vanban.org

Bản án 121/2023/HS-PT — Hình sự

TAND cấp cao tại TP Hồ Chí Minh Tuyên án 16/03/2023 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 16/03/2023 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Bác kháng cáo của bị cáo NVT, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 33/2022/HS-ST ngày 06-9-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Tuyên bố bị cáo NVT phạm các tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”; tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”. Xử phạt bị cáo NVT 15 (Mười lăm) năm tù về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Văn Thiết "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi" - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm…"
  • Tòa quyết gì? Bác kháng cáo của bị cáo NVT, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 33/2022/HS-ST ngày 06-9-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 142 Bộ luật Hình sự; Điều 260 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO
TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2023/HS-PT
Ngày: 16 - 3 -2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Tô Ngọc

Các Thẩm phán: Ông Hoàng Thanh Dũng

Ông Nguyễn Văn Minh

- Thư ký phiên tòa: Bà Đinh Hồng Vân – Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trần Tấn Thông – Kiểm sát viên.

Ngày 16 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh và tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử phúc thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 733/2022/TLPT-HS ngày 13 tháng 10 năm 2022 đối với bị cáo NVT do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 33/2022/HS-ST ngày 06-9-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 129/2023/QĐXX-PT ngày 27/02/2023 đối với bị cáo:

NVT, sinh ngày 03/4/2002 tại tỉnh Cao Bằng; nơi cư trú: Thôn T, xã CK’N, huyện CJ, tỉnh ĐN; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nông Văn Trạch, sinh năm 1975 và bà Sầm Thị Thào, sinh năm 1983; bị cáo chưa có vợ, con; bị bắt tạm giữ tạm giam từ ngày 28/11/2021, hiện đang tạm giam, bị cáo có mặt tại phiên tòa.

Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Hồ Hoài Nhân – Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu chúng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình giải quyết vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án như sau:

Trong thời gian từ tháng 10/2020 đến ngày 26/11/2021, NVT, sinh ngày 03/4/2002, trú tại Thôn T, xã CK’N, huyện CJ, tỉnh ĐN đã thực hiện các hành vi phạm tội, cụ thể:

1. Hành vi Hiếp dâm người dưới 16 tuổi: Khoảng 13 giờ ngày 25/11/2021, NVT đi ngang qua phòng ngủ em gái của mình là NTX (sinh ngày 27/01/2007), thấy Bh X đang nằm ngủ. Trong nhà lúc này không có ai nên Bc Th nảy sinh ý định muốn quan hệ tình dục với Bh X, Bc Th đi ra chuồng gà gần nhà lấy chiếc còng số 8 (Bc Th mua trên mạng trước đó) rồi đi vào nơi Bh X đang ngủ, mục đích còng tay để Bh X khỏi chống trả, Bc Th ngồi lên giường dùng còng số 8 khóa tay trái của Bh X trước, sau đó lật Bh X nằm úp xuống rồi khóa tay còn lại (khóa hai tay ra phía sau lưng) với mục đích không cho Bh X chống cự. Bc Th lật Bh X nằm ngửa lại và ngồi lên người cởi áo, quần của Bh X ra, sau đó kéo áo ngực lên phía trên và dùng tay bóp vú. Bc Th cởi quần của mình và dùng tay trái đưa dương vật đã cương cứng vào bộ phận sinh dục của Bh X thực hiện hành vi giao cấu và xuất tinh trùng lên phần bụng của Bh X. Sau khi quan hệ tình dục xong, Bc Th tháo còng tay ra và đi tắm, sau đó đi ngủ.

Đến 13 giờ, ngày 26/11/2021, thấy Bh X đang nằm ngủ trên võng trước nhà nên Bc Th ngồi lên người và giữ hai tay của Bh X lại với mục đích khống chế Bh X để quan hệ tình dục. Bh X kêu la, thì bà Hoàng Thị Nái (là bà nội) đang ở trong nhà đi ra và hỏi “có việc gì vậy”, Bc Th trả lời “không có việc gì”, thấy bà Nái ra nên Bc Th không thực hiện được hành vi quan hệ tình dục. Sau đó, Bh X đã kể lại việc bị Bc Th quan hệ tình dục trước đó cho bà Nái nghe, biết được sự việc bà Nái kể lại cho chị Lục Thị Thiêm (là Thím của Bc Th và Bh X) biết, chị Thiêm báo cho bà Sầm Thị Thào (là mẹ của Bc Th và Bh X). Ngày 28/11/2021, bà Thào đã đưa Bc Th đến Công an huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông đầu thú, Bc Th giao nộp chiếc còng số 8 và khai nhận nội dung sự.

