vanban.org

Bản án 123/2017/HSST — Hình sự

TAND Q. Thanh Khê, TP Đà Nẵng Tuyên án 28/09/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 60 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thị T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 28/9/2016. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 138 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
Q. THANH KHÊ - TP. ĐÀ NẴNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 123/2017/HSST
Ngày: 28/9/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, TP ĐÀ NẴNG

Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:

Bà Lê Bảo Huyền Trân.

- Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Lê Thị Nhớ

Ông Đinh Viết Hồng Lễ

Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Anh - Cán bộ Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Bách - Kiểm sát viên.

Trong ngày 28/9/2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 125/2017/TLST - HS ngày 18/08/2017 đối với bị cáo:

NGUYỄN THỊ T - sinh năm 1974 tại Đà Nẵng;

Nơi ĐKHKTT: Tổ 30, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng;

Chỗ ở hi n nay: K325/54/150 đường H, phường V, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng;

Nghề nghi p: Lao động phổ thông.

Con ông Nguyễn Văn L (đ chết) và bà Đ ng Thị (đ chết);

Có chồng là Nguyễn H (sinh năm 1970), có 02 con, con lớn sinh năm 2003, con nhỏ sinh năm 2009.

- Tiền án, tiền sự: Chưa.

Bị cáo tại ngoại, có m t tại phiên tòa.

* Người bị hại: Anh Nguyễn Văn L - sinh năm: 1975 và chị Phạm Thị B - sinh năm: 1977; Trú tại: Số 18 đường H, tổ 143, phường T, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng (vắng m t).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Bị cáo Nguyễn Thị T bị Vi n Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng truy tố về hành vi phạm tội như sau:

Nguyễn Thị T là người giúp vi c cho gia đình chị Phạm Thị B và anh Nguyễn Văn L. Ngày 28/5/2017, chị B đang nằm chờ sinh tại B nh vi n Phụ sản - Nhi Đà Nẵng có nhắn tin nhờ T lên phòng ngủ của vợ chồng chị để lấy một số quần áo, đồ đạc để trong tủ mang lên b nh vi n. Trong khi soạn đồ đạc thì T phát hi n một chiếc ví tiền để trong ngăn tủ nhựa đựng quần áo, nghi trong ví có tiền nên T đem chiếc ví lên sân thượng và mở thấy bên trong có 15.000.000đ, T đ lấy trộm số tiền trên, còn chiếc ví T bỏ vào thùng rác bên đường trước nhà nghỉ. Đến ngày 29/5/2017, T đi về nhà và tắt đi n thoại di động, số tiền có được T dùng để trả nợ và tiêu xài cá nhân hết 5.000.000đ. Ngày 30/5/2017, anh L về nhà không thấy T, kiểm tra tài sản anh L phát hi n số tiền 15.000.000đ đ bị mất. Sau đó anh L đ trình báo sự vi c lên Cơ quan công an phường T, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng. Tại cơ quan điều tra T đ khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đồng thời tự nguy n giao nộp số tiền còn lại 10.000.000đ.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê đ trả lại số tiền 10.000.000đ cho anh Nguyễn Văn L. Ngoài ra trong quá trình điều tra, T đ khắc phục số tiền 5.000.000đ cho vợ chồng anh L.

Về trách nhi m dân sự: Vợ chồng anh L và chị B đ nhận lại tài sản bị trộm cắp, không yêu cầu bồi thường gì thêm đồng thời có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho Nguyễn Thị T.

* Tại bản Cáo trạng số 124/QĐ - KSĐT ngày 13/9/2017, Vi n kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đ truy tố Nguyễn Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 138 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đ truy tố, đề nghị HĐ căn cứ vào tính chất vụ án, nhân thân, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đ gây ra và đề nghị HĐ áp dụng: Khoản 1 Điều 138, điểm b, h, p khoản 1, 2 Điều 46 và Điều 60 Bộ luật hình sự để xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T mức án từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo vµ Ên ®Þnh thêi gian thö th¸ch ®èi víi bÞ c¸o.

Về trách nhi m dân sự và xử lý vật chứng: Đ giải quyết xong ở giai đoạn điều tra nên Vi n kiểm sát không đề cập đến.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hi n đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến ho c khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra quận Thanh Khê, Điều tra viên, Vi n kiểm sát quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.

Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Thị T đ khai nhận hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài li u mà cơ quan điều tra đ thu thập được có trong hồ sơ vụ án. HĐ có đủ cơ sở để kết luận vào chiều ngày 28/5/2017, tại nhà nghỉ ở số 18 đường H, phường T, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng, Nguyễn Thị T đ có hành vi lén lút trộm cắp của anh Nguyễn Văn L và chị Phạm Thị B số tiền 15.000.000đ. Hành vi phạm tội của bị cáo đ phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự như cáo trạng của Vi n Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đ truy tố là có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Bị cáo Nguyễn Thị T có sức khỏe và khả năng lao động bình thường, đ lập gia đình có 02 con nhỏ, lẽ ra bị cáo phải làm ¨n lương thi n để kiếm tiền bằng chính sức lao động của mình và làm gương cho con cái, nhưng thích hưởng thụ nên bị cáo đ thực hi n hành vi trộm cắp. ét về động cơ mục đích phạm tội của bị cáo, HĐ thấy bị cáo phạm tội chỉ mang tích chất tức thời, lòng tham cơ hội, bị cáo không có ý định và sự chuẩn bị từ trước, bị cáo lợi dụng sự sơ hở của chị B và anh L trong vi c quản lý tài sản nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. Hành vi của bị cáo không những đ trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an x hội tại địa phương nên cần được xử lý nghiêm mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, xét thấy trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tài sản đ thu hồi trả cho bị hại, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, HĐ áp dụng điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Với tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo cùng với hậu quả xảy ra đã được khắc phục, bị cáo có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng, bị cáo là lao động chính và đang nuôi 02 con nhỏ. Do vậy, HĐ thấy chưa cần thiết phải cách ly bị cáo ra ngoài đời sống xã hội mà áp dụng thêm điều 60 Bộ luật hình sự, tạo cho bị cáo một cơ hội được tiếp tục học tập cải tạo, sửa chữa tại địa phương cũng có tác dụng răn đe và phòng ngừa chung.

Từ những phân tích trên, xét lời luận tội của Vi n Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê về tội danh và áp dụng các điều luật cũng như đề nghị mức hình phạt là có căn cứ nên HĐ chấp nhận.

* Về trách nhi m dân sự: Ng êi bÞ h¹i đ nhận lại tài sản bị trộm cắp không có yêu cầu gì thêm nên HĐ không đề cập.

* Xử lý vật chứng: Đ giải quyết xong nên HĐ không đề cập.

Án phí HSST: BÞ c¸o Nguyễn Thị T ph¶i chÞu theo quy ®Þnh cña ph¸p luËt.

V× c¸c lÏ trªn;

QUYẾT ĐỊNH

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Áp dụng: Khoản 1 Điều 138; điểm b, h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 và Điều 60 Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Nguyễn Thị T 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm, ngày 28/9/2016.

Tuyªn giao bÞ c¸o Nguyễn Thị T vÒ UBND phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng để gi¸m s¸t, gi¸o dôc trong thêi gian thö th¸ch. Trong trường hợp bÞ c¸o Nguyễn Thị T thay đổi nơi cư trú thì thực hi n theo qui định tại khoản 1 Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự.

2. Án phí HSST: Bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000đ.

Án xử công khai sơ thẩm, báo cho bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại vắng m t tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguy n thi hành án ho c bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hi u thi hành án được thực hi n theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