- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN ĐÌNH XUÂN - MA TÚY - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Căn cứ Điều 47; 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 106; 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG TỈNH BẮC GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 123/2022/HSST Ngày 28 tháng 12 năm 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LẠNG GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Sang
Các hội thẩm nhân dân: Ông Dương Kim Sơn, ông Bùi Thế Vịnh
Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: ông Đỗ Ngọc Tĩnh - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang tham gia phiên toà: Ông Trần Mạnh Sỹ - Kiểm sát viên.
Trong ngày 28 tháng 12 năm 2022, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 120/2022/HSST ngày 05 tháng 12 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 136/2022/HSST-QĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. Họ và tên: Phùng Văn T; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; sinh năm 1994; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn Sông Cùng, xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Công nhân; Trình độ học vấn: 12/12; Bố đẻ: Phùng Minh Doanh, sinh năm 1970; Mẹ đẻ: Dương Thị Tấm, sinh năm 1971; Gia đình có ba chị em, bị cáo là thứ ba; Vợ: Nguyễn Thị Vân, sinh năm 1997; Bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 2014 nhỏ sinh năm 2022;
- Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/4/2022 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Công an huyện Lạng Giang. Bị cáo Phùng Văn T có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn H; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; sinh năm 2000; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn Sông Cùng, xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Bố đẻ: Nguyễn Đăng Phong, sinh năm 1974; Mẹ đẻ: Trần Thị Toan, sinh năm 1975; Gia đình có hai chị em, bị cáo là thứ hai; Vợ: Lý Thị Hồng, sinh năm 1991; Bị cáo có 03 con, lớn sinh năm 2018 nhỏ sinh năm 2022;
- Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/4/2022 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Công an huyện Lạng Giang. Bị cáo Nguyễn H có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Nguyễn VH; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; sinh năm 1994; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn Dĩnh Lục 2, xã Tân Dĩnh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Bố đẻ: Nguyễn Văn Luyến, sinh năm 1967 (Đã chết); Mẹ đẻ: Nguyễn Thị Hà, sinh năm 1969; Gia đình có hai chị em, bị cáo là thứ hai; Vợ: Chu Thị Lan, sinh năm 1994; Bị cáo có 03 người con, lớn sinh năm 2016 nhỏ sinh năm 2020;
- Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 30/4/2022 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh Bắc Giang. Bị cáo Nguyễn VH có mặt tại phiên tòa.
4. Họ và tên: Nguyễn X; tên gọi khác: Không có; giới tính: Nam; sinh ngày 30 tháng 3 năm 2004; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: thôn Chung, xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Bố đẻ: Nguyễn Đình Dũng, sinh năm 1976; Mẹ đẻ: Hà Thị Hiển, sinh năm 1977; Gia đình có hai chị em, bị cáo là thứ hai; Bị cáo chưa có vợ, con;
- Tiền án: Không;
- Tiền sự: Ngày 10/8/2021, Xuân bị Công an huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khoẻ người khác” phạt số tiền 1.250.000 đồng. Ngày 05/12/2022, Xuân đã nộp phạt;
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/7/2022 đến nay. Hiện đang tạm giam tại Trại tạm giam, Công an tỉnh Bắc Giang. Bị cáo Nguyễn X có mặt tại phiên tòa.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Nguyễn Văn Thanh, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Ngò, xã Tân Tiến, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang
2. Chị Ngô Thị Nguyệt, sinh năm 1982 (vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố Đại Phú 1, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
3. Anh Nguyễn Thanh Hải, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố Đại Phú 1, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
* Người làm chứng:
1. Chị Điêu Thị Tươi, sinh năm 2003 (vắng mặt)
Địa chỉ: Bản Pồng, xã Mường Khiêng, huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La
2. Chị Lương Phương Đa, sinh năm 2004 (vắng mặt)
