vanban.org

Bản án 121/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Bình Chánh, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 13/06/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

* Tuyên bố bị cáo Vũ Trường Phi L phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

* Căn cứ vào điểm c khoản 3, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Vũ Trường Phi L 11 (mười một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2022. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Trường Phi L bị truy tố tội "Buôn bán hàng cấm" - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BL…"
  • Tòa quyết gì? * Tuyên bố bị cáo Vũ Trường Phi L phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 190 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN BÌNH CHÁNH
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2023/HS-ST
Ngày 13-6-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH CHÁNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lý Thường Đông.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lại Hữu Tâm.

Ông Đặng Văn Ẩn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thị Thùy Dương – Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Lại Thế Mạnh - Kiểm sát viên.

Trong ngày 13 tháng 6 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 109/2023/TLST-HS ngày 11 tháng 5 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 124/2023/QĐXXST-HS ngày 29 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Vũ Trường Phi L, sinh năm 1986 tại Thành phố Hồ Chí Minh; giới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: A3/26 Tổ B, ấp M, xã L, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; chỗ ở: Nhà không số (kế nhà 6B18/1) ấp S, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Vũ T và bà Vũ Thị Phương L; bị cáo có vợ và 02 người con sinh năm 2014 và 2016; Tiền án: Không; Tiền sự: Không;

Nhân thân: Ngày 26/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh L An xử phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án về tội “Tổ chức đánh bạc” theo Bản án số: 114/2017/HS-ST. Ngày 29/11/2017 Tòa án nhân dân tỉnh L an xét xử phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm đối với Vũ Trường Phi L.

Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/12/2022 đến nay; Bị cáo có mặt tại phiên tòa;

* Người tham gia tố tụng khác:

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Đặng Xuân T, sinh năm 1999 – (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

2. Bà Nguyễn Thị A, sinh năm 1979 – (vắng mặt)

Nơi cư trú: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh.

3. Bà Nguyễn Thị Tuyết N, sinh năm 1992 – (vắng mặt)

Nơi cư trú: Nhà không số (kế nhà 6B18/1) ấp S, xã P, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 09 giờ 15 phút ngày 19/12/2022, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế và Chức vụ Công an huyện Bình Chánh, phối hợp Công an xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh kiểm tra nhà không số (kế địa chỉ 6B18/1) ấp 6, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh do Vũ Trường Phi L thuê để ở cùng với Nguyễn Thị Tuyết N và cả hai đang có mặt trong nhà tại thời điểm kiểm tra. Qua kiểm tra, Cơ quan Công an phát hiện trong nhà của L có chứa 249 hộp pháo nổ màu xanh mà L khai nhận là pháo nổ của L cất giữ để bán lại cho người khác kiếm lời nên Cơ quan Công an tiến hành lập biên bản bắt người phạm tội quả tang đối với Vũ Trường Phi L, tạm giữ và niêm phong tang vật, đồng thời đưa L và Ngân về trụ sở làm việc. Công an xã Phạm Văn Hai lập hồ sơ ban đầu và chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh thụ lý.

Tại Bản kết luận giám định số: 121/KL-KTHS ngày 23/12/2022 của Phòng kỹ thuật Hình sự Công an Thành phố Hồ Chí Minh kết luận:

“ - 01 khối hình hộp chữ nhật kích thước 17,5cm x 17,5cm x 10,0cm được bọc giấy nhiều màu sắc có gắn đoạn dây màu xanh được ký hiệu mẫu m1 cần giám định đều là Pháo nổ, có tổng khối lượng 1750,02g.

