- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG TỈNH HẢI DƯƠNG. | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 128/2017/HSST Ngày: 01-8-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI DƯƠNG, TỈNH HẢI DƯƠNG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Thủy.
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Thúy – Cán bộ nghỉ hưu.
Bà Lê Thị Thanh Vân - Giáo viên nghỉ hưu.
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hà - Cán bộ Toà án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Minh Đức - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 8 năm 2017, tại nhà văn hóa khu X phường H, thành phố H, Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 123/2017/HSST ngày 7 tháng 7 năm 2017 đối với:
Bị cáo:NGUYỄN VĂN T, sinh năm 1984; trú tại: thôn L, xã T, TP. H, tỉnh Hải Dương; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; con ông Nguyễn Văn T và con bà Phạm Thị N; có vợ là Nguyễn Thị T và 1 con sinh năm 2010.
Tiền án: Bản án số 199/HSST ngày 18/11/2015 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản giá trị tài sản chiếm đoạt 17.980.000đ chấp hành hình phạt chính xong ngày 19/1/2017.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 11/5/2017 chuyển tạm giam từ ngày 13/5/2017 đến nay tại Trại tạm giam- Công an tỉnh Hải Dương. Bị cáo có mặt tại phiên tòa
Người bị hại: anh Nguyễn Văn Th sinh năm:1984. Trú tại: khu N, phường T- TP. H ( Vắng mặt)
NHẬN THẤY:
Bị cáo Nguyễn Văn T bị Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, tỉnh Hải Dương truy tố về hành vi phạm tội như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 25/3/2017 Nguyễn Văn T đi bộ mang theo 1 vam phá khóa xe mô tô vào Bệnh viện phụ sản tỉnh Hải Dương và Bệnh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương mục đích trộm cắp tài sản. Khoảng 19 giờ cùng ngày T đến khu vực cầu thang khoa Truyền nhiễm bênh viện Đa khoa tỉnh Hải Dương thấy có nhiều xe mô tô dựng ở gầm cầu thang, trong đó có 1 chiếc xe mô tô Hon đa Wave màu trắng đen bạc biển số 34B3 096.70 của anh Nguyễn Văn Th ở khu N, phường T- TP. H . Quan sát thấy không có người trông giữ, T dùng chìa khóa mô tô mở khóa điện xe máy Wave rồi nổ máy điều khiển xe đi. Trên đường đi T dừng lại dùng kìm sắt lấy trong cốp xe tháo biển số xe vứt ở đường sau đó về nhà lắp biển số 34B1 945.53 (do nhặt được) để sử dụng làm phương tiện đi lại. Khoảng 9 giờ ngày 11/5/2017, T đang sử dụng chiếc xe nói trên lưu thông trên đường C, phường P, thành phố Hải Dương thì bị Công an phát hiện nghi vấn kiểm tra thu giữ xe máy Wave biển số 34B1 945.53, 01 chìa khóa kim loại dài 4,5cm. 01 tua vít hình chữ T dài 20cm, 01 tay công kim loại dài 13cm, 01 đầu mũi kim loại dài 8cm.
Tại Kết luận định giá tài sản số 175 ngày 12/6/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân thành phố Hải Dương kết luận: giá trị chiếc xe máy Wave biển số 34B1 945.53 nói trên là 14.400.000đ.
Về trách nhiệm dân sự: Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an TP. Hải Dương đã trả lại anh Th chiếc xe máy nêu trên anh Th không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự.
Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Văn T đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo.
Tại bản cáo trạng số 128/CT - VKS ngày 6/7/2017, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương đã truy tố về tội: “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi đúng nội dung cáo trạng. Bị cáo xác định hành vi của mình là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội: “ Trộm cắp tài sản”
Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48; điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
Hình phạt chính: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 15 tháng tù đến 18 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 11/5/2017.
Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết.
Về vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe 34B1 945.53; 01 chìa khóa kim loại daì 4,5cm; 01 tua vít chữ T dài 20cm; 01 tay công kim loại dài 13cm; 01 đầu mũi kim loại dài 8cm.
Về án phí: Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số: 326/2016/ UBTVQH14 về án phí, lệ phí Toà án. Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, lời khai của bị cáo.
