vanban.org

Bản án 129/2021/DS-PT — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 21/06/2021 Dân sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/06/2021 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Dương Thành D;

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 105/2020/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2020, của Toà án nhân D thành phố TN, t nh Tây Ninh 1. Chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của ông Dương Thành D đối với bà Trần Thị Hữu Ph về việc “Tranh chấp h p đồng mua bán và tranh chấp h p đồng vay tài sản”.

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Dương Thành D - Trần Thị Hữu Ph"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Dương Thành D;
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Dân sự; Điều 116 Bộ luật Dân sự; Điều 117 Bộ luật Dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Y

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số 129/2021/DS-PT
Ngày 21- 6- 2021
V/v tranh chấp h p đồng mua
bán, h p đồng vay tài sản và
yêu cầu hủy h p đồng chuyển
như ng quyền sử dụng đất.

NHÂN DAH

ƯỚC CỘ G ÒA XÃ Ộ C Ủ G ĨA V Ệ AM

TÒA ÁN NHÂN DÂN

Y

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Phan Thị Mai Dung

Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Diệp

Bà Trương Thị Tuyền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Th Thị Thúy Vân, Thư ý T a án nhân dân t nh Tây Ninh

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân t nh Tây Ninh: Ông Nguyễn Minh Tâm, Kiểm sát viên tham gia phiên toà.

Trong các ngày 17 và 21 tháng 6 năm 2021, tại trụ sở T a án nhân dân t nh Tây Ninh, xét xử phúc thẩm công hai vụ án thụ lý số: 12/2021/TLPT-DS ngày 25 tháng 01 năm 2021 về việc “Tranh chấp h p đồng mua bán, h p đồng vay tài sản và yêu cầu hủy h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số: 105/2020/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2020 của T a án nhân dân thành phố TN, t nh Tây Ninh bị háng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 98/2021/QĐ-PT ngày 09 tháng 4 năm 2021, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ông Dương Thành D, sinh năm 1970; địa ch cư trú: xã TH, huyện TC, t nh Tây Ninh, có mặt.

Người bảo vệ quyền và L ích hợp pháp của ông D: Ông Bùi QT- Là Luật sư thuộc Văn ph ng Luật sư Quốc Tuấn, Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

2. Bị đơn: Bà Trần Thị Hữu Ph, sinh năm 1968; địa ch cư trú: xã TH, huyện TC, t nh Tây Ninh; tạm trú: Phường B, thành phố TN, t nh Tây Ninh; vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của bà Ph: Ah Nguyễn HH, sinh năm 1986; địa ch cư trú: Ấp Th T, xã Th L, huyện CT, t nh Tây Ninh (Theo giấy ủy quyền ngày 29-5-2020) có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

3. Người có quyền L, nghĩa vụ liên quA:

3.1. Ông Đoàn Việt C, sinh năm 1986; địa ch cư trú: phường ĐK, Quận M, Thành phố Hồ Chí Minh, vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông C: Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1950; địa ch cư trú: Ấp Suối Ông Đình, xã Tr V, huyện TB, t nh Tây Ninh (Theo h p đồng ủy quyền ngày 29-10-2020) có mặt.

3.2. Ông Đoàn Văn L, sinh năm 1960 và bà Lâm Thị K A, sinh năm 1959; cùng địa ch cư trú: Số 266, đường 30/4, hu phố 4, Phường 2, thành phố TN, t nh Tây Ninh, ông L, bà Ah vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền của ông L, bà Ah: Ông Nguyễn Văn R, sinh năm 1950; địa ch cư trú: xã Tr V, huyện TB, t nh Tây Ninh (Theo h p đồng ủy quyền ngày 11-12-2020) có mặt.

3.3. Văn ph ng Công chứng Tr D L; địa ch : thành phố TN, t nh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Tr D L - Trưởng văn ph ng công chứng, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

3.4. Công ty TNHH sản xuất cao su L A; địa ch : Phường H, thành phố TN, t nh Tây Ninh.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Đoàn Văn L – chức vụ: Chủ tịch Hội đồng thành viên iêm Giám đốc, vắng mặt.

Người đại diện theo ủy quyền:

Ah PhA Đỗ Tr N, sinh năm 1991; địa ch cư trú: hu phố NP, phường N Th, thành phố TN, t nh Tây Ninh, có mặt.

Ah Trần Dư Th, sinh năm 1988, địa ch cư trú: Phường M, thành phố TN, t nh Tây Ninh, có mặt.

(Theo giấy ủy quyền ngày 31-8-2020)

3.5. Ngân hàng Thương mại Cổ phần QĐ(MB); địa ch : quận C Gi, Thành phố Hà Nội.

Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Hữu Đ - Chức vụ: Chủ tịch Hội đồng quản trị.

Người đại diện theo ủy quyền: Bà Phạm Thị Trung H - Chức vụ: Phó Tổng Giám đốc Ngân hàng Thương mại cổ phần QĐ(Theo văn bản ủy quyền số 437/UQ-HĐQT ngày 02-6-2015)

Người được ủy quyền lại:

- Ông Hoàng Duy H1 - chức vụ: Phó Giám đốc Ngân hàng TMCP QĐ- Chi nhánh Tây Ninh, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bà Trần Thị Kim H2 - chức vụ: Trưởng ph ng hách hàng cá nhân - Chi nhánh Tây Ninh, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bà Nguyễn Thị Hồng Ng - chức vụ: Chuyên viên hách hàng cá nhân - Phòng khách hàng cá nhân - Chi nhánh Tây Ninh; có mặt.

(Theo văn bản ủy quyền ngày 08-12-2020)

3.6. Chị Ngô Thị Trường A, sinh năm 1988; nơi đăng ý hộ hẩu thường trú: ấp C X, xã Đ K, huyện CT, t nh Tây Ninh; tạm trú: Phường M, thành phố TN, t nh Tây Ninh, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

3.7. Bà Hồ Ngọc L, sinh năm 1975; địa ch cư trú: Tổ 5, ấp Tân Lâm, xã TH, huyện TC, t nh Tây Ninh, có mặt.

Người kháng cáo: Ông Dương Thành D là nguyên đơn:

Ộ DU G VỤ Á :

Nguyên đơn ông Dương Thành D trình bày:

Vào ngày 29-12-2019, ông D và bà Ph có ý h p đồng mua bán mủ nước và mủ tạp với nội dung ông D ứng cho bà Ph số tiền 2.500.000.000 đồng và bà Ph có nghĩa vụ thu hoạch mủ cao su trên đất rẫy của bà Ph phần đất 15 hecta tọa lạc tại ấp Tân C, xã TH, huyện TC, t nh Tây Ninh và 20 hecta tọa lạc tại ấp Tân Lâm, xã TH, huyện TC, t nh Tây Ninh để giao lại cho ông D trừ dần vào số tiền ông D đã ứng cho bà Ph.

Theo thỏa thuận của hai bên thì do í h p đồng vào cuối năm, thời điểm đó cao su hông c n mủ nhiều nên thỏa thuận số tiền này sẽ đư c trừ vào vụ tiếp theo của năm mới, tức là vào ngày 01-5-2020. Số tiền 2.500.000.000 đồng ghi trong h p đồng ngày 29-12-2019 là tiền bà Ph c n n của ông D đã ứng từ trước đó cộng với tiền ứng của năm mới.

Ngoài ra, ông D còn cho bà Ph mư n các hoản tiền như sau:

+ Ngày 15-01-2020 mư n 1.000.000.000 đồng.

+ Ngày 21-01-2020 mư n 200.000.000 đồng.

+ Ngày 21-02-2020 mư n 50.000.000 đồng.

Đối với 02 hoản tiền cho vay ngày 15-01-2020 và hoản tiền vay ngày 21-01-2020, ông D và bà Ph hông thỏa thuận lãi suất, ch thỏa thuận miệng thời hạn trả là 10 ngày.

+ Năm 2009, bà Ph có ứng tiền trực tiếp từ Công ty cao su L A số tiền 100.000.000 đồng. Số tiền này đư c ý trực tiếp giữa ba bên gồm ông D, bà Ph và Công ty L A, nếu bà Ph hông trả cho Công ty thì ông D phải chịu trách nhiệm đối với số tiền trên.

Từ thời điểm ý h p đồng mua bán mủ cao su ngày 29-12-2019 đến nay, bà Ph hông giao mủ cao su cho ông D lần nào và cũng chưa trả các hoản tiền n nêu trên cho ông D.