2. Hành vi Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ: Khoảng 06 giờ ngày 26/6/2021, NVT chưa có giấy phép lái xe nhưng điều khiển xe mô tô nhãn hiệu SuZuKi của mình, xe mang BKS 48D1 - 346.35, có dung tích xi lanh đến 175cm3 đi từ nhà ở xã Cư K’Nia, huyện Cư Jút đến Khu Công Nghiệp Tâm Thắng, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông theo đường Hồ Chí Minh để làm việc (BL 151). Do sợ muộn giờ làm việc nên Bc Th điều khiển xe đi với tốc độ nhanh. Khi đi đến Km 1802+300 đường Hồ Chí Minh thuộc thôn 3, xã Trúc Sơn, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông, Bc Th phát hiện phía trước khoảng 30 - 40 mét cùng chiều có chị Nguyễn Thị Nguyệt, sinh năm: 1976, trú tại thôn 3, xã Trúc Sơn, huyện Cư Jút đang điều khiển xe máy BKS 48AD - 027.88 di chuyển qua đường, tốc độ xe Bc Th điều khiển lúc này khoảng 70km/giờ (đi ở làn phía ngoài dành cho phương tiện xe ô tô). Do khoảng cách gần không kịp xử lý nên xe của Bc Th đã tông thẳng vào bên trái xe của chị Nguyệt. Hậu quả làm chị Nguyệt bị thương nặng được đưa đi cấp cứu (thương tật qua giám định là 68%), Bc Th bị thương nhẹ; hai xe mô tô bị hư hỏng. Vị trí hai xe mô tô va chạm với nhau nằm ở giữa gần tim đường theo chiều đi của Bc Th. Sau khi gây tai nạn Bc Th đã giao nộp 01 Giấy phép lái xe mô tô hạng A2 mang tên NVT cho Công an huyện Cư Jút để phục vụ điều tra; anh Nguyễn Quang Dũng cung cấp hình ảnh camera nơi xảy ra vụ việc.

3. Hành vi Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức: Khoảng tháng 10/2020, khi đang làm công nhân tại tỉnh Bình Dương, do nhu cầu cần có giấy phép lái xe mô tô để sử dụng nên Bc Th đã lên mạng xã hội Facebook, thấy có đăng quảng cáo nhận làm giấy phép lái xe. Bc Th trao đổi với người tên Hùng (không rõ nhân thân lai lịch) đặt làm cho mình một giấy phép lái xe hạng A2 với giá 1.400.000 đồng. Bc Th cung cấp chứng minh nhân dân, ảnh cho Hùng qua ứng dụng messenger. Khoảng 10 ngày sau, Hùng đưa cho Bc Th một giấy phép lái xe số: 670203005498, hạng A2 mang tên NVT, do Sở Giao thông vận tải tỉnh Đắk Nông cấp ngày 02/11/2020. Bc Th đưa cho Hùng 1.400.000 đồng và cất giấy phép lái xe vào ví để sử dụng.

Hiện trường nơi xảy ra vụ án ở các địa điểm:

* Vụ hiếp dâm người dưới 16 tuổi là khu vực nhà ở của bà Sầm Thị Thào (mẹ của bị can và người bị hại) thuộc thôn 8 xã Cư K’Nia, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông. Nhà xây, mái lợp tôn, nền lát gạch men có kích thước 6 x 9,1m. Gồm có 3 phòng: 1 phòng khách và 02 phòng ngủ. Nơi Bc Th thực hiện hành vi hiếp dâm Bh X ngày 25/11/2021 là trên giường của phòng ngủ số 2; hiếp dâm ngày 26/11/2021 là trên võng ở phía trước nhà.

Kết luận giám định pháp y đối với trẻ em bị xâm hại tình dục số: 1162 ngày 30/11/2021 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế tỉnh Đắk Lắk đối với NTX:

+ Lỗ màng trinh giãn rộng, đường kính 02cm; không phát hiện vết rách, tổn thương; các phần khác của bộ phận sinh dục không phát hiện tổn thương.

+ Vết bầm nhẹ mặt sau 1/3 dưới cẳng tay trái, kích thước 0,5cm x 02cm; Vết xước da ở cẳng tay trái (cách mỏm trâm trụ 02cm), kích thước 0,5cm x 0,1cm. Tỷ lệ tổn thương là 01%. Vật gây ra thương tích là vật tày cứng (có cạnh). Test thai âm tính.

