vanban.org

Bản án 125/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh Tuyên án 19/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cá o Bùi Trọng Q phạm tội “Trộ m cắ p tà i sả n”.

Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46; điể m g khoả n 1 Điề u 48; Điề u 33; Điề u 41 Bộ luật hình sự. Điề u 76; Điề u 99, Điề u 228 Bộ luậ t tố tụng hình sự ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt: Bị cáo Bùi Trọng Q 16 (… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bùi Trọng Q TCTS - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cá o Bùi Trọng Q phạm tội “Trộ m cắ p tà i sả n”.
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIÊN DU
TỈNH BẮC NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:125/2017/HSST
Ngày 19/9/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIÊN DU

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễ n Trọ ng Trườ ng

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễ n Bỉnh Thái

Ông Dương Văn Há nh

Nhữ ng ngườ i tiế n hà nh tố tụ ng khá c tạ i phiên tò a:

Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Ông Trầ n Văn Quang- Thẩ m tra viên

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh tham gia phiên toà: Ông Chu Đức Tuấn - Kiểm sát viên

Hôm nay, ngày 19 tháng 9 năm 2017 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyệ n Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2017/TLST-HS ngà y 10/8/2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 126/2017/HSST-QĐ ngà y 05/9/2017 đối với bị cáo:

Bùi Trọng Q, sinh năm 1993

STQ: H, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

Trình độ học vấn: 8/12; Nghề nghiệp: Không

;

Con ông Bùi Trọng C, sinh năm 1967;

Con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970;

Bị cáo là con duy nhất trong gia đình

Vợ, con: Chưa có

Tiền sự: Không

Tiền án có 02:

+ Tại bản án số 152/2013/HSST ngày 14/8/2013 bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 24/10/2015.

+ Tại bản án số 136/2016/HSST ngày 03/6/2016 bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 26/10/2016.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 15/6/2017 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh – Có mặt tại Phên tòa.

* Ngườ i bị hại: Ông Nguyễn Đức H, sinh năm 1955 (Có mặ t)

Đị a chỉ : thôn L, thị trấn L, huyện T, tỉnh Bắc Ninh

* Ngƣờ i có quyề n lợ i và nghĩ a vụ liên quan:

- Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970 (Vắng mặt)

Địa chỉ: H, phường V, thành phố B, tỉnh Bắc Ninh.

- Anh Nguyễn Đại D, sinh năm 1988 (Vắ ng mặt)

HKTT: 11/11 phường Đ, thành phố Th, tỉnh Thanh Hóa

Chỗ ở hiện nay: Thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh

-Ông Hoàng Minh Tr, sinh năm 1968 (Vắ ng mặt)

Địa chỉ: Thôn Y, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh

-Anh Nguyễn Văn Ph, sinh năm 1993 (Vắ ng mặt)