Ngày 17-4-2020, ông D phát hiện bà Ph làm h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất các phần đất cao su nêu trên, công chứng vào ngày 13-4-2020 cho ông Đoàn Việt C nhằm tẩu tán tài sản và trốn tránh nghĩa vụ thAh toán n cho ông D. Hơn nữa, ông D cho rằng h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất ngày 13-4-2020 giữa bà Ph và ông C có các vi phạm: Thứ nhất là hi chuyển như ng quyền sử dụng đất thì hông thỏa thuận việc chuyển như ng tài sản trên đất, thứ hai là giá chuyển như ng ghi trong h p đồng chuyển như ng ngày 13-4-2020 thấp hơn giá trị thực tế, thứ ba là bà Ph chuyển như ng quyền sử dụng đất cho ông C trước thời điểm làm thủ tục xóa đăng ý giao dịch bảo đảm nên yêu cầu hủy h p đồng chuyển như ng ngày 13-4-2020 giữa bà Trần Thị Hữu Ph và ông Đoàn Việt C, h p đồng đư c công chứng số 2278, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13-4-2020 do Văn ph ng công chứng Tr D L ký, gồm 02 thửa đất: Thửa đất số 48 (đư c h p từ 02 thửa đất số 6 và 32) tờ bản đồ số 30 với diện tích 21.909,5m2 và thửa đất số 49 (đư c h p từ 03 thửa đất số 39, 34, 37) tờ bản đồ số 30 với diện tích 44.649,6m2 tọa lạc tại: Ấp Tân C, xã TH, huyện TC, t nh Tây Ninh

Đối với hoản tiền bà Ph trình bày đã trả cho ông D thông qua hình thức chuyển hoản là 1.740.000.000 đồng, ông D xác định đây là tiền ông D nhờ bà Ph nhận thay cho ông D từ chị Ngô Thị Trường A (cháu ruột của ông D) gồm các hoản tiền ông D vay của chị A, tiền chị A trả cho ông D và tiền bà Ph nhận thay ông D từ công ty L A, cụ thể:

+ Đối với hoản tiền 10.000.000 đồng, bà Ph trình bày đã chuyển hoản qua ngân hàng ACB để trả cho ông D vào ngày 03-01-2020 là tiền ông D vay của chị A, ông D nhờ bà Ph đến gặp chị A để nhận tiền và chuyển tiền vào tài hoản cho ông D với nội dung ghi: nộp tiền.

+ Đối với hoản tiền 80.000.000 đồng, bà Ph trình bày đã chuyển hoản qua ngân hàng MB để trả cho ông D vào ngày 07-01-2020, đây là tiền chị A trả tiền cho ông D nên ông D nhờ bà Ph đến gặp chị A để nhận tiền và chuyển tiền vào tài hoản cho ông D với nội dung ghi: thAh toán tiền mủ.

+ Đối với hoản tiền chuyển cho ông D 100.000.000 đồng vào sáng ngày 14-01-2020 và 1.200.000.000 đồng vào buổi chiều qua ngân hàng MB. Ông D xác định đây là tiền ông D vay của chị A và ông D nhờ bà Ph gặp chị A nhận tiền thay ông D và chuyển vào tài hoản cho ông D, nhưng do sáng ngày hôm đó, chị A ch có trước 100.000.000 đồng nên đưa trước cho bà Ph 100.000.000 đồng, đến chiều cùng ngày thì chị A đưa thêm cho bà Ph 1.200.000.000 đồng với nội dung ghi: thAh toán tiền mủ tạp đối với số tiền 100.000.000 đồng và thAh toán tiền mủ nước đối với số tiền 1.200.000.000 đồng.

+ Đối với hoản tiền 100.000.000 đồng bà Ph chuyển cho ông D qua ngân hàng MB ngày 18-02-2020, đây là tiền chị A trả tiền n cho ông D và ông D nhờ bà Ph nhận rồi chuyển hoản cho ông D với nội dung ghi: thAh toán tiền mủ tạp.

+ Đối với hoản tiền 150.000.000 đồng, bà Ph chuyển hoản cho ông D qua ngân hàng MB ngày 21-02-2020, đây là tiền ông D vay của chị A, ông D nhờ bà Ph nhận tiền từ chị A và chuyển vào tài hoản của ông D với nội dung ghi: nộp tiền.

+ Đối với hoản tiền 100.000.000 đồng chuyển hoản qua ngân hàng MB vào ngày 07-8-2017 là tiền mà bà Ph nhận tiền thay cho ông D từ Công ty L A và chuyển vào tài hoản cho ông D. Bà Ph xác định đây là tiền bà Ph chuyển trả tiền đã ứng của Công ty L A là hông có cơ sở vì vào năm 2018, bà Ph ký xác nhận c n n tiền Công ty L A số tiền này.

Tất cả những hoản tiền nêu trên hi chuyển vào tài hoản của ông D đều đư c ghi theo yêu cầu của ông D. Do đó, việc bà Ph trình bày đã chuyển hoản trả tiền cho ông D với số tiền 1.740.000.000 đồng là hông đúng sự thật.

Tại phiên t a sơ thẩm, ông D xin rút một phần yêu cầu hởi iện đối với số tiền 50.000.000 đồng ngày 21-02-2020 và 100.000.000 đồng bà Ph đã ứng của Công ty L A, ch yêu cầu bà Ph trả số tiền 3.700.000.000 đồng n gốc gồm số tiền 2.500.000.000 đồng của h p đồng mua bán mủ nước và mủ tạp ngày 29-12-2019, tiền vay 1.200.000.000 đồng và tiền lãi quá hạn tính từ ngày 21-01-2020 đến ngày xét xử 18-12-2020 là 10 tháng 27 ngày với mức lãi suất là 1,3625%/tháng thành tiền là 549.496.249 đồng. Ông D rút lại yêu cầu hủy h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất đối với thửa đất số 48, ch yêu cầu hủy h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa bà Ph với ông C đối với thửa đất số 49, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại ấp Tân C, xã TH, huyện TC, t nh Tây Ninh, h p đồng đư c công chứng số 2278, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13-4-2020 do Văn ph ng công chứng Tr D L.

Tại phiên t a Ph thẩm: Ông D xác định số tiền cho bà Ph mư n và tiền ứng cho bà Ph mua mủ là tiền ứng từ Công ty L A cũng là tài sản chung của chung v chồng. Trường h p T a án chấp nhận yêu cầu của ông thì tuyên bà Ph trả tiền cho v chồng ông.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn và người đại diện hợp pháp của bị đơn là Ah Nguyễn HH trình bày:

Bà Ph và ông D có mối quA hệ quen biết do mua bán mủ cao su với nhau nhiều năm, ông D là người mua mủ cao su, bà Ph là người bán mủ. Bà Ph thống nhất lời trình bày của ông D đối với nội dung và thỏa thuận của H p đồng mua bán mủ cao su ngày 29-12-2019. Bà Ph xác định có ứng của ông D số tiền 2.500.000.000 đồng theo h p đồng mua bán mủ cao su ngày 29-12-2019 gồm tiền của những lần n trước đó cộng với tiền ứng của năm mới và xác định từ hi ý h p đồng ngày 29-12-2019 thì bà Ph chưa giao mủ cao su cho ông D.

Ngoài ra, bà Ph có vay của ông D số tiền 1.000.000.000 đồng vào ngày 15-01-2020 và số tiền 200.000.000 đồng vào ngày 21-02-2020.

Đối với yêu cầu hởi iện của ông D yêu cầu bà Ph trả số tiền 3.700.000.000 đồng tiền n gốc, gồm 2.500.000.000 đồng là tiền của H p đồng mua bán mủ, tiền vay 1.000.000.000 đồng vào ngày 15-01-2020 và 200.000.000 đồng vào ngày 21-01-2020 và tiền lãi với mức lãi suất quá hạn do Ngân hàng TMCP QĐ - Chi nhánh t nh Tây Ninh quy định tính từ ngày 21-01-2020 đến ngày xét xử. Yêu cầu hủy một phần h p đồng chuyển như ng ngày 13-4-2020 giữa bà Trần Thị Hữu Ph và ông Đoàn Việt C, đối với thửa đất số 49 thì bà Ph hông đồng ý một phần yêu cầu hởi iện của ông D vì bà Ph đã trả cho ông D tổng số tiền 1.740.000.000 đồng thông qua việc chuyển hoản tại ngân hàng, có chứng từ chuyển hoản èm theo.

Đối với hoản tiền ngày 07-8-2017, chuyển vào tài hoản cho ông D 100.000.000 đồng qua ngân hàng MB - đây là hoản tiền bà Ph chuyển trả cho ông D số tiền 100.000.000 đồng bà Ph đã ứng của Công ty L A dưới sự bảo lãnh của ông D; các hoản tiền c n lại tổng cộng 1.640.000.000 đồng là tiền bà Ph trả cho ông D đối với h p đồng ngày 29-12-2019.