- 248 khối hình hộp chữ nhật kích thước 17,5cm x 17,5cm x 10,0cm được bọc giấy nhiều màu sắc có gắn đoạn dây màu xanh được ký hiệu mẫu m2 cần giám định đều là Pháo nổ, có tổng khối lượng 434.012,40g”.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Vũ Trường Phi L khai nhận như sau: Do không có tiền tiêu xài nên L đã bắt đầu hoạt động mua, bán pháo nổ từ đầu tháng 11/2022. Nguồn gốc pháo L mua của một người đàn ông tên “L” không rõ lai lịch tại tỉnh Tây Ninh với giá 650.000 đồng/ 01 hộp rồi L bán lại cho người khác với giá 750.000 đồng – 800.000 đồng/ 01 hộp. Khi cần mua pháo nổ thì L sẽ liên lạc qua điện thoại với “L” để trao đổi số lượng, giá tiền và địa điểm giao nhận pháo nổ. Thỏa thuận xong, “L” sẽ cho người đem pháo nổ đến giao cho L. Ngày 19/12/2022, L đặt mua 240 hộp pháo hoa nổ của L với giá 650.000 đồng/ 01 hộp (09 hộp pháo nổ còn lại L mua trước đó chưa bán hết). Sau đó, “L” kêu Đinh Văn K đi giao pháo nổ cho L. K thuê Đặng Xuân T điều khiển xe ô tô biển số 70A-363.24 chở K đi giao hàng hóa cho L nhưng K không nói cho Trường biết chở hàng hóa là pháo nổ nên Trường đồng ý chở thuê với giá 2.000.000 đồng. Thống nhất xong, Trường điều khiển xe ô tô đến nhà K và K xách các bịch nylon màu đen (bên trong chứa pháo nổ) xếp lên xe ô tô cho Trường chở đến nhà L giao cho L cất giấu với mục đích bán lại cho người khác nhưng chưa bán được thì bị Cơ quan Công an bắt quả tang như trên. L khai nhận đã mua pháo nổ của L được 05 lần tính luôn lần bị bắt. Trong thời gian hoạt động mua, bán pháo nổ thì L đã thu lợi bất chính được số tiền khoảng 15.100.000 đồng đến 22.650.000 đồng. Ngoài ra, L khai nhận chung sống như vợ chồng với Nguyễn Thị Tuyết N được 05 năm và cả hai có 01 người con chung sinh năm 2018, việc L hoạt động mua, bán pháo nổ thì Ngân không biết và không tham gia phụ giúp gì cho L.

Nguyễn Thị Tuyết N khai nhận chung sống như vợ chồng với L tại nhà trọ của L thuê như trên. Hàng ngày Ngân đi làm nhân viên phục vụ từ sáng sớm đến khuya mới về, chỉ có L ở nhà một mình và đưa đón con đi học. Việc L hoạt động mua, bán pháo nổ tại nhà trọ thì Ngân không biết và không phụ giúp gì. Lời khai của Ngân phù hợp với lời khai của L.

Đối với Đặng Xuân T khai nhận được K thuê chở đi giao hàng hóa cất trong bọc nylon màu đen. Trường không biết hàng hóa mà K đem theo là pháo nổ. Lời khai của Trường phù hợp với lời khai của L.

* Vật chứng thu giữ:

- Thu giữ của Vũ Trường Phi L:

1/ 249 hộp pháo nổ.

2/ 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, cùng sim số 0909.682.229, sử dụng để liện lạc mua, bán pháo nổ.

3/ 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh, cùng sim số 0348.531.547, sử dụng để liện lạc mua, bán pháo nổ.

- Thu giữ của Đặng Xuân T giao nộp:

01 điện thoại di động Nokia màu đen, cùng sim số 0915.049.622, sử dụng liên lạc cá nhân và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A11 màu đen, cùng sim số 0333.655.912, sử dụng liên lạc cá nhân. Sau khi điều tra xét thấy các điện thoại trên không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho ông Trường.

- Thu giữ của bà Nguyễn Thị A giao nộp:

01 xe ô tô hiệu TOYTA INNOVA biển số 70A-363.24; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 70A-363.24. Qua xác minh xe này do bà Ánh đăng ký sở hữu và giao cho con ruột là Đặng Xuân T điều khiển chở dịch vụ nhưng không biết số hàng hóa K thuê chở là pháo nổ nên Cơ quan điều tra đã giao trả lại chiếc xe và giấy tờ trên cho bà A.

Tại bản cáo trạng số: 114/CT-VKS ngày 05 tháng 5 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Vũ Trường Phi L về tội “Buôn bán hàng cấm” theo điểm c khoản 3 Điều 190 của Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

- Áp dụng điểm c khoản 3, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo từ 09 đến 10 năm tù về tội “Buôn bán hàng cấm”, phạt bổ sung bị cáo số tiền 50.000.000 đồng.

- Về vật chứng: Tịch thu và tiêu hủy 249 hộp pháo nổ. Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, cùng sim số 0909.682.229 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh, cùng sim số 0348.531.547, sử dụng để liện lạc mua, bán pháo nổ.

Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Trường Phi L khai nhận hành vi Cáo trạng đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử xử phạt bị cáo mức án nhẹ để bị cáo sớm quay về với gia đình, làm lại cuộc đời.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Chánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Chánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.

Xét lời khai tại phiên tòa của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, vật chứng của vụ án và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Như vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở xác định vào ngày 19/12/2022, bị cáo L đã có hành vi cất giữ 249 hộp pháo qua giám định đều là pháo nổ, có tổng khối lượng 435.762,42gam để bán lại cho người khác kiếm lời thì bị bắt quả tang tại nhà không số (kế địa chỉ 6B18/1), ấp 6, xã Phạm Văn Hai, huyện Bình Chánh, Thành phố Hồ Chí Minh.

