- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Quang N - Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Giao bị cáo Trần Quang N cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện D, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:125/2021/HSST Ngày: 13/7/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Đình Lâm.
- Các hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Thanh Xuân và ông Nguyễn Thế Anh
- Thư ký phiên toà: Bà Hồ Thị Hiên – Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hân - Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số:152/2021/HSST, ngày 13 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 217 /2021/QĐXXST-QĐ ngày 01 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
Họ và tên: Trần Quang N; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Sinh ngày: 02/12/2002; Tại xã L, huyện D, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: Xóm 3, xã L, huyện D, tỉnh Nghệ An; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Đảng, đoàn: Không;Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 12/12; Con ông Trần Quang T, Sinh năm 1975 và bà Nguyễn Thị Th, Sinh năm 1974; Anh chị em ruột có 02 người, bị can là con thứ hai; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo bị bắt, tạm giữ, tạm giam từ ngày 02/02/2021 đến ngày 26/4/2021 hủy bỏ tạm giam, áp dụng biện pháp bảo lĩnh. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Bà Chu Thị L, sinh năm 1978.
Trú quán: Xóm V, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
+ Ông Nguyễn Quang L, sinh năm 1969
Trú tại: Xóm 4, xã L, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
+ Anh Trương Công Ng, sinh năm 2002
Trú tại: Xóm V, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng đầu tháng 01 năm 2021, Trương Công Ng, sinh năm 2002,trú tại xóm Y, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An gọi điện thoại cho Trần Quang N để hỏi mua pháo về sử dụng, N đồng ý. Khoảng hai ngày sau, Ngân gọi điện thoại cho Vương Đình H (anh họ N), trú tại xóm 3, xã C, huyện D, tỉnh Nghệ An nhờ tìm mua pháo thì H đồng ý và báo giá cho N 01 (Một) hộp pháo loại 49 quả có giá 1.300.000 đồng (Một triệu ba trăm nghìn đồng); 01 (Một) hộp pháo loại 36 quả giá 1.100.000 đồng (Một triệu một trăm nghìn đồng). N gọi điện thoại cho Ng thì Ng thống nhất vàđặt mua 03 (Ba) bánh pháo nổ loại 36 quả đồng thời đưa cho N số tiền 3.300.000 đồng (Ba triệu ba trăm nghìn đồng) và hẹn đến gần Tết Nguyên Đán sẽ đến lấy pháo. Sau đó, N gọi điện thoại cho H để nhờ mua 02 (Hai) hộp pháo nổ loại 49 quảvà 03 (Ba) hộp pháo loại 36 quả. Đến tối cùng ngày, N đến nhà H ngồi chờ một lúc thì có một người đàn ông tên Đ, người xã C, huyện D, tỉnh Nghệ An đến giao pháo cho N, N trả cho Đ 5.900.000 đồng (Năm triệu chín trăm nghìn đồng) rồi đưa pháo về cất giấu ở vườn nhà mình.
Khoảng 15 giờ ngày 01/02/2021, Trương Công Ng gọi điện thoại cho N hẹn tối sẽ đến nhà N lấy pháo. Khoảng 15 phút sau, N nhận được điện thoại của một người thanh niên tên T, người ở xã L, huyện D, Nghệ An gọi điện hỏi “Có pháo không?”, N trả lời “Có hai bánh 49, giá hơi cao”, Tiến hỏi tiếp “Giá mấy?” , Ngân nói “Triệu chín một bánh”, T đồng ý mua và hẹn khoảng 21 giờ 30 phút sẽ đến để lấy pháo. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, Trương Công Ng điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn vàng đen, biển kiểm soát 37P1-162.73 đến nhà Ngân, N đưa cho Ng 03 (Ba) hộp pháo nổ loại 36 quả, Ng cầm bỏ vào cốp xe máy của mình. Sau đó, N lấy 01 (Một) túi bạt màu xanh chứa 02 (Hai) hộp pháo nổ loại 49 quả, ôm trên tay nhờ Ng chở ra đường liên xã thuộc xóm 3, xã L, huyện D, Nghệ An để chờ bán cho T. Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, khi N đang điều khiển xe máy chở N đi trên đường liên xã thuộc xóm 3, xã L, huyện D, Nghệ An thì bị công an huyện D kiểm tra, bắt quả tang. Thu giữ tại tay Trần Quang N 01 (một) túi bạt màu xanh, bên trong chứa 02 (Hai) khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm giống nhau, mỗi hộp có kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài có chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, nghi là pháo nổ loại 49 quả; thu giữ tại cốp xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn vàng đen, BKS: 37P1-162.73 do Trương Công Ng điều khiển 03 (Ba) khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm giống nhau, mỗi hộp có kích thước (14x14x12)cm, bên ngoài có chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, nghi là pháo nổ loại 36 quả.
