiến của bà H. Vì vậy ghi nhận sự tự nguy n của bà H về vi c không yêu c u ông Chúng Văn X trả nợ cho bà H ông K. Ghi nhận sự tự nguy n của bà H về vi c chỉ yêu c u bà T trả cho bà H ông K là 03 (ba)lượng vàng 18 a ra.
Theo quy định tại Điều 128 BLDS 2005 thì đối với giao dịch vay ngoại t là 1000 đô la Mỹ thì giao dịch này vi phạm điều cấm của pháp luật nên vô hi u Bởi lẽ tại Điều 22 của Pháp l nh ngoại hối năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2013) quy định: Trên lãnh thổ iệt Nam mọi giao dịch thanh toán niêm yết quảng cáo báo giá định giá ghi giá trong hợp đồng thỏa thuận và các hình thức tương tự khác của người cư trú người kh ng cư trú kh ng được thực hiện bằng ngoại h i tr các trường hợp được phép theo quy định của Ngân hàng Nhà nư c iệt Nam
Điều 137 BLDS 2005 quy định: hi giao dịch dân sự v hiệu thì các bên kh i phục lại tình trạng ban đầu hoàn trả cho nhau những gì đã nhận; nếu kh ng hoàn trả được bằng hiện vật thì phải hoàn trả bằng tiền tr trường hợp tài sản giao dịch hoa lợi lợi tức thu được bị tịch thu theo quy định của pháp luật .
Do đó áp dụng Điều 137 BLDS buộc bà T phải trả cho bà H ông K số nợ gốc tính ra tiền Vi t Nam tại thời điểm xét xử sơ thẩm. Cụ thể buộc bà T phải trả cho bà H ông K số tiền 22 456 000 đồng (được Ng n hàng Nhà nước Vi t Nam công bố tỷ giá trung t m của Đồng Vi t Nam với Đô la Mỹ áp dụng cho ngày 15/11/2017).
Án phí: Bà T phải chịu án phí DSST như sau: Theo giá vàng ngày 15/11/2017 thì vàng 18k có giá mua vào là 25.595.000đ/lượng và bán ra là 26 995 000 đồng/ lượng. Như vậy 03 lượng vàng 18Kara x 25.595.000 đồng /lượng = 76.785.000 đồng + 22.456.000 đồng = 99.241.000 đồng x 5% = 4.962.000 đồng (Bốn tri u chín trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
Bà T phải chịu chi phí giám định là 1 200 000 đồng. Buộc bà T hoàn trả lại chi phí giám định cho bà H là 1 200 000 đồng (Một tri u hai trăm nghìn đồng).
Bà Hồng không phải chịu án phí DSST. Trả lại cho bà H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 3 100 000 đồng (Ba tri u một trăm nghìn đồng).
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a hoản 1 Điều 35; điểm a hoản 1 Điều 39; hoản 3 Điều 26; Điều 68; Điều 184, 185 của BLTTDS 2015 hoản 2 Điều 161, điểm b, hoản 2, Điều 227; hoản 1 Điều 228, Điều 220, 266 Bộ luật tố tụng d n sự; điểm b, hoản 3 Điều 23 Nghị quyết số 03/2012/N -HĐTP ngày 03/12/2012;
Áp dụng Điều 22 của Pháp l nh ngoại hối năm 2005 (sửa đổi bổ sung năm 2013); Điều 33 Luật Hôn nh n và gia đình năm 2014; Điều 128, 136, 137, 219, hoản 2, Điều 305, 471, 473, 474 BLDS 2005, Điều 688 BLDS 2015; Pháp l nh về án phí, l phí Tòa án;
Tuyên xử:
1)- Chấp nhận yêu c u hởi i n “Tranh chấp đòi tài sản” của bà Nguyễn Thị H đối với bà Võ Thị Kim T về vi c đòi tài sản là 03 lượng vàng 18 ara.
Buộc bà Võ Thị Kim T có trách nhi m trả cho bà Nguyễn Thị H và ông Đoàn Văn K 03 (ba) lượng vàng 18 ara (mười tám ara).
2)- Tuyên bố giao dịch vay 1000 đô la Mỹ giữa bà Nguyễn Thị H và bà Võ Thị Kim T là vô hi u.
Buộc bà Võ Thị Kim T có trách nhi m trả cho bà Nguyễn Thị H số tiền 22.456.000 đồng (hai mươi hai tri u bốn trăm năm mươi sáu nghìn đồng).
Trong trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo lãi suất cơ bản do Ng n hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời gian chậm trả tại thời điểm thanh toán.
3)- Buộc bà Võ Thị Kim T có trách nhi m trả lại cho bà Nguyễn Thị H tiền chi phí giám định là 1 200 000 đồng (Một tri u hai trăm nghìn đồng).
4)- Về án phí: Bà Võ Thị Kim T phải chịu 4 962 000 đồng (Bốn tri u chín trăm sáu mươi hai nghìn đồng).
Bà Nguyễn Thị H không phải chịu án phí DSST. Trả lại cho bà Nguyễn Thị H số tạm ứng án phí là 3 100 000 đồng (Ba tri u một trăm nghìn đồng) bà H đã nộp theo biên lai số 001117 ngày 29/12/2016 của Chi cục thi hành án d n sự huy n Định Quán.
Án xử công hai có mặt bà H, ông K, vắng mặt bà T, ông X Báo cho bà H, ông K có quyền háng cáo trong thời hạn 15 ngày ể từ ngày tuyên án Báo cho bà T, ông X có quyền háng cáo trong hạn 15 ngày ể từ ngày nhận được bản án hoặc ể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng d n sự
Bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án d n sự thì người được thi hành án d n sự, người phải thi hành án d n sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu c u thi hành án, tự nguy n thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và 9 của Luật Thi hành án d n sự; thời hi u thi hành án thực hi n theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án d n sự
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: -Các đương sự; -VKSND huy n Định uán; -Chi cục THADS H Định uán; -Lưu hồ sơ vụ án | THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA TRỊNH THỊ KHA |