vanban.org

Bản án 126/2026/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nguyễn Văn H 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp Hnh hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (Ngày 05-11-2025). Về xử lý vật chứng:

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Văn H - tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 14
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 126/2026/HS-ST
Ngày: 10-6-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 14 - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Thanh Nga.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Đặng Bá Dũng.

2. Ông Trương Minh Hùng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Quang Thi - Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Phan Thanh Hiếu - Kiểm sát viên.

Ngày 10 tháng 6 năm 2026, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 118/2026/TLST-HS ngày 28 tháng 4 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 128/2026/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2026, đối với bị cáo:

Nguyễn Văn H, sinh ngày 02-12-1995 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Căn cước công dân số A; nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa (học vấn): 6/12; dân tộc: Kinh, giới tính: Nam, tôn giáo: Không, quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn S, sinh năm 1976 và bà Hồ Thị Kim L, sinh năm 1977; nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh; vợ Trần Thuỵ Tường V, sinh năm 1995, có 01 người con sinh năm 2019; nơi cư trú: Tổ A, ấp B, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh; tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo Nguyễn Văn H bị bắt tạm giam từ ngày 05-11-2025 cho đến nay.

Hiện đang bị tạm giam tại Phân Trại tạm giam Ngãi Giao thuộc Trại tạm giam số 1 - Công an THnh phố Hồ Chí Minh (có mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Nguyễn Trí Ng, sinh năm 2006; nơi cư trú: Ấp A, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh; Hiện đang chấp hành quyết định cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở Cai nghiện ma tuý số 6, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt);

2. Ông Thạch D, sinh năm 1988; nơi cư trú: Ấp B, xã C, Thành phố Hồ Chí Minh; Hiện đang bị tạm giam tại Trại Tạm giam số 01 - Công an Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 29-9-2025, Tổ công tác 363, Công an Thành phố Hồ Chí Minh kiểm tra, phát hiện Nguyễn Trí Ng dương tính với chất ma túy. Tại Cơ quan Công an, Ng khai nhận, vào sáng ngày 28-9-2025, Nghĩa đã sử dụng ma túy tại phòng ngủ của Nguyễn Văn H ở ấp A, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh.

Khi tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Văn H, Cơ quan

Cảnh sát Điều tra đã thu giữ được 01 (Một) Điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A60 màu đen, có số IMEI 1: 860619073707974; số IMEI 2: 860619073707966 (do H giao nộp).

Quá trình điều tra đã xác định:

Nguyễn Văn H là đối tượng nghiện ma túy, H thường xuyên mua ma túy của một người tên Thạch D. Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28-9-2025, tại nơi ở của mình có địa chỉ tại ấp A, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh, H sử dụng ma túy tại phòng ngủ bằng bộ dụng cụ sử dụng ma tuý đã chuẩn bị trước đó gồm 01 nỏ thủy tinh, 01 chai nhựa và ống hút nhựa.

Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, Nguyễn Trí Ng (là em vợ của H) đến chơi. Biết Ng có sử dụng ma túy nên H đã chỉ chỗ để bộ dụng cụ sử dụng ma túy (có ma túy nấu sẵn) cho Ng. Khoảng 05 phút sau, Ng vào phòng ngủ của H để sử dụng ma túy có sẵn trong bộ dụng cụ do H chuẩn bị. Sau khi sử dụng xong, Ng đi ra ngoài rồi H tiếp tục vào để sử dụng hết số ma túy còn lại. Sau khi sử dụng xong, H đã cất bộ dụng cụ sử dụng ma túy vào trong tủ quần áo. Đến ngày 29-9-2025, khi biết Ng bị lực lượng chức năng bắt, H đã vứt bỏ một phần bộ dụng cụ sử dụng ma túy ra khu đất trống phía sau nhà còn chai nhựa bỏ vào thùng rác.

Tại Kết luận giám định số 6916/KL-KTHS ngày 08-10-2025 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

- Mẫu A (01 ống thủy tinh bám dính chất màu đen) gửi giám định là ma túy, loại Methamphetamine, không xác định được khối lượng (mẫu A bám dính rất ít);

- Tìm thấy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu được ký hiệu mẫu M1 (của Nguyễn Văn H) gửi giám định.

- Tìm thấy Methamphetamine trong mẫu nước tiểu được ký hiệu mẫu M2 (của Nguyễn Trí Ng) gửi giám định.

Bản cáo trạng số 12/CT-VKSHCM-KV ngày 28-4-2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo Nguyễn Văn H về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự .

