vanban.org

Bản án 127/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên Tuyên án 11/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N: 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 02/01/2020; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS N 2015: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Năm - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật hình sự N; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TAND TỈNH TN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TAND TP TN
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 127/2020/HSST
Ngày: 11/5/2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TN – TỈNH TN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đoàn Thị Minh Huệ

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Đỗ Phượng 2. Ông Trần Xuân Viện

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Phan Thị Quyên – Thư ký Toà án nhân dân TP TN.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP TN tham gia phiên toà:

Ông Phan Thanh Tiến - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 5 N 2020, tại Hội trường xét xử, Tòa án nhân dân thành phố TN xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 91/2020/HSST ngày 06/3/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 108/2020/QĐXXST - HS ngày 25/3/2020 đối với bị cáo.

Họ và tên: Nguyễn Văn N; Sinh ngày 04/01/1985, Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở: Xóm Thanh Đàm, xã NL, huyện PB, tỉnh TN. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 09/12. Chức vụ trước khi phạm tội (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Đảng viên, đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo quyết định số 58- QĐ/UBKTHU ngày 06/02/2020 của Ủy ban kiểm tra huyện ủy PB; Con ông: Nguyễn Văn T, sinh N, 1944; Con bà: Nguyễn Thị H, sinh N 1949; Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ N; Vợ: Hà Thị L, sinh N 1992; Có 03 con: lớn sinh N 2013, con nhỏ nhất sinh N 2019.

- Tiền án, tiền sự: Không.

Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh TN (bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/01/2020 đến nay). (Có mặt tại phiên tòa)

Ngƣời chứng kiến:

1. Ông Trần Văn S, sinh N 1958 (Vắng mặt)

2. Ông Ngô Văn H, sinh N 1955 (Vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ 13, phường PX, thành phố TN, TN.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 11 giờ 45 phút ngày 02/01/2020, tổ công tác Công an phường PX, thành phố TN làm nhiệm vụ tại tổ 13 của phường thì phát hiện 01 nam thanh niên có biểu hiện nghi vấn liên quan đến ma túy. Tổ công tác yêu cầu kiểm tra, nam thanh niên khai tên là Nguyễn Văn N. Quá trình kiểm tra tổ công tác phát hiện tại túi quần bên phải phía trước N đang mặc có 01 gói giấy bạc màu trắng bên trong chứa chất bột màu trắng. N khai đólà Hêroine mua về để sử dụng cho bản thân. Tổ công tác đã tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với N và niêm phong vật chứng theo quy định.

Cùng ngày, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN tiến hành cân số chất bột màu trắng thu giữ của N có khối lượng 0,162gam. Lấy toàn bộ số chất bột màu trắng trên đưa vào trong bì niêm phong kín ký hiệu N1 để gửi giám định.

Tại bản kết luận giám định số 150/KL- KTHS ngày 10/01/2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN kết luận: Mẫu chất bô ̣t màu trắng trong mẫu N1 gửi giám định là chất ma tuý, loại: Heroine, có khối lượng 0,162 gam.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Văn N khai nhận: Khoảng 9 giờ ngày 02/01/2020, N một mình từ nhà bắt xe buýt đến khu vực phường Tích Lương, thành phố TN mục đích tìm mua ma túy sử dụng cho bản thân. Đến nơi, N gặp một nam thanh niên không quen biết, qua giao dịch N mua của nam thanh niên đó 01 gói Heroine được gói bằng giấy bạc màu trắng với giá 200.000 đồng. Sau khi mua được Heroine N cất giấy vào trong túi quần bên phải phía trước đang mặc và tìm chỗ vắng người qua lại để sử dụng. Khi đi đến khu vực tổ 13, phường PX thì bị phát hiện bắt quả tang và thu giữ vật chứng như nêu trên.

Lời khai nhận của Nguyễn Văn N phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, lời khai của người chứng kiến, vật chứng thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu khác có trong hồ sơ.

Vật chứng của vụ án gồm:

- 01 bì niêm phong ký hiệu N1 (bên trong chứa ma túy Heroine); Hiện đang được bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố TN chờ xử lý.

Tại bản cáo trạng số 104/CT- VKSTPTN, ngày 03/3/2020 Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, tỉnh TN đã truy tố Nguyễn Văn N về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý” theo điểm c khoản 1 Điều 249 BLHS.