Địa chỉ: Thôn Đ, xã Y, huyện Y, tỉnh Bắc Ninh

NỘ I DUNG VỤ Á N

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Rạng sáng ngày 04/6/2017, Bùi Trọng Q mang theo 01 chiếc đèn pin lén lút đột nhập vào nhà ông Nguyễn Đức Kh ở xóm Th, thôn L, thị trấn L, huyện T. Do không tìm thấy tài sản nên Q trèo qua mái tôn sang tầng 2 nhà ông Nguyễn Đức H ở liền kề. Tại đây Q lấy được 30 tờ tiền mệnh giá 200 đồng, 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy G530, 01 chùm chìa khóa và 01 ví giả da. Q tiếp tục đi xuống tầng 1 mở cửa ra ngoài sân thì phát hiện chiếc xe máy Honda WaveS BKS: 99C1- 042.06 nên đã dùng chùm chìa khóa vừa lấy được mở khóa càng và khóa điện. Sau đó mở khóa cổng dắt xe máy ra ngoài nổ máy đi được khoảng 500 mét thì dừng xe mở cốp. Kiểm tra bên trong cốp có khoảng 20.000 đồng tiền lẻ, ví da có 1.100.000 đồng, 01 đăng ký xe, 01 giấy phép lái xe, 01 giấy bảo hiểm xe máy, 01 chứng minh nhân dân đều mang tên Nguyễn Đức H. Q vứt chiếc vỏ ốp điện thoại và giấy phép lái xe rồi điều khiển xe máy đi đến quán internet ở huyện Y. Trên đường đi, Q vứt bỏ chiếc ví giả da, giấy bảo hiểm xe máy và chứng minh nhân dân của ông H. Khi đến quán internet, Q bán chiếc điện thoại Samsung Glaxy G530 cho anh Nguyễn Đại D với giá 700.000 đồng. Do không đủ tiền nên anh D mới trả Q 300.000 đồng. Sau đó anh D bán lại chiếc điện thoại cho anh Nguyễn Văn Ph với giá 600.000 đồng. Anh Ph bán lại cho một người không quen biết được 700.000 đồng. Ngày hôm sau Q quay lại quán Internet được một người thanh niên tên Hảo đang chơi điện tử đưa đến cửa hàng cầm đồ của ông Hoàng Minh Tr cầm cố chiếc xe máy Honda WaveS BKS: 99C1-042.06 vay được 6.500.000 đồng. Q cho người thanh niên tên H 250.000 đ. Toàn bộ số tiền có được Q đã ăn tiêu cá nhân hết.

Ngày 14/6/2017 ông Nguyễn Đức H trình báo cơ quan Công an. Sau khi hành vi bị phát giác, Q tự nguyện giao nộp 01 đèn pin, 30 tờ tiền mệnh giá 200 đồng và 01 điện thoại Nokia 1280 kèm theo simcard. Quá trình dẫn giải bị cáo, cơ quan điều tra đã thu giữ được chiếc vỏ ốp điện thoại. Đối với chiếc ví giả da, giấy phép lái xe, bảo hiểm xe máy và chứng minh nhân dân của ông H, cơ quan điều tra truy tìm nhưng đến nay chưa thu hồi được. Cùng ngày 14/6/2017 ông Tr đã tự nguyện giao nộp chiếc xe máy Honda WaveS BKS: 99C1-042.06 kèm theo đăng ký xe và 02 chìa khóa xe để phục vụ điều tra. Anh D tự nguyện giao nộp 300.000 đồng, anh Ph tự nguyện giao nộp 100.000 đồng. Do giá trị thấp nên ông H không yêu cầu định giá ốp điện thoại, 02 simcard và chiếc ví giả da. Kết luận định giá ngày 22/6/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Tiên Du thể hiện: 01 chiếc xe máy Honda WaveS, BKS: 99C1- 042.06 có giá trị 7.500.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động Samsung galaxy G530 có giá trị 1.500.000 đồng. Như vậy tổng giá trị tài sản Q chiếm đoạt của ông H là 10.126.000 đồng. Cơ quan điều tra đã trả lại cho ông H 01 chiếc xe máy Honda WaveS BKS: 99C1- 042.06 kèm theo đăng ký xe, 02 chìa khóa, 01 chiếc vỏ ốp lưng điện thoại và 30 tờ tiền mệnh giá 200 đồng.

Vớ i nộ i dung trên, Cáo trạng số 86/CTr- VKS ngày 07/8/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Tiên Du để xét xử bị cáo Bùi Trọng Q về tộ i “Trộ m cắ p tà i sả n” theo điểm c khoản 2 Điề u 138 Bộ luậ t hì nh sự .