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H từ 03 (Ba) năm tù đến 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma tuý”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bắt tạm giam (Ngày 05-11-2025);

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, sung công quỹ NH nước 01 (Một) Điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A60 màu đen, có số IMEI 1: 860619073707974; số IMEI 2: 860619073707966.

Áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy 01 (Một) ống thủy tinh cong (không rõ hình dạng) chiều dài 08cm.

Về hình phạt bổ sung: Xét hoàn cảnh bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Bị cáo Nguyễn Văn H đã thừa nhận toàn bộ Hnh vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Trí Ng, ông Thạch D vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Kiểm sát viên và người tham gia tố tụng khác đề nghị xét xử vắng mặt ông Ng, ông D; xét sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử căn cứ vào khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự tiến hành xét xử vắng mặt.

. Về tội danh: Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án. Do đó, đã có cơ sở để xác định:

Khoảng 08 giờ 30 phút ngày 28-9-2025, tại phòng ngủ thuộc nơi ở của Nguyễn Văn H tại địa chỉ ấp A, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Văn H đã chuẩn bị phương tiện, dụng cụ để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy và cung cấp ma túy cho Nguyễn Trí Ng sử dụng.

Như vậy, hành vi của bị cáo Nguyễn Văn H đã đủ dấu hiệu cấu tHnh tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, là nguyên nhân làm phát sinh các tệ nạn xã hội. Vì vậy, việc truy tố và đưa bị cáo ra xét xử là cần thiết, cần có mức hình phạt tương xứng để cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để răn đe, giáo dục, cải tạo bị cáo trở tHnh người công dân sống có ích cho xã hội, ngăn ngừa phạm tội mới đồng thời mới đáp ứng được yêu cầu giáo dục, phòng ngừa chung.

. Về tình tiết tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự:

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Văn H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

. Về hình phạt bổ sung: Xét, bị cáo không có thu nhập ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự.

. Về xử lý vật chứng:

Đối với 01 (Một) ống thủy tinh cong (không rõ hình dạng) chiều dài 08cm, bị cáo sử dụng làm công cụ phạm tội là vật chứng trong vụ án nhưng không có giá trị sử dụng nên cần áp dụng điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự để tịch thu và tiêu hủy.

Đối với 01 (Một) Điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A60 màu đen, có số IMEI 1: 860619073707974; số IMEI 2: 860619073707966 mà Nguyễn Văn H sử dụng làm phương tiện phạm tội là vật chứng trong vụ án nên cần áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, sung công quỹ nhà nước

. Về các vấn đề khác:

Đối với Thạch D: Ngày 31-3-2026, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an THnh phố Hồ Chí Minh đã khởi tố Thạch D về tội “Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định khởi tố vụ án hình sự số H455/QĐ-CSMT, Quyết định khởi tố bị can số H992/QĐ-CSMT ngày 31-3-2026. Quá trình điều tra, Thạch D khai nhận là người đã bán ma tuý cho Nguyễn Văn H. Do đó, ngày 06-4-2026, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố vụ án hình sự số H4988/QĐ-CSMT, Quyết định bổ sung Quyết định khởi tố bị can số H4989/QĐ-CSMT đối với Thạch D về hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” xảy ra ngày 28-9-2025 tại ấp A, xã B, Thành phố Hồ Chí Minh để tiếp tục điều tra, xử lý theo quy định của pháp luật.

Đối với Nguyễn Trí Ng: Nguyễn Trí Ng có hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý (không thuộc một trong các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 255a của Bộ luật Hình sự). Do đó, Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã lập hồ sơ đề nghị áp dụng biện pháp đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Hiện nay, Nguyễn Trí Ng đang chấp Hnh quyết định cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy số 06, Thành phố Hồ Chí Minh.

. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 136, Điều 292, 299 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2025).

Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2025).

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn H phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Xử phạt Nguyễn Văn H 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp Hnh hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam (Ngày 05-11-2025).

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ điểm c khoản 2 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu và tiêu hủy 01 (Một) ống thủy tinh cong (không rõ hình dạng) chiều dài 08cm;

Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu, sung công quỹ NH nước 01 (Một) Điện thoại di động, nhãn hiệu OPPO A60 màu đen, có số IMEI 1: 860619073707974; số IMEI 2: 860619073707966.

(Theo Biên bản giao nhận vật chứng số 137/BB-THADS (14) ngày 06-5-2026 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh và Phòng Thi Hnh án Dân sự khu vực 14 - Thành phố Hồ Chí Minh).

3. Về án phí:

Căn cứ Điều 135 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 (Được sửa đổi, bổ sung năm 2025) và Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Văn H phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4. Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 10-6-2026). Đối với ông Nguyễn Trí Ng, ông Thạch D vắng mặt tại phiên toà thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