Bà Ph xác định các hoản tiền bà Ph chuyển hoản trả n cho ông D là tiền của bà Ph, không liên quA đến chị Ngô Thị Trường A, đối với nội dung ghi hi chuyển tiền thì hông ghi nội dung trả n mà ghi nội dung theo yêu cầu của ông D là vì ông D nói ghi nội dung như vậy để ông D dễ vay tiền ngân hàng vì có thể hiện giao dịch tiền mua bán mủ.

Đối với hoản tiền vay 1.200.000.000 đồng nêu trên là tiền bà vay của ông D để nhằm mục đích thAh toán n cho cá nhân, hai bên thỏa thuận miệng lãi suất 9%/tháng và hông thỏa thuận về thời hạn vay. Tuy nhiên, có thỏa thuận miệng là hi nào ông D cần thì báo trước một thời hạn nhất định ( hoảng 02 tuần), bà Ph sẽ có nghĩa vụ trả lại toàn bộ các hoản tiền nêu trên cho ông D. Vào ngày 21-02-2020, ông D có yêu cầu bà Ph trả lại các hoản tiền này nhưng do bà Ph gặp hó hăn về inh tế nên chưa trả cho ông D. Quá trình vay tiền, bà Ph cũng chưa trả tiền lãi cho ông D lần nào. Về việc thỏa thuận lãi suất hay thời hạn vay đều là thỏa thuận miệng với nhau nên bà Ph hông có chứng cứ chứng minh.

Hiện bà Ph xác định c n n ông D tổng số tiền n gốc là 2.060.000.000 đồng nên đồng ý trả ông D số tiền n gốc nêu trên, bà xin hông trả tiền lãi do đAg gặp hó hăn về inh tế.

Đối với yêu cầu hởi iện của ông D về việc yêu cầu hủy một phần h p đồng chuyển như ng ngày 13-4-2020 giữa bà Trần Thị Hữu Ph và ông Đoàn Việt C, đối với thửa đất số 49, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại ấp Tân C, xã TH, huyện TC, t nh Tây Ninh, bà Ph hông có ý iến, đề nghị T a án giải quyết theo quy định của pháp luật. Trong trường h p T a án hủy h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất nêu trên thì bà Ph hông yêu cầu giải quyết hậu quả của h p đồng trong vụ án này.

Tuy nhiên, việc ông D cho rằng bà Ph chuyển như ng quyền sử dụng đất cho ông C nhằm tẩu tán tài sản là hông đúng vì việc bà chuyển như ng quyền sử dụng đất nêu trên là để thực hiện nghĩa vụ thAh toán n cho người thứ ba, cụ thể:

Trước thời điểm bà Ph chuyển như ng các thửa đất số 48, 49 nêu trên cho ông C thì bà Ph có thế chấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất này cho Ngân hàng ACB để vay số tiền 3.030.000.000 đồng.

Ngày 01-4-2020, bà Ph và ông C thỏa thuận về việc chuyển như ng các thửa đất nêu trên cùng với tài sản trên đất với giá 75.000 đồng/m2 tức 750.000.000 đồng/ha. Như vậy, bà Ph đã chuyển như ng cho ông C tổng diện tích 02 thửa đất 48, 49 nêu trên là 66.559,1m2 với tổng giá tiền là 4.991.932.500 đồng. Tuy nhiên, thực tế bà Ph đã nhận tiền chuyển như ng tổng cộng là 7.141.932.500 đồng, trong đó: bà Ph nhận 1.141.932.500 đồng bằng tiền mặt và 6.000.000.000 đồng nhận thông qua việc chuyển hoản. Bà Ph xác nhận các chứng từ Công ty L A cung cấp về việc trả tiền chuyển như ng đất là đúng. Việc bà Ph nhận tổng số tiền 7.141.932.500 đồng là bao gồm cả tiền chuyển như ng đất bà Ph nhận thay cho bà Trần Thị Cẩm Phư ng - chị gái ruột của bà Ph vì bà Phư ng cũng chuyển như ng phần đất của bà Phư ng cho ông C cùng thời điểm với bà Ph nên tiền chuyển như ng quyền sử dụng đất đều do bà Ph nhận thay và đưa lại cho bà Phư ng là 2.250.000.000 đồng. Bà Ph xác định ông C c n n lại bà Ph 100.000.000 đồng do hai bên thỏa thuận hi nào ông C hoàn tất đư c thủ tục sAg tên và đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì mới giao 100.000.000 đồng c n lại cho bà Ph. Tuy nhiên, bà Ph không có trAh chấp hay yêu cầu giải quyết số tiền 100.000.000 đồng trong vụ án này.

Đối với hoản tiền bà Ph đã nhận từ việc chuyển như ng quyền sử dụng đất cho ông C đã đư c bà Ph dùng để thAh toán trả n cho ngân hàng ACB vào ngày 13-4-2020 với tổng số tiền 3.058.434.658 đồng và thAh toán trả n cho ông Lê Minh Đức, bà Bùi Thị Thu TrAg số tiền 1.700.000.000 đồng để xóa hoản n 2.500.000.000 đồng mà bà n ông Đức, bà TrAg trước đó.

Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền L nghĩa vụ liên quA - ông Đoàn Việt C và người đại diện theo ủy quyền của ông C là ông Nguyễn Văn R trình bày:

Bà Ph, ông D có mối quA hệ quen biết do có giao dịch mua bán mủ cao su với nhau. Ông C là con ruột của tổng giám đốc Công ty L A và là phó giám đốc Công ty L A. Công ty L A có mối quA hệ giao dịch mua bán mủ cao su với ông D. Đối với bà Ph thì ông C và Công ty L A hông có mối quA hệ thân thích gì, ch biết bà Ph do bà Ph là nhà vườn của ông D.

Ông C xác định có nhận chuyển như ng quyền sử dụng đất các thửa đất như bà Ph đã trình bày và thống nhất về giá cả, diện tích đất và nội dung giao dịch. Tuy nhiên, ông C xác định đã trả đủ tiền chuyển như ng đất cho bà Ph với tổng số tiền 7.241.932.500 đồng bao gồm cả tiền chuyển như ng đất của bà Trần Thị Cẩm Phư ng là 2.250.000.000 đồng. Sau hi đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa 49 thì ngày 07-7-2020, ông C đã thế chấp quyền sử dụng đất đối với thửa đất này cho Ngân hàng MB Tây Ninh để đảm bảo cho hoản vay của cha mẹ ông là ông Đoàn Văn L và bà Lâm Thị K A số tiền vay 4.200.000.000 đồng.

Việc ông D hởi iện yêu cầu hủy một phần h p đồng chuyển như ng ngày 13-4-2020 giữa bà Trần Thị Hữu Ph và ông Đoàn Việt C, đối với thửa đất số 49, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại ấp Tân C, xã TH, huyện TC, t nh Tây Ninh, ông C hông đồng ý vì ông C nhận chuyển như ng quyền sử dụng đất của bà Ph là h p pháp và Ngy tình, tại thời điểm ông C nhận chuyển như ng đất của bà Ph thì phần đất hông có trAh chấp hay bị ê biên. Ông C nhận chuyển như ng quyền sử dụng đất trước thời điểm ông D hởi iện bà Ph.

Ông D cho rằng việc chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa bà Ph và ông C có các vi phạm gồm:

- Ông D cho rằng bà Ph và ông C hi chuyển như ng quyền sử dụng đất thì hông thỏa thuận việc chuyển như ng tài sản trên đất: Thực chất, hi bà Ph và ông C thỏa thuận chuyển như ng quyền sử dụng đất thì có thỏa thuận chuyển như ng luôn tài sản trên đất vì nếu ch đất mà hông có cây cao su hay tài sản gì trên đất thì giá trị đất hông có giá 750.000.000 đồng/ha. Hơn nữa, do cây cao su hay căn nhà bà Ph xây trên đất đều hông phải là tài sản phải đăng ý quyền sở hữu nên hông nêu cụ thể. Tuy nhiên, vấn đề tài sản trên đất đều đư c hai bên trong h p đồng chuyển như ng thống nhất và hông có trAh chấp gì.

- Về việc ông D cho rằng giá chuyển như ng ghi trong h p đồng chuyển như ng ngày 13-4-2020 thấp hơn giá trị thực tế: Giữa ông C và bà Ph có lập với nhau 02 h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất đối với các thửa đất nêu trên, cụ thể:

+ 01 h p đồng hông có công chứng, chứng thực đư c ý giữa bà Ph, bà Trần Thị Cẩm Ph1, ông Nguyễn Thành Đ1 (chồng của bà Ph1) và ông C vào ngày 01-4-2020. H p đồng này có ghi rõ giá thực tế các bên chuyển như ng đất là 7.241.932.500 đồng, đơn giá 75.000 đồng/m2. Trong h p đồng này có bao gồm nội dung chuyển như ng cả phần đất của v chồng bà Ph1, ông Đ1 là 30.000m2 (do trước đây phần đất này là của bà Ph đứng tên, sau đó ch nh lý tại trang biến động nội dung tặng cho bà Phư ng).