Hành vi của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước. Khi thực hiện hành vi buôn bán pháo nổ, bị cáo đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình nhưng vì tham lam, vụ lợi nên bị cáo vẫn cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Như vậy Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Vũ Trường Phi L phạm tội “Buôn bán hàng cấm”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c khoản 3 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xét hành vi phạm tội của bị cáo không chỉ xâm phạm đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước mà còn gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương. Bên cạnh đó bị cáo có nhân thân xấu: Ngày 26/9/2017 bị Tòa án nhân dân huyện Đức Hòa, tỉnh L An xử phạt 01 năm 03 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 02 năm 06 tháng tính từ ngày tuyên án về tội “Tổ chức đánh bạc” theo Bản án số: 114/2017/HS-ST. Ngày 29/11/2017 Tòa án nhân dân tỉnh L an xét xử phúc thẩm tuyên y án sơ thẩm. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần áp dụng hình phạt nghiêm, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù trong một khoảng thời gian nhất định để răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội; đồng thời phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền nhất định để nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại khoản 4 Điều 190 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tuy nhiên, xét thấy tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử có xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về xử lý vật chứng, đồ vật thu giữ:

- Đối với 249 hộp pháo nổ, xét đây là hàng cấm nên tịch thu và tiêu hủy theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, cùng sim số 0909.682.229 và 01 điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh, cùng sim số 0348.531.547, bị cáo L sử dụng để liện lạc mua, bán pháo nổ nên tịch thu nộp ngân sách nhà nước theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.

- Đối với 01 điện thoại di động Nokia màu đen, cùng sim số 0915.049.622 và 01 điện thoại di động Samsung Galaxy A11 màu đen, cùng sim số 0333.655.912 thu giữ của Đặng Xuân T sử dụng liên lạc cá nhân. Sau khi điều tra xét thấy các điện thoại trên không sử dụng vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã giao trả lại cho ông Trường nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

- Đối với 01 xe ô tô hiệu TOYTA INNOVA biển số 70A-363.24; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe và 01 giấy chứng nhận kiểm định xe ô tô biển số 70A-363.24. Qua xác minh xe này do bà Nguyễn Thị A đăng ký sở hữu và giao cho con ruột là Đặng Xuân T điều khiển chở dịch vụ nhưng không biết số hàng hóa K thuê chở là pháo nổ nên Cơ quan điều tra đã giao trả lại chiếc xe và giấy tờ trên cho bà A nên Hội đồng xét xử ghi nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Đối với Nguyễn Thị Tuyết N là người chung sống như vợ chồng với L tại nhà trọ nhưng không biết và không phụ giúp L hoạt động mua, bán pháo nổ nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với Nguyễn Thị A là chủ xe ô tô biển số 70A-363.24 và Đinh Xuân Trường là người điều khiển xe ô tô chở Đinh Văn K đi giao pháo nổ cho L nhưng Ánh và Trường không biết hàng hóa của K bên trong bịch nylon chứa pháo nổ nên Cơ quan điều tra không xử lý.

Đối với đối tượng tên “L” và Đinh Văn K là người bán pháo nổ cho L, tuy nhiên do L không rõ lai lịch, còn K qua xác minh không có mặt tại địa phương, đi đâu không rõ. Ngoài lời khai của L ra thì không còn chứng cứ nào khác nên Cơ quan điều tra đang tiếp tục truy xét, khi nào bắt được sẽ làm rõ và xử lý sau đối với “L” và K.

Đối với việc Vũ Trường Phi L và Nguyễn Thị Tuyết N đã có vợ chồng theo quy định của pháp luật nhưng tiếp tục chung sống với nhau như vợ chồng và có con chung là vi phạm chế độ một vợ một chồng. Qua xác minh L và Ngân chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này nên Cơ quan điều tra đã có văn bản đề nghị chính quyền địa phương xử lý theo quy định của pháp luật.

[9] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát đề nghị về tội danh, hình phạt đối với bị cáo cũng như đề nghị xử lý vật chứng vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

* Tuyên bố bị cáo Vũ Trường Phi L phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

* Căn cứ vào điểm c khoản 3, khoản 4 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:

- Xử phạt bị cáo Vũ Trường Phi L 11 (mười một) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 19/12/2022.

- Phạt bổ sung bị cáo số tiền 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng để nộp ngân sách nhà nước.

* Căn cứ điểm a khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự:

- Tịch thu và tiêu hủy: 249 (hai trăm bốn mươi chín) hộp pháo nổ.

- Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 (một) điện thoại di động hiệu Nokia màu đen, cùng sim số 0909.682.229 và 01 (một) điện thoại di động hiệu OPPO màu xanh, cùng sim số 0348.531.547.

(vật chứng trên Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh đang tạm giữ theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 10/5/2023 giữa Công an huyện Bình Chánh và Chi cục thi hành án dân sự huyện Bình Chánh)

* Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

* Căn cứ Điều 331, Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự: Bị cáo, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