Vào khoảng 0 giờ 10 phút ngày 02/02/2021, cơ quan CSĐT Công an huyện D, tỉnh Nghệ An tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở đối với Trần Quang N tại xóm 3, xã L, huyện D, tỉnh Nghệ An. Quá trình khám xét không thu giữ đồ vật, tài liệu gì.
Tại biên bản mở niêm phong xác định khối lượng, lấy mẫu giám định và niêm phong lại lập hồi 01 giờ10 phút ngày 02/02/2021 tại Công an huyện D thể hiện:
- 02 (Hai) khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm giống nhau, mỗi hộp có kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài có chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, nghi là pháo nổ loại 49 quả, có tổng khối lượng 3,5kg (Ba phẩy năm ki lô gam). Hội đồng đã lấy ngẫu nhiên 01 (Một) khối hình hộp chữ nhật có kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài có chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, nghi là pháo nổ loại 49 quả, có khối lượng 1,75kg (Một phẩy bảy mươi lăm ki lô gam) gửi giám định, ký hiệu M1.
- 03 (Ba) khối hình hộp chữ nhật có đặc điểm giống nhau, mỗi hộp có kích thước (14x14x12)cm, bên ngoài có chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, nghi là pháo nổ loại 36 quả, có tổng khối lượng 4,05kg (Bốn phẩy không năm ki lô gam). Hội đồng đã lấy ngẫu nhiên 01 (Một) khối hình hộp chữ nhật có kích thước (14x14x12)cm, bên ngoài có chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, nghi là pháo nổ loại 36 quả, có khối lượng 1,35kg (Một phẩy ba mươi lăm ki lô gam) gửi giám định, ký hiệu M2.
Như vậy, 05 (Năm) khối hình hộp chữ nhật, nghi là pháo nổ thu giữ của Trần Quang N có tổng khối lượng 7,55 kg (Bảy phẩy năm mươi lăm ki lô gam). (BL: 28)
Tại bản kết luận giám định số 212/KL-PC09 (Đ2-CN) ngày 05/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Các mẫu vật M1, M2 gửi giám định đều là pháo, đều là loại pháo nổ.
* Vật chứng vụ án thu giữ:
- 01 (một) bì tải màu xanh ban đầu được niêm phong theo đúng quy định, bên trong chứa vật chứng còn lại sau khi lấy giám định gồm 01 (Một) hộp pháo nổ kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài có in chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, khối lượng 1,75 kg (Một phấy bảy mươi lăm ki lô gam); 02 (Hai) hộp pháo nổ kích thước (14x14x12)cm, bên ngoài có chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, có khối lượng 2,7 kg (Hai phẩy bảy ki lô gam); giấy niêm phong ban đầu. Hiện được bảo quản tại Kho vật chứng Công an huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn vàng đen, biển kiểm soát 37P1-162.73 do Trương Công Ngọc điều khiển, qua xác minh chiếc xe trên là của ông Trương Công Đ, sinh năm 1977 và bà Chu Thị L, sinh năm 1978, đều trú tại xóm V, xã T, huyện Y, tỉnh Nghệ An (là bố mẹ đẻ Trương Công Ng). Việc Trương Công Ng sử dụng chiếc xe trên đi mua pháo nổ ông Trương Công DD và bà Chu Thị L không biết nên Cơ quan CSĐT công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã trả lại cho chủ sở hữu theo quy định.