Tại phiên tòa hôm nay bị cá o Q khai nhận: Lợi dụng thời tiết nắng nóng nhiều nhà khi ngủ không đóng cửa nên bị cáo nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Rạng sáng ngày 04/6/2017 bị cáo đi bộ một mình từ thành phố B xuống khu vực thị trấn L với mục đích xem có tài sản sơ hở thì trộm cắp. Bị cáo lén lút đột nhập vào nhà ông Nguyễn Đức H. Tại đây bị cáo lấy 01 chiếc xe máy Honda WaveS BKS: 99C1-042.06; 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy G530; 01 ví giả da bên trong có 1.100.000 đồng, 01 đăng ký xe máy, 01 giấy phép lái xe, 01 bảo hiểm xe máy và 01 chứng minh nhân dân; 20.000 đồng tiền lẻ trong cốp xe máy và 30 tờ tiền mệnh giá 200 đồng. Sau đó bị cáo mang bán chiếc điện thoại được 300.000 đồng và cầm cố chiếc xe máy được 6.500.000 đồng. Toàn bộ số tiền trên bị cáo đã ăn tiêu cá nhân hết. Khi hành vi phạm tội bị phát hiện bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho người bị hại và người liên quan.

Người bị hại ông H trình bày tại phiên tòa: Rạng sáng ngày 04/6/2017 gia đình ông bị kẻ gian đột nhập lấy một số tài sản. Đến nay Cơ quan điều tra đã thu hồi và trả ông 01 chiếc xe máy Honda WaveS BKS: 99C1- 042.06 kèm theo đăng ký xe, 02 chìa khóa, 01 chiếc vỏ ốp lưng điện thoại và 30 tờ tiền mệnh giá 200 đồng. Số tiền 1.100.000 đồng và chiếc điện thoại Samsung glaxy G530 chưa thu hồi được nhưng gia đình bị cáo đã bồi thườ ng cho ông số tiề n 2.600.000 đồ ng. Đối với 02 chiếc thẻ sim, 01 chiếc ví giả da, 01 giấy phép lái xe, 01 bảo hiểm xe máy, chứng minh nhân dân và khoảng 20.000 đồng tiền lẻ không thu hồi được nhưng ông không yêu cầu bị cáo bồi thường.

Ngườ i có quyề n lợ i , nghĩa vụ liên qu an bà H trình bày tại cơ quan điều tra : Bà là mẹ đẻ bị cáo Q, sau khi cơ quan điều tra thông báo về hành vi trộm cắp của con bà, bà đã tự nguyện bồ i thườ ng cho ông H 2.600.000 đồng, ông Tr 6.500.000 đ. Nay bà xác định bồi thường thay cho bị cáo và không yêu cầ u bị cá o hoà n trả .

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Tr vắng mặt, lời khai có trong hồ sơ vụ án thể hiện: Khi cho bị cáo Q vay số tiền 6.500.000 đồng và nhận cầm cố chiếc xe máy Honda WaveS BKS: 99C1- 042.06, ông không biết nguồn gốc do phạm tội mà có. Hiện nay gia đình bị cáo đã trả ông 6.500.000 đồng nên ông không có yêu cầu gì.

Ngườ i có quyề n lợ i, nghĩa vụ liên quan anh D, anh Ph đã đượ c triệ u tậ p hợ p lệ nhưng vắ ng mặ t , lờ i trì nh bà y tạ i cơ quan điề u tra thể hiệ n: Khi mua chiế c điệ n thoại Samsung glaxy G 530 các anh không biết tài sản nguồn gốc do phạm tội mà có. Anh D tự nguyện nộp 300.000, anh Ph nộp 100.000 đồng tiền hưởng lợi từ việc bán chiếc điện thoại trên.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiên Du, tỉnh Bắc Ninh thực hành quyền công tố tại phiên tòa, sau khi xé t hỏ i thẩ m vấ n công khai tạ i phiên tòa đã thay đổ i quyết định truy tố bị cáo từ điể m c khoả n 2 Điề u 138 Bộ luậ t hì nh sự sang khoản 1 Điề u 138 Bộ luậ t hì nh sự . Sau khi phân tích nguyên nhân, tính chất, mức độ nguy hiểm cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Bùi Trọng Q phạm tội “Trộ m cắ p tài sản”.

Căn cứ khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46; điể m g khoả n 1 Điề u 48; Điều 33 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Bùi Trọng Q từ 14 tháng đến 18 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 15/6/2017.

