- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYỄN THỊ Q - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về hình phạt: Áp dụng iểm g khoản 2 Điều 190; iểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 65 của BLHS năm 2015, sửa ổi bổ sung năm 2017.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 54 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 122a/2020/HS-PT Ngày 17-8-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Quốc Sơn
Các Thẩm phán: Ông Phạm Văn Phấn
Bà Nguyễn Thị Huyền
Thư ký phiên toà: Ông Lê Viết Ngọc – Thẩm tra viên, Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Bùi Anh Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 97/2020/TLPT-HS ngày 02/6/2020 ối v i bị cáo Nguyễn Thị Quyền do có kháng cáo của bị cáo ối v i Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2020/HSST ngày 24/4/2020 của Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An
- B cáo có kháng cáo:
Nguyễn Thị Q (Tên gọi khác: không); Sinh ngày 15/01/1969 tại xã Nam Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; Nơi ĐKHKTT: Xóm Tây Hồ, xã Nam Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An; Nghề nghiệp: Làm ruộng. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình ộ học vấn: 7/10; Con ông: Nguyễn Đình Q (chết); Con bà: Thái Thị Q, sinh năm 1938; Anh chị em ruột trong gia ình có 07 người, bị cáo là con thứ ba trong gia ình; Chồng: Nguyễn Văn Toàn, sinh năm 1970; Có 04 con, con l n nhất sinh năm 1990, con nhỏ nhất sinh năm 2006; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 19/12/2019 ến ngày 25/12/2019 ược tại ngoại ến nay. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án ược tóm tắt như sau: Vào khoảng 12 giờ 00 phút, ngày 19/12/2019, tổ công tác Công an huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An làm nhiệm vụ tại khu vực xóm Tây Hồ, xã Nam Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An thì phát hiện ối tượng Nguyễn Thọ C, sinh ngày 29/01/2004, trú tại xóm Tây Hồ, xã Nam Thành, huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An ang có hành vi tàng trữ 01 bao tải màu trắng, bên trong có chứa 10 khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối có kích thư c (14 x 14 x 10) cm, bên ngoài mỗi khối ược bọc bằng giấy có in hình pháo hoa nổ cháy sáng và in hình chữ nư c ngoài, bên trong mỗi khối có 36 thỏi hình trụ tròn cao 10cm, ường kính 02cm (nghi là pháo), ối tượng ã ược ưa về trụ sở Công an huyện Yên Thành ể làm việc. Nguyễn Thọ C khai nhận toàn bộ số pháo ã thu giữ là do Nguyễn Thọ Cầu mua của bà Nguyễn Thị Q cùng xóm, xác ịnh10 bánh pháo thu giữ của Nguyễn Thọ C có khối lượng là 13.5kg (Mười ba phẩy năm kilôgam).Trên cơ sở lời khai của Nguyễn Thọ C, Cơ quan iều tra ã ra lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp ối v i Nguyễn Thị Q và khám xét khẩn cấp chỗ ở của Nguyễn Thị Q. Quá trình khám xét, Cơ quan iều tra ã thu giữ trên gác xép nhà ở của Nguyễn Thị Quyền 01 thùng cát tông màu vàng, bên trong có chứa 30 khối hình hộp chữ nhật, mỗi khối có kích thư c (14 x 14 x 10) cm, bên ngoài mỗi khối ược bọc bằng giấy có in hình pháo hoa nổ cháy sáng, có khối lượng 41.5kg (Bốn mươi mốt phẩy năm kilôgam; 01 bì xác rắn màu ỏ, bên trong có chứa 14 bánh hình hộp chữ nhật, mỗi khối có kích thư c (14 x 14 x 10) cm, bên ngoài mỗi khối ược ược bọc bằng giấy có in hình pháo hoa nổ cháy sáng và in hình chữ nư c ngoài, có khối lượng 19.5kg (Mười chín phẩy năm kilôgam); 01 bì xác rắn màu trắng, bên trong có chứa 51 túi ni lông màu trắng, bên trong mỗi túi ni lông có chứa 100 khối hình cầu nhiều màu sắc, ường kính mỗi khối là 02 cm, trên mỗi khối có gắn một oạn dây, có khối lượng 10kg (Mười kilôgam) tất cả ều nghi là pháo.