XÉT THẤY
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Hải Dương, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương, của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiế hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo, lời khai người bị hại, người làm chứng, và các chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án. Vì vậy có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 19 giờ 30 ngày 25/3/2017 tại khu vực gầm cầu thang khoa truyền nhiễm Bệnh viện đa khoa tỉnh Hải Dương ở địa chỉ đường N, phường T, thành phố H, Nguyễn Văn T lén lút chiếm đoạt 01 xe mô tô Hon đa Wave màu trắng đen bạc BKS34B3 096.70 trị giá 14.400.000đ của anh Nguyễn Văn Th ở khu N, phường T, TP H.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự xã hội. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ là vi phạm pháp luật hình sự, nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn T đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hải Dương truy tố bị cáo ra trước toà hôm nay là có căn cứ, đúng pháp luật.
Khi quyết định hình phạt Tòa xét thấy bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án số 199/HSST ngày 18/11/2015 Tòa án nhân dân thành phố Hải Dương xử phạt 18 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản giá trị tài sản chiếm đoạt 17.980.000đ bị cáo chấp hành hình phạt chính xong ngày 19/1/2017. Bản án trên chưa được xóa án tích theo quy định, nay bị cáo T lại phạm tội: Trộm cắp tài sản trị giá 14.400.000đ, vì vậy bị cáo phạm tội là thuộc trường hợp tái phạm được quy định tại khoản 1 Điều 49 BLHS, nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm g khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự.
Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như sau: ngay sau khi mất xe người bị hại không có đơn trình báo với cơ quan điều tra, bị cáo chiếm đoạt xe máy sử dụng làm phương tiện đi lại, khi đang lưu thông trên đường bị kiểm tra khi bị kiểm tra đã khai nhận hành vi phạm tội trước khi Cơ quan điều tra ra Quyết định khởi tố vụ án là tự thú. Tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội đã thực hiện nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm o,p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự.
Về nhân thân: Tại Quyết định xử phạt hành chính số 262/QĐ-XPHC ngày 28/10/2013 của Công an thành phố Hải Dương về hành vi trộm cắp tài sản hình thức phạt tiền 1.500.000đ. Ngay sau khi có quyết định xử phạt vi phạm hành chính ngày 11/11/2013 Công an thành phố Hải Dương có lập biên bản về việc bị cáo không nộp tiền phạt do không có tiền, từ đó đến nay không có tài liệu nào chứng minh Công an thành phố Hải Dương đôn đốc bị cáo thi hành Quyết định xử phạt vi phạm hành chính nói trên. Vì vậy căn cứ khoản 1 Điều 7, khoản 1 Điều 74 Luật xử lý vi phạm hành chính thời hiệu thi hành Quyết định xử phạt hành chính đã hết, được coi là chưa bị xử phạt hành chính. Tuy nhiên bị cáo nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính mặc dù đã được xóa nhưng được coi là có nhân thân xấu.
Căn cứ vào tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm dân sự và nhân thân bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là anh Nguyễn Văn Th đã nhận được xe máy do bị cáo T chiếm đoạt không yêu cầu giải quyết về dân sự nên Tòa án không giải quyết.
Vật chứng: 01 biển số xe 34B1 945.53 là biển giả cấm lưu hành, 01 chìa khóa kim loại daì 4,5cm; 01 tua vít chữ T dài 20cm; 01 tay công kim loại dài 13cm; 01 đầu mũi kim loại dài 8cm là công cụ phạm tội cần tịch thu cho tiêu hủy. Việc xử lý vật chứng theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; Điểm a khoản 2 Điều 76 Bộ luật tố tụng hình sự.
Bị cáo bị tuyên có tội phải chịu án phí theo quy định tại Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí lệ phí Toà án. Luật Phí.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn T phạm tội “ Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm p, o khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48; điểm c khoản 1 Điều 41 Bộ luật hình sự; điểm a khoản 2 Điều 76. Điều 99 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH14 về án phí lệ phí Toà án. Luật Phí và Lệ phí.
Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn T 16 ( mười sáu) tháng tù tính từ ngày tạm giữ 11/5/2017.
Vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 biển số xe 34B1 945.53; 01 chìa khóa kim loại daì 4,5cm; 01 tua vít chữ T dài 20cm; 01 tay công kim loại dài 13cm; 01 đầu mũi vam dài 8cm.
Vật chứng đã được bàn giao cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương theo biên bản bàn giao ngày 31/7/2017 giữa Chi cục thi hành án dân sự thành phố Hải Dương, Công an thành phố Hải Dương.
Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND T.P Hải Dương; - Công an T.P Hải Dương; - Trại tam giam Kim Chi. - Chi cục THADS T.P Hải Dương ; - Bị cáo; - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ vụ án. | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Thu Thủy |