Về trách nhiệm dân sự : Không đề cậ p giả i quyế t

Về xử lý vậ t chứ ng : Áp dụng Điều 41 Bộ luậ t hì nh sự , Điề u 76 Bộ luậ t tố tụng hình sự tịch thu sung công quỹ nhà nước 400.000 đồng; 01 chiế c điệ n thoạ i Nokia 1280 và 01 chiếc đèn pin.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo sau khi nghe luận tội của đạ i diệ n Việ n kiể m sát nhân dân huyện Tiên Du thừa nhận có tội , không tranh luận mà chỉ xin giảm nhẹ hì nh phạ t.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người bị hại.

NHẬ N ĐỊ NH CỦ A HỘ I ĐỒ NG XÉ T XƢ̉ :

Tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của bả n thân. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời trình bày của người bị hại , vật chứng thu giữ được và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án . Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Rạng sáng ngày 04/6/2017 tại thôn L, thị trấn L, huyện T, bị cáo Bùi Trọng Q một mình thực hiện hành vi lén lút đột nhập vào nhà ông Nguyễn Đức H chiếm đoạt 01 chiếc xe máy Honda WaveS BKS: 99C1-042.06 trị giá 7.500.000 đồng; 01 chiếc điện thoại di động Samsung Galaxy G530 trị giá 1.500.000 đồng; 1.126.000 đồng. Tổng trị giá tài sản bị cáo đã chiếm đoạt của ông H là 10.126.000 đồng. Hành vi nêu trên của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội “Trộ m cắ p tà i sả n” , tội phạm và hình phạt được quy định tại Điề u 138 Bộ luật hình sự. Trước đó ngày 14/8/2013 bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 03/6/2016 tiếp tục bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, tuy nhiên giá trị tài sản chiếm đoạt thấp hơn 2.000.000 đồ ng nên không á p dụ ng tì nh tiế t tăng nặ ng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” . Vì vậy k hi thực hiện hành vi phạm tội ngày 04/6/2017 không xá c đị nh bị cá o “Tá i phạ m nguy hiể m” là có căn cứ . Việ c thay đổ i truy tố bị cáo từ điểm c khoản 2 điều 138 xuống khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội , đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Ngoài ra còn gây mất trật tự trị an , hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân nơi xảy ra tội phạm. Do vậy cần á p dụ ng hình phạt tương xứng với hành vi bị cáo đã thự c hiệ n mới có tác dụng giáo dục cải tạo bị cáo và phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân củ a bị cá o thì thấy : Bị cáo có 02 tiền án nên xác định nhân thân xấ u. Ngày 14/8/2013 bị cáo bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tiếp tục ngày 03/6/2016 bị Toà án nhân dân thành phố Bắc Ninh xử phạt 08 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 12/6/2008 bị Chủ tịch UBND thành phố Bắc Ninh quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, tính đến nay không coi là tiền sự nhưng cần đánh giá về nhân thân bị cáo khi lượng hình.

Về cá c tì nh tiế t tăng nặ ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay bị cáo có thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hố i cả i về hà nh vi phạ m tộ i củ a bả n thân. Bị cáo tác động đến gia đì nh bồ i thườ ng cho ông H, ông Tr. Do vậy bị cáo đượ c hưởng các tình tiế t giả m nhẹ trá ch nhiệ m hì nh sự quy đị nh tạ i điể m b, p khoả n 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tộ i khi chưa đượ c xó a á n tí ch nên bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tá i phạ m” quy đị nh tạ i điể m g khoả n1 Điề u 48 Bộ luậ t hì nh sự

Từ nhữ ng phân tí ch đá nh giá nêu trên xé t thấ y bị cá o đã từ ng bị xé t xử về

hành vi trộm cắp tài sản . Sau khi chấ p hà nh xong hì nh phạ t tù không tu dưỡ ng , rèn luyệ n bả n thân mà lạ i tiế p tụ c phạ m tộ i . Qua đây có thể thấ y thá i độ coi thườ ng pháp luật của bị cáo nên cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài xã hội một thời gian mớ i có tá c dụ ng giá o dụ c, cải tạo bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội.