+ H p đồng thứ 2 là h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất ý giữa bà Ph với ông C đư c công chứng tại Văn ph ng Công chứng Tr D L, với nội dung chuyển như ng thửa đất số 48, 49, tờ bản đồ số 30 với giá chuyển như ng là 1.300.000.000 đồng. Mục đích ghi giá trị thấp hơn giá thực tế là để đư c giảm thuế. Việc các bên ghi giá thấp hơn giá trị thực tế trong h p đồng chuyển như ng có công chứng hông làm ảnh hưởng đến hiệu L của h p đồng vì giá trị thực tế chuyển như ng giữa hai bên hoàn toàn phù h p với giá cả thị trường, hông có giả tạo hay bị cưỡng ép, ép buộc gì.

- Ông D cho rằng bà Ph chuyển như ng quyền sử dụng đất cho ông C trước thời điểm làm thủ tục xóa đăng ý giao dịch bảo đảm nên có vi phạm là hông đúng vì: Khi bà Ph và ông C ý h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất hông có công chứng vào ngày 01-4-2020, bà Ph đã nhận tiền ứng của h p đồng chuyển như ng. Đến ngày 13-4-2020, ông C đã chuyển tiền chuyển như ng đất vào tài hoản cho bà Ph 6.000.000.000 đồng, số tiền c n lại thì bà Ph nhận tiền mặt tại Công ty L A. Cùng ngày, bà Ph đã liên hệ Ngân hàng ACB yêu cầu tất toán h p đồng để lấy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất bản chính ra. Sau hi đư c ngân hàng làm thủ tục tất toán và trả lại bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cùng với đơn yêu cầu xóa thế chấp trong ngày 13-4-2020 thì bà Ph và ông C ra Văn ph ng công chứng Tr D L làm h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất có công chứng. Sau hi ý h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất có công chứng xong thì đã hết giờ hành chính nên ngày 14-4-2020, ông C liên hệ Văn ph ng đăng ý Tân Châu để thực hiện việc xóa thế chấp và làm thủ tục đăng ý xin cấp quyền sử dụng đất. Do đó, trong trAg bổ sung của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất các thửa đất của bà Ph mới thể hiện nội dung xóa thế chấp vào ngày 14-4-2020.

Do đó, việc ông C nhận chuyển như ng quyền sử dụng đất của bà Ph là h p pháp. Giá hai bên chuyển như ng là phù h p với giá thực tế thị trường, và việc chuyển như ng này là có thật. Vì vậy, ông C hông đồng ý hủy h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất phần đất thuộc thửa 49 nêu trên. Trong trường h p T a án hủy h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất nêu trên thì ông C không yêu cầu giải quyết hậu quả của h p đồng trong vụ án này.

Tại biên bản lấy lời khai, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, người có quyền L nghĩa vụ liên quA - ông Đoàn Văn L, bà Lâm Thị K A do ông Nguyễn Văn R làm người đại diện trình bày:

Ngày 07-7-2020, ông L, bà K A có ý h p đồng vay tiền với ngân hàng MB Tây Ninh để vay số tiền 4.200.000.000 đồng và tài sản bảo đảm cho hoản vay này là các thửa đất do ông Đoàn Việt C đứng tên quyền sử dụng đất trong đó gồm có cả thửa đất số 49 hiện nay đang tranh chấp.

Nay ông D hởi iện yêu cầu hủy một phần h p đồng chuyển như ng ngày 13-4-2020 giữa bà Trần Thị Hữu Ph và ông Đoàn Việt C, đối với thửa đất số 49, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại ấp Tân C, xã TH, huyện TC, t nh Tây Ninh, ông L, bà K A hông đồng ý yêu cầu hởi iện này của ông D vì việc chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa ông C, bà Ph là h p pháp, có giao dịch chuyển tiền sAg như ng đất trên thực tế và các bên cũng đã bàn giao đất, đồng thời, ông C cũng đã đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với thửa đất nêu trên và tài sản này cũng đang đư c dùng làm tài sản bảo đảm cho hoản vay của ông L, bà K A đối với hoản vay 4.200.000.000 đồng của ông, bà tại Ngân hàng MB Tây Ninh.

Trong trường h p T a án hủy h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất nêu trên giữa bà Ph và ông C thì ông L, bà K A hông yêu cầu giải quyết hậu quả của h p đồng trong vụ án này.

Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền L nghĩa vụ liên quA - Công ty TNHH sản xuất cao su L A và người đại diện theo ủy quyền của Công ty TNHH sản xuất cao su L A là anh Phan Đỗ Tr N, anh Trần Dư Th thống nhất trình bày:

Thống nhất lời trình bày của ông C về mối quan hệ giữa Công ty L A với ông C, bà Ph, ông D.

Công ty L A xác định ông D là người cung cấp mủ cao su trực tiếp cho công ty còn bà Ph là nhà vườn của ông D. Theo như thông thường thì công ty sẽ ứng tiền cho ông D để ông D giao tiền cho nhà vườn sau đó ông D thu hoạch mủ cao su từ nhà vườn để cung cấp lại cho công ty. Tuy nhiên, theo đề xuất của ông D thì Công ty L A có ý h p đồng ba bên với bà Ph và ông D. Nội dung h p đồng thỏa thuận bà Ph sẽ giao mủ cao su cho ông D nhận và bà Ph đư c ứng 100.000.000 đồng trực tiếp từ Công ty L A và ông D là người bảo lãnh, chịu trách nhiệm đối với số tiền bà Ph đã ứng. Công ty L A xác định bà Ph và ông D chưa hoàn trả lại số tiền này cho công ty. Do đó, hàng tháng công ty vẫn trừ tiền lãi đối với ông D cho số tiền mà bà Ph đã ứng cho đến hi nào ông D trả lại số tiền này cho công ty với mức lãi suất trước ngày 01-6-2019 là 0,8%/tháng và từ ngày 01-6-2019 là 1%/tháng.

Đối với số tiền 100.000.000 đồng bà Ph đã ứng của công ty thì công ty không yêu cầu giải quyết trong vụ án này. Nếu phát sinh tranh chấp thì công ty sẽ hởi iện bằng một vụ án hác.

Đối với việc ông D trình bày tiền ông D cho bà Ph mư n có nguồn gốc là tiền của ông D vay của Công ty L A: Công ty ch biết bà Ph tới thời điểm hiện nay ch tồn tại số tiền n công ty là 100.000.000 đồng mà bà Ph đã ứng trực tiếp của công ty dưới sự bảo lãnh của ông D. Ngoài ra, bà Ph hông có bất cứ hoản tiền ứng nào của công ty hoặc hoản tiền ứng đầu tư mà công ty ứng cho ông D rồi ông D ứng lại cho bà Ph do ông D hông đề xuất hay báo cáo gì với công ty về việc có dùng tiền của công ty để ứng cho bà Ph. Việc bà Ph nhận hơn số tiền này là do tiền cá nhân của ông D đưa thêm, công ty hông liên quan.

Đối với việc ông D yêu cầu hủy h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa bà Ph với ông C thì công ty hông có ý iến do việc chuyển như ng đất này là việc cá nhân của ông C với bà Ph, là tài sản riêng của ông C, không liên quan đến công ty. Riêng các thông tin về việc trả tiền đất cho bà Ph đư c thực hiện bởi công ty là do ông C có tài hoản cá nhân tại công ty và nhờ công ty làm thủ tục chuyển trả tiền đất thay cho ông C. Công ty xác định đây là tài sản riêng của ông C và là nguồn tiền riêng của ông C.

Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền L nghĩa vụ liên quan- chị Ngô Thị Trường A trình bày:

Chị và ông Dương Thành D có mối quan hệ là cậu - cháu ruột với nhau. Trước đây, giữa mẹ của chị và ông D thường xuyên có giao dịch vay mư n tiền lẫn nhau. Sau hi mẹ của chị bị tai nạn giao thông thì chị là người tiếp quản tài chính của gia đình. Do đó, chị có nhiều lần cho ông D vay tiền và cũng có nhiều lần vay tiền của ông D. Giai đoạn từ đầu năm 2020 đến nay, chị và ông D đã có nhiều lần giao dịch vay mư n tiền với nhau, cụ thể:

- Ngày 03-01-2020, chị cho ông D vay 10.000.000 đồng.

- Ngày 07-01-2020, chị cho ông D vay 80.000.000 đồng.

- Sáng ngày 14-01-2020, chị cho ông D vay 100.000.000 đồng; chiều cùng ngày cho ông D vay 1.200.000.000 đồng.

- Ngày 18-02-2020, ông D trả trực tiếp cho chị A số tiền 100.000.000 đồng do ông D vay của chị A trước đó.