Địa chỉ: bản Đình Hương, xã Tam Đình, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An
3. Chị Vì Thu Hà, sinh năm 2003 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Tiên Phong, xã Mường Báng, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên
4. Anh Dương Thanh Phong, sinh năm 2002 (vắng mặt)
Địa chỉ: tổ dân phố Đại Phú 1, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
5. Anh Chu Văn Phú, sinh năm 2002 (vắng mặt)
Địa chỉ: thôn Ngoẹn, xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
6. Chị Hà Thị Hiển, sinh năm 1977 (có mặt)
Địa chỉ: thôn Chung, xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Hồi 03 giờ 50 phút ngày 30/4/2022, Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Bắc Giang phối hợp với Công an huyện Lạng Giang tiến hành kiểm tra hành chính quán Karaoke Phong Biển, địa chỉ: tổ dân phố Đại Phú 1, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (quán Phong Biển) do bà Ngô Thị Nguyệt, sinh năm 1982, trú tại tổ dân phố Đại Phú 1, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang làm chủ, phát hiện tại phòng số 2, tầng 2 có 07 đối tượng (04 nam và 03 nữ) có biểu hiện sử dụng trái phép chất ma túy nên tiến hành kiểm tra nhanh chất ma tuý bằng phương pháp test nước tiểu, kết quả 04/07 đối tượng dương tính với chất ma tuý (04 đối tượng nam) gồm:
1. Phùng Văn T, sinh năm 1994, trú tại: thôn Sông Cùng, xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (dương tính với ma tuý);
2. Nguyễn VH, sinh năm 1994, trú tại: thôn Dĩnh Lục 2, xã Tân Dĩnh, Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (dương tính với ma tuý);
3. Nguyễn H, sinh năm 2000, trú tại: thôn Sông Cùng, xã Tân Hưng, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang (dương tính với ma tuý);
4. Nguyễn Văn Thanh, sinh năm 1990, trú tại: thôn Ngò, xã Tân Tiến, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang (dương tính với ma tuý);
5. Điêu Thị Tươi, sinh năm 2003, trú tại: Bản Pồng, xã Mường Khiêng,huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La (âm tính với ma tuý);
6. Lương Phương Đa, sinh năm 2004, trú tại: Bản Đình Hương, xã Tam Đình, huyện Tương Dương, tỉnh Nghệ An (âm tính với ma tuý);
7. Vì Thu Hà, sinh năm 2003, trú tại: thôn Tiên Phong, xã Mường Báng, huyện Tủa Chùa, tỉnh Điện Biên (âm tính với ma tuý).
Vật chứng thu giữ trên bàn số 2 bên trái hướng từ cửa vào trong phòng số 2 gồm: 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 18,5 cm, trên mặt đĩa có chất tinh thể màu trắng nghi là ma tuý,được cho vào một túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa nhựa và viền màu xanh, niêm phong trong phong bì ký hiệu “KT1”; 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng viền màu nâu đường kính 15,5 cm, trên đĩa có bám dính chất bột màu trắng nghi là ma túy (không thu được mẫu do còn quá ít); 01túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khoá nhựa và viền màu xanh, bên trong có bám dính chất bột màu trắng nghi là ma tuý được niêm phong trong một phong bì ký hiệu “KT2”; 01 thẻ ngân hàng Vietcombank trên thẻ có tên Phùng Văn T và 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng được quấn thành ống và 03 bật lửa ga màu đỏ (BL: 77-79).
Tài sản thu giữ của các đối tượng gồm: Phùng Văn T 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng, IMEI 356727088732035; Nguyễn H 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu vàng đồng, IMEI 354378061909331; Nguyễn VH 01 điện thoại di động hiệu ViVo màu xanh ngọc, IMEI 860749058067795; Nguyễn Văn Thanh 01 điện thoại di động hiệu Iphone X Max màu đồng, IMEI 357294092357563. Tiến hành kiểm tra đối với 04 chiếc điện thoại thu giữ nêu trên, xác định: Từ lúc 23 giờ 44 phút ngày 29/4/2022 đến 03 giờ ngày 30/4/2022, điện thoại của T, Hải, Thanh không phát sinh cuộc gọi đi, gọi đến, còn điện thoại của Hoàn có phát sinh cuộc gọi đến số 0825.031.234 lưu tên Phú (Hoàn khai số này của bạn tên Chu Văn Phú, sinh năm 2002, trú tại thôn Ngoẹn, xã Tiên Lục, huyện Lạng Giang) và số điện thoại 0388681999 không lưu tên (Hoàn khai số này của người bán ma túy cho Hoàn tên Hưng), tại phần tin nhắn thể hiện tài khoản số 5678928062000 của Hoàn mở tại Ngân hàng MB Quân Đội có nhận số tiền 1.500.000 đồng từ tài khoản 1970041837078271 của Phùng Văn T và số tiền 1.500.000 đồng từ tài khoản của Nguyễn VH, sau đó Hoàn 02 lần chuyển cho Nguyễn X mỗi lần số tiền 1.400.000 đồng (BL: 125-142).