Tại bản cáo trạng số 103/CT - VKSDC ngày 11/5/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Trần Quang Ngân về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c, khoản 1, Điều 190 Bộ luật hình sự.
Tại phiên toà đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện D vẫn giữ nguyên quyết định truy tố như bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng: điểm c, khoản 1, Điều 190; điểm s, khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự 2015 để xử phạt bị cáo Trần Quang N mức án từ 12 đến 15 tháng tù. Nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 30 tháng . Miễn hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
- Về xử lý vật chứng:
- 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn vàng đen, biển kiểm soát 37P1-162.73 cơ quan điều tra đã trả lại chủ sở hữu là của ông Trương Công Đ, sinh năm 1977 và bà Chu Thị L, sinh năm 1978 theo đúng quy định của pháp luật nên không xem xét.
Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự, điều 106 BLTTHS: Tịch thu tiêu hủy - 01 (một) bì tải màu xanh ban đầu được niêm phong theo đúng quy định, bên trong chứa vật chứng còn lại sau khi lấy giám định gồm 01 (Một) hộp pháo nổ kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài có in chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, khối lượng 1,75 kg (Một phấy bảy mươi lăm ki lô gam); 02 (Hai) hộp pháo nổ kích thước (14x14x12)cm, bên ngoài có chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, có khối lượng 2,7 kg (Hai phẩy bảy ki lô gam); giấy niêm phong ban đầu. Hiện được bảo quản tại Kho vật chứng Công an huyện D, tỉnh Nghệ An.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Bị cáo không tranh luận gì thêm và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, xin được hưởng án treo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã được thực hiện đều hợp pháp.
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với các chứng cứ tài liệu đã thu thập được trong quá trình điều tra có tại hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa nên đã có đủ cơ sở để kết luận: Vào khoảng 20 giờ30 phút ngày 01/02/2021, tại khu vực xóm 3, xã L, huyện D, tỉnh Nghệ An, Trần Quang N đã bán cho Trương Công Ng 03 (Ba) hộp pháo nổ loại 36 quả có khối lượng 4,05 kg (Bốn phẩy không năm ki lô gam) với giá 3.300.000 đồng (Ba triệu ba trăm nghìn đồng). Sau đó, Ngân lấy 02 (Hai) hộp pháo nổ có khối lượng 3,5kg (Ba phẩy năm ki lô gam) xin xe Ng đi ra đến khu vực đường liên xã L, huyện D để tiếp tục bán cho người khác thì bị Công an huyện D phát hiện bắt quả tang
Tại bản kết luận giám định số 212/KL-PC09 (Đ2-CN) ngày 05/02/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận: Các mẫu vật M1, M2 gửi giám định đều là pháo, đều là loại pháo nổ. Như vậy tổng khối lượng hàng cấm N phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Buôn bán hàng cấm” là 7,55 kg (Bảy phẩy năm mươi lăm ki lô gam).Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do đó đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” được quy định tại điểm c khoản 1, Điều 190 của Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu đã truy tố bị cáo Trần Quang N với điều khoản và tội danh như trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Về tính chất vụ án: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Thời gian qua tình hình buôn bán các loại pháo xảy ra nhiều trên địa bàn, các cơ quan chức năng đã ra sức tuyên truyền, giáo dục nhằm ngăn chặn loại tội phạm này. Bị cáo có đủ nhận thức để biết rõ hành vi của minh là vi phạm pháp luật, pháo là mặt hàng kinh doanh có điều kiện và Nhà nước nghiêm cấm sản xuất, buôn bán, vận chuyển, nhưng chỉ vì hám lợi mà bị cáo đã bất chấp pháp luật để thực hiện hành vi phạm tội. Bởi vậy cần lên một mức án tương xứng hành vi mà bị cáo đã gây ra để đảm bảo tác dụng giáo dục và phòng ngừa chung tội phạm.