Về hì nh phạ t bổ sung : Xét điều kiện kinh tế , bị cáo không có việc làm ổn đinh do vậy Hội đồng xét xử không á p dụ ng hì nh phạ t bổ sung phạ t tiề n đối với b ị cáo là phù hợ p.

Về trá ch nhiệ m dân sự : Người bị hại đã nhận lại một số tài sản và được bồi thường 2.600.000 đồng. Đối với 02 chiếc thẻ sim, 01 chiếc ví giả da, 01 giấy phép lái xe, 01 bảo hiểm xe máy và chứng minh nhân dân không thu hồi được nhưng ông H không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về xử lý vậ t chứ ng : Trong quá trình phạm tội bị cáo sử dụng chiếc đèn pin để soi sáng tìm kiếm tài sản. Chiế c điệ n thoạ i Nokia 1280 của bị cáo sử dùng để liên lạc nhằm mục đích tiêu thụ tài sản. Những tài sản trên vẫn còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung công. Đối với số tiền 400.000 đồng các đối tượng D, Ph tự nguyện giao nộp, xác định thu nhập bất chính nên cần tịch thu sung công. Bị cáo còn sử dụng chiếc điện thoại Masster liên lạc với anh D nhưng bị cáo đã bán mất, đến nay không thu hồi được nên không có căn cứ xử lý.

Liên quan trong vụ án có anh Nguyễn Đại D, Nguyễ n Văn Ph là người đã mua chiếc điện thoại Samsung Galaxy G530 và ông Hoàng Minh Tr là người đã nhận cầm cố chiếc xe máy Honda WaveS BKS: 99C1-042.06. Quá trình điều tra xác định khi mua điện thoại và nhận cầm cố chiếc xe máy, anh Đại, anh Ph, ông Tr không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên cơ quan điều tra chỉ giáo dục, nhắc nhở là phù hợp.

Đối với hành vi “nhận cầm cố tài sản thuộc sở hữu của người khác mà không có giấy ủy quyền hợp lệ của người đó cho người mang tài sản đi cầm cố” của ông Hoàng Minh Tr, cơ quan điều tra Công an huyện Tiên Du đã có công văn số 269 ngày 19/7/2017 trao đổi với cơ quan điều tra Công an huyện Yên Phong để giải quyết theo thẩm quyền.

Đối với người thanh niên tên H đã đưa bị cáo đi cầm cố chiếc xe máy Honda WaveS BKS: 99C1-042.06 và được hưởng lợi 250.000 đồng, Cơ quan điều tra đã tiến hành xác minh nhưng chưa làm rõ được, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.

Về án phí: Bị cáo phả i chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cá o Bùi Trọng Q phạm tội “Trộ m cắ p tà i sả n”.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm b, p khoản 1 Điều 46; điể m g khoả n 1 Điề u 48; Điề u 33; Điề u 41 Bộ luật hình sự. Điề u 76; Điề u 99, Điề u 228 Bộ luậ t tố tụng hình sự ; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xử phạt:

Bị cáo Bùi Trọng Q 16 (Mười sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạ m giữ , tạm giam 15/6/2017.

Tạm giam bị cáo 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để bảo đảm thi hành án.

3. Về xử lý vật chứng tịch thu sung công quỹ:

- 400.000 đồng tiền Ngân hàng nhà nước Việt Nam;

- 01 chiếc đèn pin màu xanh loại nhỏ trên thân đèn có số “1301”;

- 01 chiếc điện thoại Nokia 1280 màu xanh đen bên trong lắp simcard.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 15 tháng 9 năm 2017)

4. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Bị cáo, người bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Ngườ i có quyề n lợ i và nghĩ a vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo

trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được tống đạt án.

Cỡ chữ