Cùng ngày 30/4/2022, tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Lạng Giang Phùng Văn T, Nguyễn H, Nguyễn VH đầu thú và khai nhận hành vi của bản thân và đồng phạm như sau: Buổi tối ngày 29/4/2022, sau khi Phùng Văn T, Nguyễn VH và Nguyễn Văn Thanh cùng ăn uống ở huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang xong thì rủ nhau đến thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang hát karaoke. Khoảng 22 giờ cùng ngày, cả ba đến quán karaoke Phong Biển, T đi vào gặp anh Dương Thanh Phong, sinh năm 2002 (con bà Nguyệt) đặt phòng hát và bảo anh Phong bố chí cho 03 nhân viên nữ rót bia và hát cùng. Anh Phong đồng ý và đưa nhóm của T lên phòng số 2, trên tầng 2 của quán. Sau khi vào phòng T gọi cho em vợ là Nguyễn H ra hát cùng thì Hoàn đồng ý. Một lúc sau Hoàn đến phòng hát thì thấy Thanh say rượu nằm ngủ ở ghế trong phòng, Hoàn vào uống bia và cùng hát với T và Hải. Sau khi Hoàn đến một lúc thì Hải nói với T và Hoàn làm ít “Ke” (tức là ma tuý dạng ke) về phòng hát sử dụng. T, Hải và Hoàn cùng thống nhất T, Hải mỗi người góp số tiền 1.500.000 đồng để Hoàn đi mua ma tuý đem về phòng cùng nhau sử dụng. Do không có tiền mặt, T dùng tài khoản số 1970041837078271, Hải dùng tài khoản số 3333332166666 của mình mở tại Ngân hàng TMCP Quân Đội mỗi người đều chuyển khoản vào tài khoản số 5678928062000 của Hoàn mở tại Ngân hàng MB Quân Đội số tiền 1.500.000 đồng. Sau đó, Hoàn đi ra ngoài dùng số điện thoại của Hoàn số 0389.229.234 gọi vào số điện thoại 0825.031.234 của bạn mới quen tên Chu Văn Phú để xin số điện thoại của Ngô Bàng Hưng, sinh năm 1999, trú tại thôn Tê, xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang (trước đó Hoàn nghe bạn bè ngoài xã hội nói Hưng có ma túy bán) để mua ma túy. Sau khi có số điện thoại của Hưng, Hoàn dùng số điện thoại của mình số 0389.229.234 gọi cho Hưng vào số 0388691999 để hỏi mua 02 chỉ ma túy “Ke” (Ketamine), Hưng đồng ý bán với giá 2.800.000 đồng (1.400.000 đồng/chỉ) và thỏa thuận Hưng cho người đem đến cho Hoàn một chỉ trước, chỉ còn lại đem đến sau. Sau đó Hưng gọi điện thoại cho Nguyễn X, sinh ngày 30/3/2004, trú tại thôn Chung, xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang ra chỗ ở của Hưng thuê ở khu HDB, thuộc tổ dân phố Toàn Mỹ, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang đem ma túy đi bán cho Hoàn. Do trước đó, Hưng và Xuân đã thỏa thuận cùng nhau bán ma túy và chia tiền nên Xuân lấy xe mô tô BKS 98M1-031.57 của mẹ đẻ là bà Hà Thị Hiển, sinh năm 1977 đi ra nhà trọ của Hưng. Tại đây, Hưng đưa ma túy và số điện thoại của Hoàn để Xuân đem đến quán Phong Biển bán cho Hoàn. Xuân đem ma tuý đến quán karaoke Phong Biển rồi dùng số điện thoại 0981919575 gọi Hoàn xuống nhận ma tuý và đưa số tài khoản 188888699999 của mình mở tại Ngân hàng TMCP Quân Đội cho Hoàn thì Hoàn chuyển số tiền 1.400.000 đồng cho Xuân. Sau khi giao ma túy xong, Xuân đi về nhà trọ của Hưng ăn cơm rồi chuyển số tiền Hoàn vừa trả vào số tài khoản 9828628688888 của Hưng và đi ngủ. Còn Hoàn đem ma túy lên phòng và lấy một chiếc đĩa sứ ở phòng bên cạnh đem vào phòng hát số 2. Tại đây, Hoàn để đĩa lên bàn và đổ ma tuý “Ke” mới mua được ra đĩa, dùng thẻ ngân hàng Vietcombank mượn của T chia ma tuý ra thành các đường rồi Hoàn tiếp tục dùng 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng quấn thành ống hút để lên bàn và bảo mọi người sử dụng. Sau đó, lần lượt Hoàn, T, Hải, Thanh tự lấy bật lửa hơ lên đĩa sử dụng, riêng 03 nhân viên nữ không sử dụng ma tuý. Đến khoảng 03 giờ ngày 30/4/2022, Hoàn gọi điện cho Hưng bảo mang số ma tuý còn lại đến thì Hưng gọi Xuân dậy và đưa ma túy còn lại cho Xuân đem đến cho Hoàn. Sau khi giao ma túy và nhận số tiền 1.400.000 đồng do Hoàn chuyển khoản còn lại Xuân đi về nhà trọ của Hưng rồi chuyển số tiền Hoàn vừa trả cho Hưng rồi đi ngủ, còn Hoàn mang ma tuý lên phòng hát rồi chế biến cho mọi người cùng sử dụng. Đến khoảng 04 giờ 10 phút ngày 30/4/2022 thì bị tổ công tác kiểm tra hành chính phát hiện thu giữ toàn bộ vật chứng như nêu ở trên.(BL: 99-103, 288-293, 304-308, 340-347).