. Về việc đánh giá các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội thuộc trường hợp nghiêm trọng; sau khi phạm tội quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo luôn có thái độ hợp tác khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, gia đình có ông bà có công với cách mạng được Nhà nước tặng huân, huy chương. Bởi vậy cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có công việc ổn định. Hội đồng xét xử xét cho bị cáo được hưởng án treo và giao cho chính quyền địa phương giám sát giáo dục là phù hợp, gia đình có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát giáo dục bị cáo trong thời gian chấp hành án treo.
. Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo không có tài sản gì để đảm bảo thi hành án. Hội đồng xét xử xét miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.
. Trong vụ án này Trần Quang N khai còn có người thanh niên tên T, trú ở xã L, huyện D, Nghệ An là người đặt mua pháo của Trần Quang N; và người đàn ông tên Đ là người bán pháo cho N (theo lời khai của N), tuy nhiên do không xác định được tên tuổi, địa chỉ cụ thể nên không có căn cứ xác minh xử lý. Đối với Vương Đình H, sinh năm 2001, trú tại xóm 3, xã C, huyện D, tỉnh Nghệ An là người mua pháo nổ giúp Ngân, do hiện nay Hạ không có mặt tại địa phương, vì vậy cơ quan CSĐT Công an huyện Diễn Châu tiếp tục điều tra, xác minh xử lý sau.
. Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì tải màu xanh ban đầu được niêm phong theo đúng quy định, bên trong chứa vật chứng còn lại sau khi lấy giám định gồm 01 (Một) hộp pháo nổ kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài có in chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, khối lượng 1,75 kg (Một phấy bảy mươi lăm ki lô gam); 02 (Hai) hộp pháo nổ kích thước (14x14x12)cm, bên ngoài có chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, có khối lượng 2,7 kg (Hai phẩy bảy ki lô gam); giấy niêm phong ban đầu. Hiện được bảo quản tại Kho vật chứng Công an huyện D, tỉnh Nghệ An.
Đối với 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda Airblade, màu sơn vàng đen, biển kiểm soát 37P1-162.73 cơ quan điều tra đã trả lại chủ sở hữu là của ông Trương Công Đ, sinh năm 1977 và bà Chu Thị L, sinh năm 1978 theo đúng quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét
. Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn quy định của pháp luật
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm c khoản 1, Điều 190; điểm s, khoản 1, khoản 2, Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự 2015: Xử phạt bị cáo Trần Quang N 12 (Mười hai) tháng tù , nhưng cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời gian thử thách là 24 (Hai bốn)tháng kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Trần Quang N cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện D, tỉnh Nghệ An để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị trong thời gian chấp hành án treo.
“Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.
Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 92 Luật Thi hành án hình sự.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; điểm a, c khoản 2 điều 106;.Tịch thu tiêu hủy 01 (một) bì tải màu xanh ban đầu được niêm phong theo đúng quy định, bên trong chứa vật chứng còn lại sau khi lấy giám định gồm 01 (Một) hộp pháo nổ kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài có in chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, khối lượng 1,75 kg (Một phấy bảy mươi lăm ki lô gam); 02 (Hai) hộp pháo nổ kích thước (14x14x12)cm, bên ngoài có chữ nước ngoài, nhiều màu sắc, có khối lượng 2,7 kg (Hai phẩy bảy ki lô gam); giấy niêm phong ban đầu. Hiện được bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện D, tỉnh Nghệ An.
- Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội 14. Buộc bị cáo Trần Quang Ngân phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo lên Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết hợp lễ bản án. Nơinhận:
| - Bị cáo; - Những người TGTT; - VKS huyện D; - VKS tỉnh Nghệ An. - TAND tỉnh Nghệ An ; - Công an huyện D. - Chi cục THA dân sự h.D; - THA hình sự; - Sở tư pháp; - Lưu hồ sơ + lưu trữ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Đình Lâm |