- Ngày 21-02-2020, chị cho ông D vay 150.000.000 đồng.

Tất cả những lần cho ông D vay nêu trên đều do bà Ph nhận tiền trực tiếp từ chị A thay ông D, sau đó đưa lại cho ông D vì ông D ở xa nên hông đến lấy tiền trực tiếp từ chị A đư c. Tuy nhiên, những lần bà Ph nhận tiền thay ông D đều hông có làm biên nhận, giấy tờ hay có ai làm chứng. Đồng thời, do là cậu cháu ruột nên giữa chị và ông D cũng hông làm giấy tờ n gì mà chị ch tự ghi theo dõi trong sổ cá nhân của chị.

Chị xác định hông có ý iến hay yêu cầu gì đối với các hoản tiền chị đã đưa cho bà Ph nhận thay và đưa lại cho ông D trong vụ án này.

Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền L nghĩa vụ liên quA - Văn phòng công chứng Tr D L do ông Tr D L đại diện trình bày:

Vào ngày 13-4-2020, Văn ph ng Công chứng Tr D L có tiếp nhận hồ sơ chuyển như ng quyền sử dụng đất đư c giao ết giữa bên chuyển như ng là bà Trần Thị Hữu Ph và bên nhận chuyển như ng là ông Đoàn Việt C. Qua xem xét Công chứng viên nhận thấy thành phần hồ sơ đầy đủ và tiến hành thực hiện các quy trình về thủ tục chuyển như ng quyền sử dụng đất đảm bảo đúng quy định pháp luật, cụ thể: iểm tra bản chính giấy chứng minh nhân D của hai bên; iểm tra bản chính giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và xác định là tài sản riêng của bà Ph chuyển như ng cho ông C. Sau khi hai bên ký tên vào h p đồng nên Công chứng viên ý chứng nhận vào H p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất chứng nhận số 2278, quyển số 06 ngày 13-4-2020. Do đó, Văn ph ng Công chứng Tr D L đã làm đúng trách nhiệm, thực hiện đầy đủ các quy trình về thủ tục hồ sơ chuyển như ng quyền sử dụng đất đúng quy định pháp luật. Các bên tham gia ý ết h p đồng giao dịch tại cơ quA công chứng hông có ý iến trAh chấp, hiếu nại. Việc ông D hởi iện trAh chấp yêu cầu hủy h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất là hông có căn cứ.

Tại phiên tòa, người có quyền L, nghĩa vụ liên quA – Ngân hàng Thương mại cổ phần QĐdo bà Nguyễn Thị Hồng Ng, bà Trần Thị Kim H2 làm người đại diện trình bày:

Ngày 07-7-2020, Ngân hàng MB Tây Ninh có ý h p đồng cho vay đối với ông Đoàn Văn L và bà Lâm Thị K A, số tiền vay là 4.200.000.000 đồng; mục đích vay là vay bù đắp thAh toán tiền mua các thửa đất cho ông Đoàn Việt C với thời hạn vay là 36 tháng. Tài sản bảo đảm cho hoản vay này là các quyền sử dụng đất đứng tên ông Đoàn Việt C, trong đó bao gồm thửa đất số 49 hiện đAg trAh chấp. Quá trình ý ết h p đồng tín dụng, các bên đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình. Tài sản bảo đảm đã đư c Ngân hàng MB Tây Ninh đăng ý giao dịch bảo đảm theo đúng quy định của pháp luật và đư c Văn ph ng đăng ý đất đai t nh Tây Ninh cập nhật thông tin thế chấp tại trang bổ sung của giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên.

Ngân hàng MB nhận thấy bản thân là bên thứ ba Ngy tình vì tại thời điểm nhận thế chấp, Ngân hàng MB Tây Ninh hông nhận đư c thông tin về việc các tài sản bảo đảm đAg có trAh chấp. Đồng thời, tài sản bảo đảm này là tài sản cá nhân của ông C thể hiện qua việc ông C đã đư c cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, ông D hông phải là bên giao ết h p đồng chuyển như ng. Do đó, việc ông D yêu cầu hủy một phần h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa bà Ph và ông C đối với thửa đất số 49 nêu trên là hông có cơ sở.

Ngân hàng MB hông yêu cầu giải quyết h p đồng cho vay giữa Ngân hàng MB với ông Đoàn Văn L, bà Lâm Thị K A trong vụ án này. Trong trường h p T a án hủy h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất nêu trên giữa bà Ph và ông C thì Ngân hàng MB hông yêu cầu giải quyết hậu quả của h p đồng trong vụ án này.

Người có quyền L nghĩa vụ liên quA- Bà Hồ Ngọc L trình bày:

Bà L là v của ông D, nguồn tiền ông D cho bà Ph mư n và cho bà Ph ứng tiền để giao mủ cao su là do ông D ứng từ Công ty L A cũng là tài sản chung của v chồng bà. Mỗi lần ông D ứng tiền nhiều thì ông L có điện thoại báo cho bà L. Nếu yêu cầu hởi iện tranh chấp h p đồng mua bán và h p đồng vay tài sản của ông D đư c chấp nhận thì bà Ph phải trả tiền cho v chồng bà. Bà không có ý iến gì về việc T a án cấp sơ thẩm hông đưa bà vào tham gia tố tụng.

Tại Bản án D sự sơ thẩm số: 105/2021/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân D thành phố TN, t nh Tây Ninh đ quyết định:

Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, 146, hoản 2 Điều 147, Điều 401, Điều 428, Điều 430, 437, 463, Điều 466, Điều 468, hoản 2 Điều 469 của Bộ luật Dân sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán T a án nhân D tối cao; Điều 26 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí T a án;

1. Chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của ông Dương Thành D đối với bà Trần Thị Hữu Ph về việc “Tranh chấp h p đồng mua bán và tranh chấp h p đồng vay tài sản”.

Buộc bà Trần Thị Hữu Ph có nghĩa vụ trả cho ông Dương Thành D số tiền mua bán c n n là 860.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 2.603.793 đồng, lãi quá hạn là 84.621.431 đồng và số tiền vay c n n là 1.200.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 14.552.666 đồng, lãi chậm trả là 146.182 đồng, lãi quá hạn là 141.652.104 đồng. Tổng cộng là 2.303.576.176 (hai tỷ, ba trăm lẻ ba triệu, năm trăm bảy mươi sáu nghìn, một trăm bảy mươi sáu) đồng gồm tiền gốc là 2.060.000.000 (hai tỷ, hông trăm sáu mươi triệu) đồng, tiền lãi là 243.576.176 (hai trăm bốn mươi ba triệu, năm trăm bảy mươi sáu nghìn, một trăm bảy mươi sáu) đồng.

Kể từ ngày ông Dương Thành D có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bà Trần Thị Hữu Ph hông chịu trả số tiền nêu trên, thì hàng tháng c n phải trả cho ông D số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.

2. Không chấp nhận yêu cầu hởi iện của ông Dương Thành D đối với bà Trần Thị Hữu Ph về việc yêu cầu hủy một phần h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất ký ngày 13-4-2020 giữa bà Trần Thị Hữu Ph và ông Đoàn Việt C đối với thửa đất số 49, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại ấp Tân C, xã TH, huyện TC, t nh Tây Ninh, h p đồng đư c công chứng số 2278, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13-4-2020 do Văn ph ng công chứng Tr D L công chứng.

3. Đình ch giải quyết đối với phần rút lại yêu cầu hởi iện của ông Dương Thành D gồm:

- Về việc “TrAh chấp h p đồng vay tài sản” yêu cầu bà Trần Thị Hữu Ph trả số tiền 50.000.000 đồng và tiền lãi.

- Về việc “TrAh chấp h p đồng bảo lãnh” yêu cầu bà Trần Thị Hữu Ph trả số tiền 100.000.000 đồng và tiền lãi.

- Về việc yêu cầu hủy một phần h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất ký ngày 13-4-2020 giữa bà Trần Thị Hữu Ph và ông Đoàn Việt C đối với thửa đất số 48, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại ấp Tân C, xã TH, huyện TC, t nh Tây Ninh, h p đồng đư c công chứng số 2278, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13-4-2020 do Văn ph ng công chứng Tr D L công chứng.

Ông D đư c quyền hởi iện lại phần yêu cầu đã rút theo quy định của pháp luật.

Ngoài ra bản án còn quyết định về chi phí tố tụng, án phí; quyền, nghĩa vụ thi hành án và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 21 tháng 12 năm 2020, ông Dương Thành D kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm số 105/2021/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2021 của Tòa án nhân D thành phố TN, t nh Tây Ninh.

Tại phiên t a phúc thẩm, Ông D giữ nguyên háng cáo.