Tại Kết luận giám định số 751/KL-KTHS, ngày 06/5/2022, của Phòng Kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Giang, kết luận (BL: 109-110):
“5.1. Trong 01 phong bì ký hiệu “KT1” được niêm phong gửi giám định: Chất tinh thể màu trắng đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh là ma túy, có khối lượng 0,089 gam, loại Ketamine.
5.2. Trong 01 phong bì ký hiệu “KT2” được niêm phong gửi giám định: Chất bột màu trắng bám dính trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu xanh được đựng trong 01 túi nilon màu trắng một đầu có rãnh khóa bằng nhựa, viền màu đỏ là ma túy loại Ketamine, không xác định được khối lượng.
Ngày 01/8/2022, Cơ quan điều tra ra lệnh thu giữ thư tín, điện tín để xác định thông tin cá nhân, nhật ký cuộc gọi, tin nhắn của số thuê bao di động số 0388.681.999 mà Hoàn đã liên lạc mua ma túy xác định chủ thuê bao là anh Nguyễn Thanh Hải, sinh năm 1990, trú tại tổ dân phố Phi Mô, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang. Nguyễn Thanh Hải trình bày sim điện thoại này đã cho Ngô Bàng Hưng, sinh năm 1999, trú tại thôn Tê, xã Tân Thanh, huyện Lạng Giang (chỗ ở khu HDB, thuộc tổ dân phố Toàn Mỹ, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang) thuê để làm phương tiện liên lạc, Hải hoàn toàn không biết và không liên quan đến việc mua bán ma túy của Hưng (BL: 253-254).
Ngày 09/5/2022, 31/5/2022, 06/7/2022 và ngày 27/7/2022 Cơ quan điều tra đề nghị các Ngân hàng TMCP Quân Đội và Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam cung cấp thông tin chủ tài khoản và sao kê lịch sử giao dịch đối với số tài khoản của Nguyễn H, Nguyễn X, Phùng Văn T, Ngô Bàng Hưng, Nguyễn VH. Trong các ngày, từ ngày 26/5/2022 đến ngày 07/10/2022 các ngân hàng được Cơ quan điều tra đề nghị cung cấp thông tin đã cung cấp cho Cơ quan điều tra thông tin tài khoản và lịch sử sao kê các giao dịch chuyển tiền và nhận tiền với số tiền và thời gian chuyển hoàn toàn phù hợp với lời khai Nguyễn H, Nguyễn X, Phùng Văn T, Nguyễn VH như nêu ở trên (BL: 146-172).
Ngày 23/7/2022, Nguyễn X đến Công an huyện Lạng Giang xin đầu thú và giao nộp: 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng IMEI 357210365421209. Tại Cơ quan điều tra, Xuân khai nhận toàn bộ hành vi như nêu ở trên và khai sau khi biết tin Hoàn bị lực lượng công an bắt giữ, do sợ bị bắt nên trước khi ra đầu thú Xuân đã trốn ở nhiều nơi (BL: 105-106, 140-144).