Tại Cơ quan iều tra, Nguyễn Thị Q khai: Vào khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 25/11/2019, lúc Nguyễn Thị Q ang bán hàng tại quán tạp hóa của gia ình thì có 01 người phụ nữ gi i thiệu là người ở huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An có chở theo hàng hóa phía sau xe mô tô vào quán gặp Nguyễn Thị Q ể nhập hàng và hỏi Nguyễn Thị Q có lấy pháo về ể bán không thì Nguyễn Thị Q ồng ý mua, ồng thời xin số iện thoại của người bán pháo từ người phụ nữ này. Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 26/11/2019, Nguyễn Thọ C i học về ngang qua nhà thì Nguyễn Thị Q hỏi: “Mi có bán pháo không tau lấy về cho mà bán?”. Nguyễn Thọ C trả lời “có, bà cứ lấy về i, mấy cháu cũng bán hết, cháu có nhiều mối lắm”. Nguyễn Thị Q nói “ừ, rứa ể lấy về”. Khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 30/11/2019, Nguyễn Thị Quyền gọi iện thoại vào số thuê bao mà người phụ nữ nhập hàng ã cho trư c ây, thì có một người àn ông nghe máy.Nguyễn Thị Q hỏi mua pháo v i tổng số tiền 60.000.000 (sáu mươi triệu ồng) thì người này ồng ý, ồng thời báo giá mỗi bánh pháo loại 36 quả là 800.000 (Tám trăm nghìn ồng), mỗi bịch pháo bi là 300.000 (ba trăm nghìn ồng) và hẹn Nguyễn Thị Q mang tiền xuống ngã ba cầu Bùng, thuộc xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An ể lấy pháo. Thống nhất xong, Nguyễn Thị Quyền iều khiển xe mô tô xuống khu vực cầu B, thì gặp một người àn ông ang ứng chờ sẵn. Nguyễn Thị Quyền ưa cho người này 60.000.000 (Sáu mươi triệu ồng), còn người này bán cho Nguyễn Thị Q 51 bịch pháo bi ược ựng trong một bì xác rắn màu trắng, 30 bánh pháo loại 36 quả ược ựng trong một thùng cát tông màu vàng và 24 bánh pháo loại 36 quả ược ựng trong một bì xác rắn màu ỏ. Mua pháo xong, Nguyễn Thị Q ưa pháo về nhà cất giấu trên gác xép v i mục ích ể bán kiếm lời. Khoảng 10 giờ 00 phút, ngày 19/12/2019, Nguyễn Thọ Cầu ến nhà hỏi mua 10 bánh pháo loại 36 thì Nguyễn Thị Q ồng ý bán v i giá 850.000 ồng mỗi bánh nhưng chưa thanh toán tiền cho Nguyễn Thị Q.
Cơ quan iều tra ã tiến hành trưng cầu giám ịnh số tang vật thu giữ của Nguyễn Thọ Cầu và Nguyễn Thị Q. Ngày 24/12/2019, Bản kết luận số: 36/KL - PC09(Đ2) của phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Nghệ An kết luận:
“- Mẫu vật ký hiệu M1 thu giữ của Nguyễn Thọ C gửi t i giám ịnh là pháo có ầy ủ ặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc ốt có gây tiếng nổ).
- Hai mẫu vật ký hiệu M2 và M3 thu giữ của Nguyễn Thị Q gửi t i giám ịnh ều là pháo có ầy ủ ặc tính của pháo nổ (có chứa thuốc pháo và khi bị kích thích hoặc ốt có gây tiếng nổ).
- Mẫu vật lý hiệu M4 thu giữ của Nguyễn Thị Q gửi t i giám ịnh là pháo nổ.”
Như vậy, tổng khối lượng pháo mà Nguyễn Thị Q phải chịu trách nhiệm hình sự là 84.5kg (tám mươi tư phẩy năm kilôgam).
-Vật chứng thu giữ: Tổng khối lượng pháo là 84.5kg (tám mươi tư phẩy năm kilôgam), Cơ quan iều tra ã lấy mẫu gửi giám ịnh 5.6kg (năm phẩy sáu kilôgam). Số pháo còn lại là 78.9kg (bảy mươi tám phẩy chín kilôgam), hiện ang ược bảo quản tại kho vật chứng Công an huyện Yên Thành.
V i nội dung trên, Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2020/HSST ngày 24/4/2020 của Toà án nhân dân huyện Yên Thành, Nghệ An ã quyết ịnh:
Căn cứ vào iểm g khoản 2 Điều 190; iểm s, t khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 của BLHS năm 2015, sửa ổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Q 03 (Ba) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo i thi hành án, nhưng ược trừ thời gian tạm giữ từ ngày 19/12/2019 ến ngày 25/12/2019.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn tuyên xử lý vật chứng, tuyên án phí và quyền kháng cáo theo luật ịnh.
Ngày 04/5/2020, bị cáo Nguyễn Thị Q nộp ơn kháng cáo tại Toà án cùng v i nội dung: Xin Tòa án cấp phúc thẩm cho các bị cáo ược hưởng án treo.
Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo, ề nghị Hội ồng xét xử xem xét.
Đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố tại phiên tòa ề nghị Hội ồng xét xử phúc thẩm: Căn cứ iểm b khoản 1 iều 355, iểm e khoản 1Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
Chấp nhận kháng cáo của bị cáo. Sửa bản án sơ thẩm, giữ nguyên hình phạt nhưng cho bị cáo Nguyễn Thị Q hưởng án treo. Về hình phạt: Áp dụng iểm g khoản 2 Điều 190; iểm s, t khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 65 của BLHS năm 2015, sửa ổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Q 03 (Ba) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Nhưng cho hưởng án treo thử thách 60 tháng.