Kết thúc phần thẩm vấn, tại phần tranh luận, vị đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố TN giữ quyền công tố đã công bố bản luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá các chứng cứ, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Điều 136 BLTTHS; Đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo từ 18 đến 24 tháng tù giam. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

- Vật chứng vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS 2015, Điều 106 BLTTHS N 2015

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) bì niêm phong ký hiệu N1.

- Bị cáo phải chịu án phí và có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Trong phần tranh luận, bị cáo thừa nhận việc truy tố, xét xử đối với bị cáo là đúng người, đúng tội, không bị oan, bị cáo xin được hưởng mức án thấp nhất để sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào những chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét, đánh giá đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, lời khai của bị cáo. Hội đồng xét xử nhận thấy:

. Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, của Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN, của Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.

. Về hành vi phạm tội của bị cáo: Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Văn N tại phiên toà hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp vật chứng đã thu giữ, kết luận giám định và các chứng cứ, tài liệu khác thu thập có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Hồi 11 giờ 45 phút ngày 02/01/2020, tại khu vực tổ 13, phường PX, thành phố TN, tỉnh TN, Nguyễn Văn N có hành vi tàng trữ 0,162 gam Heroine mục đích để sử dụng cho bản thân thì bị tổ công tác Công an phường PX, thành phố TN phát hiện, bắt quả tang, thu giữ vật chứng. Hành vi của Nguyễn Văn N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố TN truy tố các bị cáo về tội danh và điều luật viện dẫn là hoàn toàn có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

. Về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS bị cáo được hưởng:

- Xét tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các quy định của Nhà nước về quản lý chất ma túy làm gia tăng tội phạm và tệ nạn xã hội gây mất ANTT tại địa phương. Việc đưa ra xét xử đối với bị cáo là cần thiết nhằm răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung.

- Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ TNHS đối với bị cáo Hội đồng xét xử thấy: Bị cáo không có tiền án, tiền sự . Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, bố bị cáo là người có công với Nhà nước trong kháng chiến chống Mỹ được tặng Huy chương kháng chiến hạng nhất vì vậy bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51 BLHS. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng nào.

. Về hình phạt: Hội đồng xét xử thấy, để đảm bảo tính nghiêm minh của luật pháp, căn cứ vào tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ TNHS để có mức hình phạt tương xứng mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị mức án đối với bị cáo, xét thấy là phù hợp nên chấp nhận.

. Về hình phạt bổ sung: Bị cáo phạm tội lẽ ra cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước, nhưng qua xác minh bị cáo là đối tượng nghiện ma túy, bị cáo không có nghề nghiệp, không có tài sản gì riêng, vì vậy không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 249 BLHS.

. Về vật chứng vụ án: Áp dụng điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong trong bì ký hiệu N1.

. Các vấn đề khác: Về nguồn gốc số ma túy bị thu giữ, Nguyễn Văn N khai mua của một nam thanh niên không quen biết tại khu vực đường dân sinh phường Tích Lương, thành phố TN, quá trình điều tra không xác minh được nhân thân, lai lịch của người này nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố TN không đủ cơ sở điều tra làm rõ xử lý.

. Bị cáo phải nộp án phí HSST và được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bởi các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ vào: Điểm c, khoản 1, Điều 249; Điểm s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự N 2015.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N phạm tội:“Tàng trữ trái phép chất ma tuý".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn N: 18 (Mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam 02/01/2020; Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Áp dụng Điều 329 Bộ luật Tố tụng hình sự: Quyết định tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án;

2. Về vật chứng của vụ án: Áp dụng Điều 47 BLHS; Điều 106 BLTTHS N 2015:

+ Tịch thu tiêu hủy: 01 bì niêm phong ký hiệu N1 được dán kín có 02 dấu tròn đỏ của phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TN và chữ ký của Nguyễn Thành Trung.

(Vật chứng hiện đang lưu giữ, bảo quản tại kho vật chứng của Chi cục thi hành án dân sự thành phố TN theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản số 160 ngày 20/02/2020).

3. Án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự N 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí toà án: Buộc bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng), án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