Trong các ngày 06/8/2022, 23/8/2022, ngày 06/9/2022 và ngày 17/11/2022, Cơ quan điều tra tiến hành cho bà Nguyễn Thị Hiền, sinh năm 1964 (mẹ của Hưng), anh Nguyễn Thanh Hải (người cho Hưng thuê sim), Nguyễn X và Nguyễn H nhận dạng đối với Hưng thì tất cả đều nhận dạng được Hưng và xác định Hưng chính là người Hoàn gọi điện hỏi mua ma tuý, Hưng đưa ma tuý cho Xuân mang đến bán cho Hoàn (BL: 212-222). Ngày 17/11/2022, Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can đối với Ngô Bàng Hưng về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, do Hưng không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã và tách hành vi của Hưng thành vụ án riêng, khi nào bắt được Hưng thì xử lý sau.
Tại phiên tòa, các bị cáo Nguyễn X, Phùng Văn T, Nguyễn H và Nguyễn VH đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của bản thân như cáo trạng truy tố. Các bị cáo nhận thức hành vi của mình đã thực hiện là sai, vi phạm pháp luật và hứa cải tạo tốt, không tái phạm.
Bản cáo trạng số 118/KSĐT ngày 05 tháng 12 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang đã truy tố bị cáo Nguyễn X về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; truy tố các bị cáo Phùng Văn T, Nguyễn H và Nguyễn VH về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đề nghị HĐXX:
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn X. Xử phạt bị cáo Xuân từ 02 năm 02 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Phùng Văn T; Nguyễn H và Nguyễn VH:
Xử phạt bị cáo T từ 02 năm đến 02 năm 03 tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Xử phạt bị cáo Hoàn từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Xử phạt bị cáo Hải từ 02 năm 03 tháng đến 02 năm 06 tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Ngoài ra còn đề nghị xem xét về vật chứng, án phí, quyền kháng cáo của các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lạng Giang, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang¸ điều tra viên, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng các quy định về thẩm quyền, trình tự tự thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong quá trình giải quyết vụ án là hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Lời khai của các bị cáo Nguyễn X, Phùng Văn T, Nguyễn H và Nguyễn VH tại phiên tòa đã thừa nhận các bị cáo đã thực hiện hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, cụ thể: Khoảng 23 giờ 44 phút ngày 29/4/2022, tại quán Karaoke Phong Biển, địa chỉ: tổ dân phố Đại Phú 1, thị trấn Vôi, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang, Phùng Văn T, Nguyễn VH có hành vi mỗi người góp và chuyển cho Nguyễn H số tiền 1.500.000 đồng để mua ma tuý cùng sử dụng. Nguyễn H có hành vi liên hệ và mua ma tuý của Ngô Bàng Hưng để T, Hải, Hoàn và Nguyễn Văn Thanh cùng sử dụng.
Nguyễn X có hành vi mang 02 chỉ ma tuý, loại Ketamine của Ngô Bàng Hưng đem đến quán Karaoke Phong Biển bán cho Nguyễn H với giá 2.800.000 đồng.
Khoảng 3 giờ 50 phút ngày 30/4/2022, Phòng Cảnh sát quản lý hành chính về trật tự xã hội Công an tỉnh Bắc Giang phối hợp với Công an huyện Lạng Giang tiến hành kiểm tra hành chính phát hiện và xác định T, Hải, Hoàn và Thanh đều dương tính với chất ma tuý nên đã thu giữ được 0,089 gam ma tuý, loại Ketamine và các vật chứng có liên quan.
Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa hoàn toàn phù hợp với biên bản kiểm tra hành chính; biên bản khám xét; biên bản xác định hiện trường; phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra cũng như vật chứng đã thu hồi; phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và người làm chứng; phù hợp với không gian, thời gian, địa điểm xảy ra hành vi phạm tội. Do đó có đầy đủ cơ sở để khẳng định Nguyễn X phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 251 Bộ luật hình sự; các bị cáo Phùng Văn T, Nguyễn H và Nguyễn VH phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự. Bản cáo trạng Viện Kiểm sát nhân dân huyện Lạng Giang truy tố các bị cáo theo tội danh và điều luật như trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
. Nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo Phùng Văn T, Nguyễn H và Nguyễn VH đều có nhân thân tốt; không có tiền án, tiền sự. Bị cáo Nguyễn X có nhân thân xấu: Ngày 10/8/2021 bị Công an huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Xâm hại sức khoẻ người khác” phạt số tiền 1.250.000 đồng; Xuân nộp phạt ngày 05/12/2022.
