vanban.org

Bản án 123/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường A phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Trường A cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo dục trong thời gi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Buôn bán hàng cấm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường A phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số Số: 01/2022/NQ-HĐTP Sửa đổi, bổ sung một số đi…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2025/HS-ST
Ngày: 24-4-2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Long Sơn. Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Ngọc Cảnh.

2. Bà Lê Thị Phương Hồ. Thư ký Toà án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Hồ Quyết Thắng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Ngô Tất Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2025 tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Củ Chi, Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 116/2025/HSST ngày 01 tháng 4 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 122/2025/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Trường A, sinh năm: 1995, tại: Thành phố Hồ Chí Minh; Giới tính: Nam; Nơi thường trú: Số D, Lê Thị K, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở hiện nay: Số D, Lê Thị K, ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: 12/12; nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông Nguyễn Văn P, sinh năm 1965 (chết) và bà Trần Thị R, sinh năm 1962; bị cáo có vợ tên Nguyễn Thị Yến N và có 01 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 27/12/2024 đến ngày 03/01/2025 thay đổi thành biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, hiện có mặt tại phiên tòa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 11 giờ 00 phút, ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại khu vực Kênh A, đoạn thuộc ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh sát kinh tế Công an huyện C với Công an xã T kiểm tra, bắt quả tang ông Nguyễn Trường A điều khiển xe mô tô biển số 53Y7-5652 vận chuyển 03 khối hình hộp kích thước (17,5x17,5x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 lỗ tròn, mỗi lỗ tròn có đường kính 2cm được nối với nhau bằng dây dẫn là pháo nổ, có tổng khối lượng 5,2kg (năm phẩy hai kilôgam), 02 khối hình hộp kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống giấy hình trụ đường kính 2,4cm dài 10cm, được nối với nhau bằng dây dẫn đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 3,4kg (ba phẩy bốn kilôgam), 03 khối hình hộp kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống giấy hình trụ đường kính 2,4cm dài 10cm, được nối với nhau bằng dây dẫn đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 5,2kg (năm phẩy hai kilôgam), 05 gói nylon chứa các vật hình câu vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc, một đầu được nổi với dây dẫn đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 2,4kg (hai phẩy bốn kilôgam) nhằm mục đích bán lại cho người có Zalo tên “Thp” để kiếm lời. (BL 02)

Kết luận giám định số 944/KL-KTHS ngày 03 tháng 01 năm 2025 của Phòng K1 về pháo nổ và khối lượng pháo nổ thu giữ được của Nguyễn Trường A. (BL 74,75,76)

Bao số 01:

+ 03 khối hình hộp kích thước (17,5x17,5x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 lỗ tròn, mỗi lỗ tròn có đường kính 2cm được nối với nhau bằng dây dẫn giám định đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 5,2kg (năm phẩy hai kilôgam).

+ 02 khối hình hộp kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống giấy hình trụ đường kính 2,4cm dài 10cm, được nối với nhau bằng dây dẫn đã giám định đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 3,4kg (ba phẩy bốn kilôgam).

Bao số 02:

+ 03 khối hình hộp kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống giấy hình trụ đường kính 2,4cm dài 10cm, được nối với nhau bằng dây dẫn đã được giám định đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 5,2kg (năm phẩy hai kilôgam).

+ 05 gói nylon chứa các vật hình cầu vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc, một đầu được nối với dây dẫn đã được giám định đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 2,4kg (hai phẩy bốn kilôgam).

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra Nguyễn Trường A đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật trong vụ án: (BL 78-83)

Toàn bộ pháo nổ có tổng khối lượng là 16,2kg, đang được bảo quản tại Cơ quan CSĐT Công an T1.

- 01 điện thoại hiệu Sam sung A32 có EMEI 1: 354491512809305, ΕΜΕΙ 2: 357022902809303 của Nguyễn Trường A dùng để liên lạc buôn bán hàng cấm. Cơ quan CSĐT đã nhập kho vào kho vật chứng thuộc Đội CSTHAHS - HTTP Công an huyện C theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 251/LNK-ĐCSKT ngày 05/02/2025.

- 01 vỏ nhựa màu đỏ đã qua sử dụng; 01 bịch nilon màu đen đã qua sử dụng; 01 thùng xốp đã qua sử dụng dùng để chứa pháo, Cơ quan CSĐT đã nhập kho vào kho vật chứng thuộc Đội CSTHAHS – HTTP Công an huyện C theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 251/LNK-ĐCSKT ngày 05/02/2025 và Lệnh nhập kho vật chứng số: 278/LNK-ĐCSKT ngày 10/02/2025.