Phát bi u của ki m sát viên tại phiên tòa phúc thẩm:

- Về tố tụng: Hội đồng xét xử, Thư ý T a án tuân thủ đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến hi giải quyết vụ án. Các đương sự chấp hành đầy đủ các quy định pháp luật trong quá trình tham gia tố tụng.

- Về nội dung:

Đối với số tiền 2.500.000.000 đồng của h p đồng mua bán mủ nước và mủ tạp ngày 29-12-2019: bà Ph thừa nhận có ý h p đồng mua bán mủ cao su ngày 29-12-2019 và ứng của ông D số tiền 2.500.000.000 đồng, từ hi ý h p đồng bà Ph chưa giao mủ cao su cho ông D nhưng bà Ph cho rằng đã chuyển hoản trả lại cho ông D số tiền 1.640.000.000 đồng nên ch c n n lại ông D số tiền 860.000.000 đồng. Ông D thừa nhận bà Ph có chuyển vào tài hoản của ông D số tiền trên nhưng đây là số tiền bà Ph nhận của chị Trường A là cháu ruột của ông D cho ông D vay và trả tiền nhưng ông D và chị A hông có chứng cứ chứng minh có giao tiền cho bà Ph nên cấp sơ thẩm xác định bà Ph c n n ông D số tiền 860.000.000 đồng và tiền lãi 87.225.224 đồng là có cơ sở.

Đối với số tiền vay 1.200.000.000 đồng: Bà Ph thừa nhận có vay của ông D số tiền này, ông D hởi iện yêu cầu bà Ph trả là có căn cứ. Đối với tiền lãi các bên hông cung cấp đư c chứng cứ chứng minh về thời hạn vay, lãi suất, theo bà Ph hoản vay này hi nào ông D cần thì báo trước cho bà Ph một thời gian nhất định và xác định ngày 21-2-2020 ông D có yêu cầu bà Ph trả tiền nhưng bà Ph hông trả đư c, cấp sơ thẩm đã xác định là h p đồng vay hông ỳ hạn có lãi suất và áp dụng mức lãi suất theo quy định tại Điều 468, Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP để buộc bà Ph trả lãi là có căn cứ.

Đối với yêu cầu hủy một phần h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất ngày 13-4-2020 giữa bà Ph và ông C thấy rằng: Bà Ph và ông C khi thực hiện h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất hông thỏa thuận việc chuyển như ng tài sản trên đất là cây cao su và nhà trên đất là vi phạm Luật Đất đai; Giá chuyển như ng ghi trong h p đồng chuyển như ng ngày 13-4-2020 thấp hơn giá trị thực tế chưa đến 300 triệu đồng trên 01ha; h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa các bên trước thời điểm làm thủ tục xóa đăng ý giao dịch bảo đảm. Do đó háng cáo này của ông D có cơ sở chấp nhận.

VKSND t nh Tây Ninh đề nghị Hội đồng xét xử:

-Chấp nhận một phần háng cáo của ông Dương Thành D.

-Căn cứ hoản 2 Điều 308 BLTTDS sửa bản án sơ thẩm số 105/2020/DS-ST ngày 18-12-2020 của Tòa án nhân dân thành phố TN về hủy một phần h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất ngày 13-4-2020 thửa số 49 giữa bà Ph và ông C đã đư c Văn ph ng công chứng Tr D L chứng thực.

Ậ ĐỊ CỦA ÒA Á :

Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đ được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả trAh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện ki m sát, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Anh Nguyễn HH là người đại diện cho bị đơn; người có quyền L nghĩa vụ liên quan chị Ngô Thị Trường A, ông Tr D L đại diện cho Văn ph ng công chứng Tr D L và người đại diện của Ngân hàng MB là ông Hoàng Duy H1 và bà Trần Thị Kim H2 vắng mặt do có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông Bùi QT là người bảo vệ quyền và L ích h p pháp của nguyên đơn ông Dương Thành D đã đư c Tòa án triệu tập h p lệ nhiều lần vắng mặt nhưng không có lý do, tại phiên tòa, ông D đề nghị Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt người bảo vệ quyền và L ích h p pháp của ông D. Căn cứ Điều 296 của Bộ luật Tố tụng Dân sự, T a án tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Xét háng cáo của ông D:

[2.1] Về h p đồng mua bán số tiền 2.500.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi quá hạn từ ngày 21-01-2020 đến nay:

[2.1.1] Về h p đồng mua bán:

Ông D, bà Ph cùng xác định có ý h p đồng mua bán mủ nước và mủ tạp ngày 29-12-2019 với nội dung ông D ứng trước 2.500.000.000 đồng cho bà Ph. Bà Ph xác định bà hông giao mủ nhưng có trả tiền cho ông D thông qua hình thức chuyển hoản qua ngân hàng ACB với tổng số tiền 1.640.000.000 đồng, cụ thể như sau:

+ Ngày 03-01-2020, chuyển 10.000.000 đồng, nội dung: nộp tiền.

+ Ngày 07-01-2020, chuyển 80.000.000 đồng, nội dung: thanh toán tiền mủ.

+ Sáng ngày 14-01-2020, chuyển 100.000.000 đồng, nội dung: thanh toán tiền mủ tạp; chiều chuyển 1.200.000.000 đồng, nội dung: thAh toán tiền mủ nước.

+ Ngày 18-02-2020, chuyển 100.000.000 đồng, nội dung: thanh toán tiền mủ tạp.

+ Ngày 21-02-2020, chuyển 150.000.000 đồng, nội dung: nộp tiền.

Ông D cho rằng bà Ph chuyển hoản cho ông D là tiền bà Ph nhận từ chị Ngô Thị Trường A thay cho ông D và chuyển hoản lại cho ông D nhưng ông D không có chứng cứ gì chứng minh việc bà Ph nhận tiền thay ông từ chị A mà đưa ra người làm chứng là chị A. Chị A cũng hông cung cấp đư c chứng cứ chứng minh việc bà Ph nhận tiền từ chị A và giao lại cho ông D. Đồng thời, ông D và chị A có mối quA hệ là cậu cháu ruột với nhau nên lời hai của chị A cho rằng bà Ph là người nhận tiền thay cho ông D là không khách quan nên Tòa án cấp sơ thẩm xác định bà Ph đã trả tiền cho ông D 1.640.000.000 đồng, bà Ph còn thiếu ông D số tiền 860.000.000 đồng đối với h p đồng ngày 29- 12- 2019 là có căn cứ.

[2.1.2] Về yêu cầu tính lãi: Ngày ý h p đồng là ngày 29- 12- 2019, tuy nhiên ông D xác định thời điểm bà Ph có nghĩa vụ cung cấp mủ cao su cho ông D để trừ tiền đã ứng bắt đầu từ ngày 01-5-2020 nên căn cứ vào trình bày của ông D là phù h p. Do đó, nghĩa vụ của bà Ph phát sinh từ thời điểm vi phạm là 01-5-2020.

Tại Điều 3 của H p đồng mua bán ngày 29- 12- 2019 có thỏa thuận nếu 01 bên vi phạm h p đồng thì phải chịu lãi suất theo quy định của pháp luật. Đồng thời, trong thời hạn 10 ngày có nghĩa vụ trả lại toàn bộ hoản tiền đã ứng. Nếu quá thời hạn nêu trên thì phải chịu lãi suất quá hạn của Ngân hàng MB Tây Ninh. Do đó cấp sơ thẩm áp dụng việc tính lãi suất do Ngân MB Tây Ninh cung cấp đối với h p đồng vay dài hạn, mục đích sản xuất inh doanh thì vào thời điểm tháng 5-2020 có mức lãi suất bình quân trong hạn là 10,9%/năm (~0,9083%/tháng), mức lãi suất bình quân quá hạn là 16,35%/năm (~1,3625%/tháng) là có căn cứ.

Bà Ph vi phạm nghĩa vụ trong h p đồng đối với ông D đư c xác định là từ ngày 01-5-2020, căn cứ theo thỏa thuận của các bên và căn cứ hoản 2 Điều 147 của Bộ luật Dân sự thì bà Ph sẽ phải chịu tiền lãi trong hạn đối với ông D từ ngày 02-5-2020 đến ngày 11-5-2020 mức lãi suất là 0,9083%/tháng và chịu tiền lãi quá hạn từ ngày 12-5-2020 đến nay với mức lãi suất là 1,3625%/tháng. Do đó, cấp sơ thẩm ch chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của ông D, cụ thể: Lãi trong hạn từ ngày 02-5-2020 đến ngày 11-5-2020: 860.000.000 đồng x 10 ngày x 0,9083%/tháng = 2.603.793 đồng. Lãi quá hạn từ ngày 12-5-2020 đến ngày 18-12-2020: (860.000.000 đồng + 2.603.793 đồng) x 7 tháng 06 ngày x 1,3625%/tháng = 84.621.431 đồng là có căn cứ.