Về Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị cáo đều khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải; sau khi phạm tội đã ra đầu thú. Bị cáo T có thời gian tham gia quân ngũ; có ông bà nội là người có công với cách mạng được tặng thưởng huân chương kháng chiến; bị cáo Xuân có ông nội được tặng thưởng Huân chương kháng chiến; bị cáo Hải có ông ngoại được tặng thưởng huân chương kháng chiến. Vì vậy, các bị cáo được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội và vai trò của các bị cáo thì thấy:
- Xét mức độ hành vi phạm tội và vai trò của từng bị cáo trong vụ án HĐXX nhận thấy:
Đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” do Nguyễn X một mình thực hiện tội phạm nên không có vai trò đồng phạm;
Đối với tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”: Bị cáo Hải là người khởi xướng, trực tiếp chuyển số tiền 1.500.000đ cho Hoàn mua ma túy về sử dụng. Bị cáo Hoàn là người trực tiếp liên lạc, mua ma túy từ Nguyễn X mang vào phòng hát; trực tiếp “sào ke”, chế biến chất ma túy cho mọi người sử dụng nên các bị cáo Hải, Hoàn có vai trò cao hơn bị cáo T. Đối với bị cáo T là người tiếp nhận ý chí của Hải; chuyển số tiền 1.500.000đ cho Hoàn để mua ma túy nên có vai trò sau cùng và chịu mức hình phạt thấp hơn các bị cáo khác.
- Đánh giá về hành vi phạm tội của các bị cáo, HĐXX xét thấy:
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, có đủ khả năng nhận thức và làm chủ hành vi của mình, thực hiện tội phạm với lỗi cố ý. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền quản lý các chất ma tuý của Nhà nước, xâm phạm đến Hiến pháp nước Cộng hòa XHCN Việt Nam. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của các bị cáo gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an của địa phương và sức khỏe của người khác; gây ảnh hưởng không tốt đến trật tự gia đình và xã hội; là nguyên nhân làm phát sinh một số tội phạm nguy hiểm khác; là con đường lây lan của một số căn bệnh xã hội. Vì vậy cần phải được xử lý nghiêm khắc, tương xứng với tính chất và mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo để nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội phạm này. Cần thiết phải bắt các bị cáo phải cách ly khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân sống có ích cho xã hội.
Khi lượng hình, HĐXX có xem xét tính chất, mức độ của hành vi, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để tuyên mức hình phạt phù hợp với từng bị cáo.
. Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều không có công ăn việc làm, không có tài sản, thu nhập nên miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền.
. Đối với xe mô tô BKS 98M1-031.57, sau khi đầu thú Xuân khai đã sử dụng xe này làm phương tiện để đi bán ma túy, sau khi bán ma túy xong Xuân đã trả lại xe này cho mẹ đẻ là bà Hà Thị Hiển. Quá trình điều tra xác định bà Hiển không biết việc Xuân sử dụng xe mô tô làm phương tiện đi bán ma túy nên Cơ quan không tạm giữ đối với xe mô tô trên là đúng quy định.
Đối với anh Nguyễn Thanh Hải cho Ngô Bàng Hưng thuê sim điện thoại 0388.681.999 nhưng anh Hải không biết việc Hưng thuê sim để sử dụng vào việc mua bán ma túy; anh Chu Văn Phú cho bị cáo Nguyễn H số điện thoại 0388.681.999 của Hưng nhưng anh Phú không biết mục đích của Hoàn xin số Hưng là để mua ma tuý nên anh Hải và anh Phú không vi phạm pháp luật nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Đối với anh Dương Thanh Phong được mẹ đẻ là bà Ngô Thị Nguyệt nhờ trông quán Karaoke nhưng anh Phong không biết các bị cáo và các đối tượng sử dụng ma túy tại phòng hát nên không xem xét xử lý.
Đối với bà Ngô Thị Nguyệt là chủ quán Karaoke Phong Biển không biết việc các đối tượng sử dụng trái phép chất ma tuý tại quán. Ngày 21/6/2022, Chủ tịch UBND huyện Lạng Giang đã ra quyết định xử phạt hành chính đối với bà Nguyệt về hành vi người đứng đầu cơ sở kinh doanh để xảy ra hoạt động sử dụng trái phép chất ma tuý trong khu vực do mình quản lý quy định tại khoản 4 Điều 23 Nghị định 144 ngày 31/12/2021 của Chính phủ, mức phạt 15.000.000 đồng.