- 01 xe mô tô biển số 53Y7-5652 có số khung: CT100F1067474, số máy: CT100E-1067530 thu của Nguyễn Trường A dùng để vận chuyển pháo nổ để đem đi bán. Đối với xe mô tô biển số 53Y7 – 5652 nêu trên do A mua lại của người đàn ông (Không rõ lai lịch) với giá 8.500.000 đồng nhưng không làm thủ tục sang tên và sử dụng để đi buôn bán chim, cá đồng và pháo nổ. Kết quả xác minh xe mô tô trên do bà Huỳnh Thị T (Sinh năm 1969) đứng tên chủ sở hữu. Hiện nay, bà T đã chuyển hộ khẩu về địa chỉ số H Q, phường H, quận G, TP .. Năm 2001, bà T có mua xe mô tô biển số 53Y7 – 5652 nêu trên và đăng ký thường trú tại 3 N, xã B, huyện H, TP .. Sau đó bán xe mô tô nêu trên với giá 2.000.000 đồng cho một người đàn ông (Không rõ lai lịch) không nhớ rõ thời gian nào. Hiện nay bà T không rõ ai đang quản lý, sử dụng xe mô tô nêu trên. Cơ quan CSĐT Công an T1 ra Thông báo truy tìm chủ sở hữu đối với xe mô tô biển số 53Y7 – 5652. Cơ quan CSĐT đã nhập kho vào kho vật chứng thuộc Đội CSTHAHS – HTTP Công an huyện C theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 251/LNK-ĐCSKT ngày 05/02/2025.

Bản Cáo trạng số 312/CT-VKSCC ngày 28 tháng 3 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo Nguyễn Trường A về tội “Buôn bán hàng cấm”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội và thừa nhận cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi đã nêu là đúng, không oan sai gì cho bị cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:

- Áp dụng khoản 1 Điều 190, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Nguyễn Trường A từ 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù đến 02 (hai) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”.

- Về vật chứng vụ án: Căn cứ Điều 106 BLTTHS xử lý vật chứng theo quy định.

Bị cáo Nguyễn Trường A không tranh luận, không tự bào chữa.

Bị cáo Nguyễn Trường A nói lời sau cùng: Bị cáo đã thấy được hành vi phạm tội của mình là sai trái. Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về làm lại cuộc đời và chăm sóc gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan có thẩm quyền tiến hành tố tụng, người có thẩm quyền tiến hành tố tụng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh; điều luật áp dụng; tính chất, mức độ của hành vi phạm tội:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa là khách quan, phù hợp với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, truy tố; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và phù hợp với lời khai của người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác thu thập được có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận: Vào lúc 11 giờ 00 phút, ngày 27 tháng 12 năm 2024, tại Khu vực Kênh A, đoạn thuộc ấp M, xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh, Đội Cảnh cát Kinh tế Công an huyện C với Công an xã T kiểm tra, bắt quả tang Nguyễn Trường A điều khiên xe mô tô biển số 53Y7-5652 vận chuyển 16,2kg (mười sáu phẩy hai kilôgam) đều là pháo nổ nhằm mục đích bán lại cho người khác để kiếm lời.

Hành vi của bị cáo Nguyễn Trường A đã phạm vào tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi truy tố bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm”, là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất, kinh doanh một số loại hàng cấm. Khi thực hiện hành vi, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được rằng việc buôn bán hàng chấm là pháo nổ nhằm thu lợi bất chính là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không phải lao động chân chính nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội đến cùng. Do vậy, Hội đồng xét xử thấy cần xử lý bị cáo bằng một hình phạt nghiêm khắc là cần thiết.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Hội đồng xét xử xét thấy tại cơ quan điều tra và tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Gia đình bị cáo Nguyễn Trường A là người có công với cách mạng, bà nội của mẹ bị cáo là Mẹ Việt Nam Anh Hùng Nguyễn Thị X (BL102); bị cáo có bà ngoại Trà Thị V, sinh năm 1938 hiện còn sống, tham gia kháng chiến chống Mỹ cứu nước, được Nhà nước tặng Huân chương kháng chiến hạng Ba (BL100), đồng thời bị cáo cũng là lao động chính trong gia đình. Xét tính chất và hành vi phạm tội của bị cáo và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Củ Chi. Hội đồng xét xử áp dụng điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xem xét quyết định về hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