[2.2] Về h p đồng vay tài sản số tiền 1.200.000.000 đồng và yêu cầu tính lãi quá hạn từ ngày 21-01-2020 đến hi xét xử sơ thẩm:

[2.2.1] Về số tiền n gốc: Bà Ph thừa nhận có vay của ông D số tiền 1.000.000.000 đồng vào ngày 15-01-2020 và 200.000.000 đồng vào ngày 21-01-2020. Do đó T a án cấp sơ thẩm buộc bà Ph trả cho ông D số tiền 1.200.000.000 đồng là có căn cứ.

[2.2.2] Về yêu cầu tính lãi:

Ông D trình bày hai bên thỏa thuận miệng thời hạn vay là 10 ngày, hông thỏa thuận lãi suất. Bà Ph trình bày hai bên hông thỏa thuận thời hạn vay, thỏa thuận lãi suất miệng với nhau là 9%/tháng nhưng có thỏa thuận hi nào cần thì báo trước một thời hạn nhất định (2 tuần) và ngày 21- 02- 2020, ông D có yêu cầu bà Ph trả tiền. Ông D hông cung cấp chứng cứ chứng minh việc thỏa thuận thời hạn vay và lãi suất. Bà Ph hông chứng minh đư c việc thỏa thuận lãi suất nhưng có xác định thời hạn trả nên chấp nhận theo lời thừa nhận của bà Ph về thời hạn trả n (ngày thông báo là ngày 21- 02- 2020, báo trước 2 tuần nên lãi trong hạn tính đến ngày 06- 3- 2020) c n về lãi suất do hai bên hông cung cấp đư c chứng cứ chứng minh và có trAh chấp với nhau về lãi suất. Do đó, cấp sơ thẩm căn cứ hoản 2 Điều 468 Bộ luật D sự, mức lãi suất trong hạn đư c áp dụng là 0,83%/tháng là có căn cứ.

Ông D ch yêu cầu tính lãi từ ngày 21-01-2020 đến hi xét xử sơ thẩm nên đối với những hoản tiền lãi trước ngày 21-01-2020 bà Ph chưa thAh toán cho ông D trong h p đồng vay ngày 15-01-2020 không đặt ra xem xét giải quyết. Cấp sơ thẩm căn cứ Điều 466, 468, 469 của Bộ luật D sự; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán T a án nhân D tối cao, ông D đư c chấp nhận một phần đối với yêu cầu tính lãi là có căn cứ. Tuy nhiên cấp sơ thẩm tính sai số ngày lãi chậm trả là 9 ngày của số tiền vay 1.000.000.000 đồng nên cấp Ph thẩm tính lại cụ thể:

+ Đối với hoản tiền vay 1.000.000.000 đồng ngày 15-01-2020:

Lãi trong hạn từ ngày 21-01-2020 đến ngày 06-3-2020: 1.000.000.000 đồng x 1 tháng 14 ngày x 0,83%/tháng= 12.173.333 đồng.

Lãi chậm trả từ ngày 21-01-2020 đến ngày 06-3-2020: 12.173.333 đồng x 0,83%/tháng x 1 tháng 14 ngày = 148.189 đồng.

Lãi quá hạn từ ngày 07-3-2020 tính đến ngày 18-12-2020: (1.000.000.000 đồng + 12.173.333 đồng + 148.189 đồng) x 150% x 0,83%/tháng x 09 tháng 11 ngày = 118.051.873 đồng.

+ Đối với hoản tiền vay 200.000.000 đồng ngày 21-01-2020:

Lãi trong hạn từ ngày 22-01-2020 đến ngày 06-3-2020: 200.000.000 đồng x 1 tháng 13 ngày x 0,83%/tháng= 2.379.333 đồng.

Lãi chậm trả từ ngày 22-01-2020 đến ngày 06-3-2020: 2.379.333 đồng x 0,83%/tháng x 1 tháng 13 ngày = 28.305 đồng.

Lãi quá hạn từ ngày 07-3-2020 tính đến ngày 18-12-2020: (200.000.000 đồng + 2.379.333 đồng + 28.305 đồng) x 150% x 0,83%/tháng x 09 tháng 11 ngày = 23.603.765 đồng.

[2.3] Đối với yêu cầu hủy h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất:

[2.3.1] Ông D cho rằng bà Ph chuyển như ng quyền sử dụng đất cho ông C để tẩu tán tài sản, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Quá trình xác minh thu thập chứng cứ cho thấy, trong tổng số tiền ông C, bà Ph thỏa thuận về chuyển như ng quyền sử dụng đất là 7.241.932.500 đồng thì có 2.250.000.000 đồng là tiền chuyển như ng của bà Phư ng, ông Đức. Tiền chuyển như ng thực tế phần đất của bà Ph là 4.991.932.500 đồng. Ngày 13-4-2020, bà Ph đã trả tiền cho Ngân hàng ACB Tây Ninh số tiền: 3.058.434.658 đồng để tất toán n vay đối với các hoản vay có thế chấp quyền sử dụng đất trước đó và bà Ph có trả cho ông Đ1, bà Tr1 số tiền 1.700.000.000 đồng để xóa n số tiền 2.500.000.000 đồng mà bà Ph đã vay của ông Đức, bà TrAg vào tháng 5-2019. Như vậy, việc bà Ph dùng tiền chuyển như ng quyền sử dụng đất để thực hiện nghĩa vụ thanh toán n cho người thứ ba với tổng số tiền là 4.758.434.658 đồng là có thật.

Bà Ph chuyển như ng đất cho ông C ngày 13- 4- 2020 nhưng tại thời điểm đó bà Ph còn sở hữu 01 căn hộ ở Vincom, thửa số 157, tờ bản đồ số 15, tọa lạc tại phường 3, thành phố TN, cho thấy tại thời điểm bà Ph chuyển như ng quyền sử dụng đất cho ông C thì bà Ph vẫn c n tài sản hác hông phải tài sản chuyển như ng là tài sản duy nhất. Tại thời điểm chuyển như ng phần đất trên hông bị trAh chấp, hông bị ê biên, phong tỏa, việc chuyển như ng là h p pháp. Bà Ph chuyển như ng quyền sử dụng đất cho ông C đư c tiến hành trước thời điểm ông D hởi iện bà Ph.

[2.3.3] Ông D cho rằng h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa bà Ph và ông C có các vi phạm: Thứ nhất hông thỏa thuận việc chuyển như ng tài sản trên đất, thứ hai là giá chuyển như ng ghi trong h p đồng thấp hơn giá trị thực tế, thứ ba chuyển như ng trước thời điểm làm thủ tục xóa đăng ý giao dịch bảo đảm, Hội đồng xét xử thấy rằng:

Quá trình làm việc, bà Ph và ông C xác định rõ hai bên hi chuyển như ng quyền sử dụng đất thì chuyển như ng luôn tất cả tài sản trên đất, việc này đư c các bên thỏa thuận miệng, hông lập thành văn bản. Ông C, bà Ph xác định không có tranh chấp tài sản trên đất nên hông vi phạm và hông ảnh hưởng đến quyền và L ích h p pháp của ai.

Việc chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa ông C, bà Ph có 02 h p đồng. H p đồng thứ nhất ngày 01-4-2020 hông có công chứng, đư c các bên thỏa thuận giá chuyển như ng là 750.000.000 đ/ha. H p đồng thứ 2 có công chứng, đư c các bên ghi giá 1.300.000.000 đồng. Qua các chứng từ chuyển hoản và các chứng từ nhận tiền mặt chứng minh bà Ph đã nhận tiền chuyển như ng quyền sử dụng đất từ ông C diện tích 66.559,1m2 tương đương số tiền 4.991.932.500 đồng. Qua xác minh tại địa phương cũng xác định giá đất thực tế của đất cao su tại hu vực đất đAg tranh chấp có giá dao động từ 700.000.000 đồng - 800.000.000 đồng/ha phù h p với giá cả thị trường tại thời điểm chuyển như ng

Căn cứ theo văn bản số 4521/CV-QLN.20 ngày 13-11-2020 của Ngân hàng ACB thể hiện: Sau hi nhận tiền chuyển hoản thì trong ngày 13-4-2020, bà Ph đã thanh lý toàn bộ hoản vay với Ngân hàng ACB Tây Ninh và ngân hàng trả cho bà Ph các giấy CNQSDĐ èm theo Phiếu yêu cầu xóa đăng ý thế chấp. Tại điểm a hoản 5 Điều 12 của Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày 06-6-2014 có quy định: “. . . a) Trong trường hợp có văn bản đồng ý của bên nhận bảo đảm thì bên bảo đảm có quyền yêu cầu công chứng, chứng thực hợp đồng, giao dịch chuy n quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản trước khi xóa đăng ký giao dịch bảo đảm đối với tài sản đó” Như vậy, việc công chứng h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa bà Ph và ông C phù h p quy định tại điểm a hoản 5 Điều 12 của Thông tư liên tịch số 16/2014/TTLT-BTP-BTNMT-NHNN ngày 06-6-2014. Từ những phân tích trên nên T a án cấp sơ thẩm hông chấp nhận yêu cầu hủy một phần h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất ý ngày 13-4-2020 giữa bà Trần Thị Hữu Ph và ông Đoàn Việt C đối với thửa đất số 49 của ông D là có căn cứ.