Bị cáo không có tranh luận v i quan iểm của ại diện Viện kiểm sát, chỉ ề nghị HĐXX chấp nhận kháng cáo của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án ã ược tranh tụng tại phiên tòa, Hội ồng xét xử nhận ịnh như sau:
Về tố tụng: Bị cáo nộp ơn kháng cáo trong hạn luật ịnh, nội dung ơn kháng cáo úng quy ịnh của pháp luật nên kháng cáo hợp lệ. Tòa án cấp phúc thẩm tiến hành xét xử vụ án.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Thị Q thấy rằng:
Vào ngày 19/12/2019, bị cáo Nguyễn Thị Q ã mua của một một àn ông không rõ tên tuổi, ịa chỉ tại ngã tư Cầu Bùng thuộc xã Diễn Kỷ, huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An 84,5 kg pháo nhằm mục ích ể bán kiếm lời. Tại phiên toà phúc thẩm bị cáo Nguyễn Thị Q thừa nhận hành vi phạm tội của mình và công nhận Toà án cấp sơ thẩm xét xử về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy ịnh tại iểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, úng pháp luật.
Xét ơn kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo Nguyễn Thị Q, Hội ồng xét xử nhận ịnh: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, ã xâm phạm ến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nư c, xâm phạm ến chế ộ quản lý ối v i các loại hàng hoá mà Nhà nư c cấm lưu thông. Mặc dù, pháp luật ã nghiêm cấm nhưng thời gian qua tình hình buôn bán các loại pháo xảy ra khá phổ biến trên ịa bàn cũng như phạm vi cả nư c. Tòa án cấp sơ thẩm ã xem xét ầy ủ hành vi phạm tội, tính chất, mức ộ, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Q 03 năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm” theo quy ịnh tại iểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật hình sự năm 2015 là có cơ sở. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo xuất trình thêm ược tình tiết giảm nhẹ có bố, mẹ ược nhà nư c tặng thưởng huân chương kháng chiến hạng nhất. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy ịnh tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xét thấy rằng v i tính chất của hành vi phạm tội thì việc cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian như bản án sơ thẩm ã tuyên là có cơ sở nhằm mục ích răn e và ngăn ngừa các hành vi tương tự. Tuy nhiên, xét thấy rằng bị cáo phạm tội lần ầu, khai báo thành khẩn ăn năn hối cải, nhất thời phạm tội do iều kiện hoàn cảnh gia ình khó khăn không vì mục ích ầu cơ vụ lợi làm giàu. tang vật (pháo nổ) ược phát hiện kịp thời chưa ược bán ra thị trường nên không gây ảnh hưởng cho xã hội, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, có khả năng tự cải tạo, bản thân bị cáo ốm au thường xuyên việc cho bị cáo cải tạo tại ịa phương không gây nguy hiểm cho xã hội; không ảnh hưởng xấu ến an ninh, trật tự an toàn xã hội. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ, do ó cần chấp nhận kháng cáo của bị cáo giữ nguyên hình phạt sửa án sơ thẩm cho bị cáo ược hưởng án treo như ề nghị của ại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tại phiên toà là có căn cứ.
Các quyết ịnh khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên cấp phúc thẩm không xem xét.
Về án phí: Kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Q ược chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ iểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; iểm e khoản 1 Điều 357 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015. Chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Q, sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 32/2020/HSST ngày 24/4/2020 của Toà án nhân dân huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An. Giữ nguyên hình phạt nhưng cho hưởng án treo.
2. Về hình phạt: Áp dụng iểm g khoản 2 Điều 190; iểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54, Điều 65 của BLHS năm 2015, sửa ổi bổ sung năm 2017. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Q 03 (Ba) năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”. Nhưng cho hưởng án treo.Thời gian thử thách 60 tháng, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án phúc thẩm.
Giao bị cáo Nguyền Thị Q cho Ủy ban nhân dân xã Nam Thành huyện Yên Thành, tỉnh Nghệ An quản lý giáo dục trong thời gian thử thách. Gia ình bị cáo có trách nhiệm phối hợp v i chính quyền ịa phương trong việc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người ược hưởng án treo thay ổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy ịnh tại khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người ược hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 (hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết ịnh buộc người ược hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án ã cho hưởng án treo.
3. Về án phí: Bị cáo Nguyễn Thị Q không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
4. Các quyết ịnh khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị ã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Nghệ An; - TAND, VKSND huyện Yên Thành; - Cơ quan THAHS CA H. Yên Thành; - Cơ quan iều tra CA H. Yên Thành; - Chi Cục THADS H. Yên Thành; - Sở Tư pháp tỉnh Nghệ An; - Bị cáo Quyền; - UBND xã Nam Thành, H Yên Thành; - Lưu Hồ sơ, Toà hình sự. THÀNH VIÊN HỘI Đ NG X T X | TM HỘI Đ NG X T X PH C THẨM Thẩm phán - Ch t a phiên tòa Trần Quốc Sơn THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Trần Quốc Sơn |