Về hình phạt áp dụng: Bị cáo Nguyễn Trường A có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, chấp hành tốt chính sách, phát luật và thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân ở nơi cứ trú, có nhiều tình tiết giảm nhẹ, trong đó có một tình tiết quy định tại khoản 1 Điều 51 và một tình tiết giảm nhẹ theo khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự và không có tình tiết tăng nặng và đặc biệt có khả năng tự cải tạo. Do đó, Hội đồng xét xử thấy không cần thiết cách ly bị cáo Nguyễn Trường A ra khỏi xã hội mà áp dụng hình phạt chính là hình phạt tù nhưng cho hưởng án treo cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người có ích cho gia đình, xã hội và phòng ngừa tội phạm chung, đồng thời cũng thể hiện sự khoan hồng của pháp luật phù hợp với quy định tại Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 4 Điều 190 Bộ luật Hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Hội đồng xét xử thấy, bị cáo hiện đang là lao động tự do, không có nghề nghiệp ổn định và đang có con nhỏ sinh năm 2020, nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo là có cở sở.

Về vật chứng vụ án:

- Đối với các khối pháo nổ còn lại sau khi đã sử dụng để phục vụ giám định được niêm phong có chữ ký của Giám định viên và Cán bộ điều tra gồm:

Bao số 01:

+ 02 khối hình hộp kích thước (17,5x17,5x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 lỗ tròn, mỗi lỗ tròn có đường kính 2cm được nối với nhau bằng dây dẫn (m1) có tổng khối lượng 3,4kg (ba phẩy bốn kilôgam).

+ 01 khối hình hộp kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống giấy hình trụ đường kính 2,4cm dài 10cm, được nối với nhau bằng dây dẫn (m2) có tổng khối lượng 1,7kg (một phẩy bảy kilôgam).

Bao số 02:

+ 02 khối hình hộp kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống giấy hình trụ đường kính 2,4cm dài 10cm, được nối với nhau bằng dây dẫn (m3) có tổng khối lượng 3,4kg (ba phẩy bốn kilôgam).

Các vật hình cầu vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc, một đầu được nối với dây dẫn mẫu (m4) có tổng khối lượng 2,0kg (hai kilôgam).

Toàn bộ vật chứng kể trên đều là vật cấm lưu hành nên cần tịch thu, tiêu hủy.

- 01 điện thoại hiệu Sam sung A32 có EMEI 1: 354491512809305, ΕΜΕΙ 2: 357022902809303 của Nguyễn Trường A dùng để liên lạc buôn bán hàng cấm. Cơ quan CSĐT đã nhập kho vào kho vật chứng thuộc Đội CSTHAHS - HTTP Công an huyện C theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 251/LNK-ĐCSKT ngày 05/02/2025, là tài sản bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- 01 vỏ nhựa màu đỏ đã qua sử dụng; 01 bịch nilon màu đen đã qua sử dụng; 01 thùng xốp đã qua sử dụng dùng để chứa pháo, Cơ quan CSĐT đã nhập kho vào kho vật chứng thuộc Đội CSTHAHS – HTTP Công an huyện C theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 251/LNK-ĐCSKT ngày 05/02/2025 và Lệnh nhập kho vật chứng số: 278/LNK-ĐCSKT ngày 10/02/2025 là vật chứng không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu và tiêu hủy.

- 01 xe mô tô biển số 53Y7-5652 có số khung: CT100F1067474, số máy: CT100E-1067530 thu của Nguyễn Trường A dùng để vận chuyển pháo nổ để đem đi bán. Đối với xe mô tô biển số 53Y7 – 5652 nêu trên do A mua lại của người đàn ông (Không rõ lai lịch) với giá 8.500.000 đồng nhưng không làm thủ tục Sang tên và sử dụng cho giá 8.500.000 nhưng làm thiết quả xác minh xe mô tô trên do bà Huỳnh Thị T (Sinh năm 1969) đứng tên chủ sở hữu. Hiện nay, bà T đã chuyển hộ khẩu về địa chỉ số H Q, phường H, quận G, TP .. Năm 2001, bà T có mua xe mô tô biển số 53Y7 – 5652 nêu trên và đăng ký thường trú tại 3 N, xã B, huyện H, TP .. Sau đó bán xe mô tô nêu trên với giá 2.000.000 đồng cho một người đàn ông (Không rõ lai lịch) không nhớ rõ thời gian nào. Hiện nay bà T không rõ ai đang quản lý, sử dụng xe mô tô nêu trên. Cơ quan CSĐT Công an T1 ra Thông báo truy tìm chủ sở hữu đối với xe mô tô biển số 53Y7 – 5652. Cơ quan CSĐT đã nhập kho vào kho vật chứng thuộc Đội CSTHAHS – HTTP Công an huyện C theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 251/LNK-ĐCSKT ngày 05/02/2025. Xét thấy, vật chứng là phương tiện dùng vào việc phạm tội, nên cần tịch thu, nộp ngân sách nhà nước.