[3] Ông D cho rằng cấp sơ thẩm hông đưa v ông C và v của ông D vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền L nghĩa vụ liên quan là vi phạm thủ tục tố tụng nên làm ảnh hưởng đến quyền L của họ nên đề nghị hủy Bản án sơ thẩm số 105/2021/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2021 của T a án nhân D thành phố TN, t nh Tây Ninh, Hội đồng xét xử thấy rằng:

[3.1] Đối với việc đưa v ông C vào tham gia tố tụng: Theo H p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất ngày 13- 4- 2020 thể hiện bên nhận chuyển như ng là ông Đoàn Việt C, èm theo hồ sơ có Bản cam ết về tài sản riêng của v ông C là bà Lê ThAh Họa My nên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 49, tờ bản đồ số 30 tọa lạc tại xã TH, huyện TC, t nh Tây Ninh do ông C đứng tên là đúng quy định. Ông C đứng tên thửa đất số 49 nên đây là tài sản riêng của ông C. Do đó, T a án cấp sơ thẩm hông đưa v ông C tham gia tố tụng là đúng và hông vi phạm thủ tục tố tụng

[3.2] Đối với việc đưa v ông D vào tham gia tố tụng: T a án cấp sơ thẩm hông đưa v ông D vào tham gia tố tụng là có thiếu sót do số tiền ông D cho bà Ph mư n và ứng tiền mua mủ cao su đư c ông D xác nhận là tài sản chung của v chồng, T a án cấp Ph thẩm đã hắc phục đưa v ông D là bà Hồ Ngọc L vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền L nghĩa vụ liên quan trong vụ án. Tại phiên t a phúc thẩm, ông D và bà L thống nhất số tiền cho bà Ph vay và tiền ứng mua mủ cao su là tài sản chung của v chồng nên bà Ph phải trả cho v chồng ông D và bà L. Cấp Ph thẩm đã hắc phục đư c, bà L cũng hông có ý iến gì việc T a án cấp sơ thẩm hông đưa bà vào tham gia tố tụng nên không cần thiết phải hủy Bản án sơ thẩm như ông D đề nghị.

[4] Bản án sơ thẩm tuyên về nghĩa vụ chậm thi hành án là ể từ ngày ông Dương Thành D có đơn yêu cầu thi hành án là hông đúng theo hướng dẫn tại Điều 13 của Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11- 01- 2019 của Hội đồng Thẩm phán T a án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm nhưng hông phải là số liệu cụ thể nên cấp Ph thẩm ch điều ch nh lại cho đúng.

[5] Từ những phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy hông chấp nhận một phần đề nghị của Viện iểm sát nhân dân t nh Tây Ninh về việc hủy h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất giữa bà Ph với ông C.

[6] Về án phí dân sự phúc thẩm:

Ông D đư c chấp nhận một phần kháng cáo nên ông D không phải chịu án phí phúc thẩm theo quy định tại hoản 2 Điều 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội, hoàn trả cho ông D tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001007 ngày 21- 12- 2020 của Chi cục Thi hành án đân sự thành phố TN, t nh Tây Ninh.

Vì các lẽ trên;

QUYẾ ĐỊ :

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

1. Chấp nhận một phần kháng cáo của ông Dương Thành D;

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số: 105/2020/DS-ST ngày 18 tháng 12 năm 2020, của Toà án nhân D thành phố TN, t nh Tây Ninh

2. Căn cứ vào các Điều 116, 117, 119, 146, khoản 2 Điều 147, Điều 401, Điều 428, Điều 430, 437, 463, Điều 466, Điều 468, khoản 2 Điều 469 của Bộ luật dân sự; Điều 33 của Luật Hôn nhân và Gia đình; hoản 4 Điều 98 của Luật Đất đai; Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11-01-2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao; Điều 26, 29 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy bA thường vụ Quốc hội qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

2.1. Chấp nhận một phần yêu cầu hởi iện của ông Dương Thành D đối với bà Trần Thị Hữu Ph về việc “Tranh chấp h p đồng mua bán và tranh chấp h p đồng vay tài sản”.

Buộc bà Trần Thị Hữu Ph có nghĩa vụ trả cho ông Dương Thành D, bà Hồ Ngọc L số tiền mua bán c n n là 860.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 2.603.793 đồng, lãi quá hạn là 84.621.431 đồng và số tiền vay c n n là 1.200.000.000 đồng, tiền lãi trong hạn là 14.552.666 đồng, lãi chậm trả là 176.494 đồng, lãi quá hạn là 141.655.638 đồng. Tổng cộng là 2.303.610.022 (hai tỷ, ba trăm lẻ ba triệu, sáu trăm mười nghìn hông trăm hai mươi hai) đồng gồm tiền gốc là 2.060.000.000 (hai tỷ, hông trăm sáu mươi triệu) đồng, tiền lãi là 243.610.022 (hai trăm bốn mươi ba triệu, sáu trăm mười nghìn hông trăm hai mươi hai) đồng.

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến hi thi hành án xong, nếu bà Trần Thị Hữu Ph chưa trả đủ số tiền nêu trên, thì hàng tháng c n phải trả cho ông D, bà L tiền lãi do chậm thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự.

2.2. Không chấp nhận yêu cầu hởi iện của ông Dương Thành D đối với bà Trần Thị Hữu Ph về việc yêu cầu hủy một phần h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất ký ngày 13-4-2020 giữa bà Trần Thị Hữu Ph và ông Đoàn Việt C đối với thửa đất số 49, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại ấp Tân C, xã TH, huyện TC, t nh Tây Ninh, h p đồng đư c công chứng số 2278, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13-4-2020 do Văn ph ng công chứng Tr D L công chứng.

2.3. Đình ch giải quyết đối với phần rút lại yêu cầu hởi iện của ông Dương Thành D gồm:

- Về việc “Tranh chấp h p đồng vay tài sản” yêu cầu bà Trần Thị Hữu Ph trả số tiền 50.000.000 đồng và tiền lãi.

- Về việc “Tranh chấp h p đồng bảo lãnh” yêu cầu bà Trần Thị Hữu Ph trả số tiền 100.000.000 đồng và tiền lãi.

- Về việc yêu cầu hủy một phần h p đồng chuyển như ng quyền sử dụng đất ký ngày 13-4-2020 giữa bà Trần Thị Hữu Ph và ông Đoàn Việt C đối với thửa đất số 48, tờ bản đồ số 30, tọa lạc tại ấp Tân C, xã TH, huyện TC, t nh Tây Ninh, h p đồng đư c công chứng số 2278, quyển số 06/TP/CC-SCC/HĐGD ngày 13-4-2020 do Văn ph ng công chứng Tr D L công chứng.

Ông D đư c quyền hởi iện lại phần yêu cầu đã rút theo quy định của pháp luật.

2.4. Về chi phí tố tụng:

Bà Trần Thị Hữu Ph có nghĩa vụ trả cho ông Dương Thành D tiền chi phí giám định là 2.000.000 đồng.

Ông D có nghĩa vụ chịu 900.000 đồng chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ. Ghi nhận ông D đã nộp xong.

2.5. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Bà Trần Thị Hữu Ph có nghĩa vụ chịu 78.072.200 (bảy mươi tám triệu hông trăm bảy mươi hai nghìn hai trăm) đồng.

Ông Dương Thành D có nghĩa vụ chịu 70.376.586 đồng và 300.000 đồng; tổng cộng là 70.676.586 (bảy mươi triệu sáu bảy mươi sáu nghìn năm trăm tám mươi sáu) đồng nhưng đư c hấu trừ vào tiền tạm ứng án phí ông D đã nộp là 66.500.000 đồng theo biên lai số 0000529 ngày 22-4-2020 và biên lai số 0000586 ngày 07-5-2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Châu, t nh Tây Ninh. Ông D c n phải nộp thêm số tiền c n lại là 4.176.586 (bốn triệu một trăm bảy mươi sáu nghìn năm trăm tám mươi sáu) đồng.

2.6. Về án phí dân sự Ph thẩm:

Ông Dương Thành D hông chịu án phí, hoàn trả cho ông D tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu số 0001007 ngày 21- 12- 2020 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN, t nh Tây Ninh.

3. Trường h p bản án, quyết định đư c thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người đư c thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án đư c thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật ể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