Đối với hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý của Phùng Văn T, Nguyễn H, Nguyễn VH, Nguyễn Văn Thanh: Ngày 07/6/2022, Công an huyện Lạng Giang đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính, mức phạt 1.500.000 đồng.
Đối với Ngô Bàng Hưng: Ngày 17/11/2022, Cơ quan điều tra đã ra quyết định khởi tố bị can đối với Ngô Bàng Hưng về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, do Hưng không có mặt tại địa phương nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định truy nã và tách hành vi của Hưng thành vụ án riêng, khi nào bắt được Hưng thì xử lý sau.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 phong bì ký hiệu “KT1” và 01 phong bì ký hiệu “KT2” hoàn lại sau giám định là vật thuộc loại Nhà nước cấm tàng trữ, lưu hành nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 18,5 cm và 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng viền màu nâu đường kính 15,5 cm; 01 thẻ ngân hàng Vietcombank trên thẻ có tên Phùng Văn T và 03 bật lửa ga màu đỏ là các dụng cụ sử dụng ma túy và không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 tờ tiền mệnh giá 10.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng của T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu vàng đồng của Hoàn; 01 điện thoại di động hiệu ViVo màu xanh ngọc của Hải; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng của Xuân là tài sản các bị cáo dùng để thực hiện hành vi phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ nhà nước.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone X Max màu màu đồng của Nguyễn Văn Thanh không liên quan đến hành vi phạm tội nên trả lại cho anh Nguyễn Văn Thanh.
- Đối với số tiền 200.000đ của T, Hải chuyển cho Hoàn với mục đích mua ma túy nhưng còn thừa nên cần truy thu, buộc Hoàn nộp lại để sung quỹ nhà nước.
. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Căn cứ Điều 47; 48 Bộ luật hình sự; Các Điều 106; 135, 136, 331, 332, 333, 336, 337 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
Căn cứ Điều 21, Điều 23 Nghị quyết 326 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, nộp tiền án phí, lệ phí Tòa án.
Áp dụng khoản 1 Điều 251; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Nguyễn X. Xử phạt bị cáo Nguyễn X 02 (hai) năm 02 (hai) tháng tù về tội "Mua bán trái phép chất ma túy". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/7/2022. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Nguyễn H; Nguyễn VH và Phùng Văn T.
Xử phạt bị cáo Nguyễn H 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/4/2022. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Xử phạt bị cáo Nguyễn VH 02 (hai) năm 04 (bốn) tháng tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/4/2022. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
Xử phạt bị cáo Phùng Văn T 02 (hai) năm tù về tội "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy". Thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 30/4/2022. Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền cho bị cáo.
[2]. Về vật chứng:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 phong bì ký hiệu “KT1” và 01 phong bì ký hiệu “KT2” hoàn lại sau giám định; 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng đường kính 18,5 cm và 01 đĩa sứ hình tròn màu trắng viền màu nâu đường kính 15,5 cm; 01 thẻ ngân hàng Vietcombank trên thẻ có tên Phùng Văn T và 03 bật lửa ga màu đỏ;
- Tịch thu sung quỹ nhà nước số tiền 10.000 đồng các bị cáo dùng để sử dụng ma túy; 01 điện thoại di động hiệu Iphone X màu trắng của T; 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus màu vàng đồng của Hoàn; 01 điện thoại di động hiệu ViVo màu xanh ngọc của Hải; 01 điện thoại di động hiệu Iphone màu vàng của Xuân;
- Truy thu số tiền 200.000đ còn thừa khi mua ma túy của Hoàn để sung quỹ nhà nước;
- Trả lại cho anh Nguyễn Văn Thanh 01 điện thoại di động hiệu Iphone X Max màu màu đồng;
(Đặc điểm vật chứng của vụ án theo như biên bản giao nhận vật chứng giữa Cơ quan điều tra và Chi cục thi hành án dân sự huyện Lạng Giang).
[3]. Về án phí: Các bị cáo Nguyễn X, Nguyễn H, Nguyễn VH và Phùng Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[4]. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
Án xử công khai sơ thẩm./.
| Nơi nhận: - TAND Tỉnh Bắc Giang; - VKSND huyện Lạng Giang; - THADS huyện Lạng Giang; - Bị cáo; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Văn Sang |