Về nghĩa vụ chịu án phí:

Xét cần buộc bị cáo phải chịu một khoản tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội và Luật Phí và lệ phí năm 2015.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Trường A phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

1. Căn cứ khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 2 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo và Nghị quyết số 01/2022/NQ-HĐTP ngày 15/4/2022 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao sửa đổi, bổ sung một số điều Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Trường A 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời gian thử thách là 03 (ba) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Nguyễn Trường A cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện C, Thành phố Hồ Chí Minh để giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo Nguyễn Trường A có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo Nguyễn Trường A.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ vào Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.

- Tịch thu, tiêu hủy toàn bộ khối phổ nổ còn lại sau giám định, cụ thể:

+ Bao số 01:

02 khối hình hộp kích thước (17,5x17,5x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 lỗ tròn, mỗi lỗ tròn có đường kính 2cm được nối với nhau bằng dây dẫn (m1) có tổng khối lượng 3,4kg (ba phẩy bốn kilôgam).

01 khối hình hộp kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống giấy hình trụ đường kính 2,4cm dài 10cm, được nổi với nhau bằng dây dẫn (m2) có tổng khối lượng 1,7kg (một phẩy bảy kilôgam).

+ Bao số 02:

02 khối hình hộp kích thước (17x17x10)cm, bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc, bên trong mỗi khối có 49 ống giấy hình trụ đường kính 2,4cm dài 10cm, được nổi với nhau bằng dây dẫn (m3) có tổng khối lượng 3,4kg (ba phẩy bốn kilôgam).

+ Các vật hình cầu vỏ bằng nhựa nhiều màu sắc, một đầu được nối với dây dẫn mẫu (m4) có tổng khối lượng 2,0kg (hai kilôgam).

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 điện thoại hiệu Sam sung A32 có EMEI 1: 354491512809305, ΕΜΕΙ 2: 357022902809303 của Nguyễn Trường A dùng để liên lạc buôn bán hàng cấm. Cơ quan CSĐT đã nhập kho vào kho vật chứng thuộc Đội CSTHAHS - HTTP Công an huyện C theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 251/LNK-ĐCSKT ngày 05/02/2025 (BL81).

- Tịch thu, tiêu hủy 01 vỏ nhựa màu đỏ đã qua sử dụng; 01 bịch nilon màu đen đã qua sử dụng; 01 thùng xốp đã qua sử dụng dùng để chứa pháo, Cơ quan CSĐT đã nhập kho vào kho vật chứng thuộc Đội CSTHAHS – HTTP Công an huyện C theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 251/LNK-ĐCSKT ngày 05/02/2025 (BL81) và Lệnh nhập kho vật chứng số: 278/LNK-ĐCSKT ngày 10/02/2025 (BL82).

- Tịch thu, nộp ngân sách nhà nước 01 xe mô tô biển số 53Y7-5652 có số khung: CT100F1067474, số máy: CT100E-1067530. Cơ quan CSĐT đã nhập kho vào kho vật chứng thuộc Đội CSTHAHS – HTTP Công an huyện C theo Lệnh nhập kho vật chứng số: 251/LNK-ĐCSKT ngày 05/02/2025 (BL81).

3. Căn cứ vào Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, Luật Phí và lệ phí năm 2015 và Nghị Quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Q;

- Án phí hình sự sơ thẩm buộc bị cáo Nguyễn Trường A phải chịu là 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng).

4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND TP. Hồ Chí Minh;

(1)

THẦM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND TP.Hồ Chí Minh;

(1)

- VKSND huyện Củ Chi;

(1)

- Chi Cục THADS H. Củ Chi; (1)

- Bị cáo;

(1)

- THAHS;

(5)

- P. PV06 - CATP. HCM;

(1)

- Cơ quan CSĐT CATP. HCM; (1)

Nguyễn Long Sơn

- Sở Tư pháp;

(1)

- UBND nơi bị cáo cư trú;

(1)

- Lưu: VT, THS, hồ sơ.

(5)

HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẦM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Long Sơn

Cỡ chữ