*Vụ tai nạn giao thông giữa xe mô tô BKS 48D1-34635 và xe máy BKS 48AD-02788 tại Km 1802+300 đường Hồ Chí Minh thuộc thôn 3, xã Trúc Sơn, huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông. Mặt đường làm bằng bê tông nhựa rộng 11m, có vạch kẻ đứt quãng ở giữa đường để phân chia hai làn xe chạy, đường thẳng tầm nhìn không bị che khuất. Trên hiện trường còn để lại các dấu vết cày, trượt, mảnh vỡ, chất màu nâu đỏ bám dính trên mặt đường và 2 phương tiện xe mô tô nằm nghiêng sau tai nạn. Sau va chạm xe mô tô BKS 48D1-34635 do Bc Th điều khiển trượt dài về phía trước 14,5m; xe mô tô BKS 48AD-02788 do chị Nguyệt điều khiển trượt dài 16,8m. Căn cứ vào dấu vết để lại trên hiện trường xác định điểm va chạm đầu tiên giữa 2 xe mô tô cách lề đường hướng ngược chiều 5,85m (gần giữa tim đường) và cách điểm cố định là trụ điện số VNCLT105C 23,7m.

Hành vi điều khiển xe mô tô của Bc Th đã vi phạm khoản 9, 19 Điều 8; khoản 1 Điều 9; Điều 12 Luật giao thông đường bộ; khoản 2, 3 Điều 4 Thông tư số: 31 ngày 29/8/2019 của Bộ Giao thông vận tải quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.

Kết luận giám định số: 210 ngày 25/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đắk Nông kết luận Giấy phép lái xe hạng A2 mang tên NVT gửi đến giám định không phải do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp.

Bản Kết luận giám định pháp y về thương tích số: 1096 ngày 04/11/2021 của Trung tâm pháp y, Sở Y tế tỉnh Đắk Lắk kết luận chị Nguyễn Thị Nguyệt bị tổng tỷ lệ thương tích là 68%.

Kết luận định giá tài sản số: 41 ngày 20/12/2021 của Hội đồng định giá tài sản huyện Cư Jút, tỉnh Đắk Nông kết luận chiếc xe máy BKS 48AD-02788 của chị Nguyệt bị hư hỏng thiệt hại 4.560.000 đồng .

Phiếu xét nghiệm số 08, ngày 08/02/2022 của Trung tâm kiểm soát bệnh tật Sở Y tế tỉnh Đắk Nông xét nghiệm HIV đối với NVT, kết quả âm tính. Biên bản xét nghiệm chất ma túy lúc 09 giờ ngày 26/6/2021 đối với Bc Th âm tính; Đo nồng độ cồn 0,000mg/l .

Cáo trạng số: 34/CTr-VKS(P2) ngày 09-8-2022 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Đắk Nông đã truy tố bị cáo NVT về các tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm a, đ khoản 2 Điều 142; tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” theo điểm a khoản 2 Điều 260 và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” theo khoản 1 Điều 341 của Bộ luật Hình sự.

Tại Bản án sơ thẩm số 33/2022/HS-ST ngày 06-9-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông xét xử và quyết định đối với bị cáo NVT:

Tuyên bố bị cáo NVT phạm các tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”; tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 142; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo NVT 15 (Mười lăm) năm tù về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

“Xử phạt bị cáo NVT 01 (một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ.

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo NVT 06 (Sáu) tháng tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của ba tội, buộc bị cáo NVT phải chấp hành hình phạt chung là 17 (Mười bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/11/2021.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.

Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 21/09/2022 bị cáo NVT có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo NVT trình bày:

Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo, thừa nhận toàn bộ hành vi hiếp dâm như nội dung cáo trạng và bản án sơ thẩm đã nếu. Tuy nhiên bị cáo chỉ thực hiện hành vi 01 lần vào ngày 25/11/2021, ngày 26/11/2021 khi em Bh X đang nằm trên võng, bị cáo có ngồi đè lên em Bh X, dùng hai tay giữ hai cổ tay Bh X lại nhưng với mục đích xin lỗi Bh X chứ không nhằm hiếp dâm. Bị cáo là người dân tộc Tày, thiếu hiểu biết nên đã phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đối với các tội Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ, Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội, chấp nhận mức án đã tuyên, không kháng cáo. Đề nghị giảm án cho bị cáo với tội hiếp dâm.

Luật sư bào chữa cho bị cáo trình bày: Đồng ý với các tội danh mà cấp sơ thẩm đã tuyên. Tuy nhiên chưa đủ cơ sở xác định bị cáo có hành vi hiếp dâm ngày 26/11. Ngoài ra bị cáo là người dân tộc thiểu số, hoàn cảnh gia đình khó khăn, bị cáo học vấn thấp, thiếu hiểu biết, không được tuyên truyền, giáo dục pháp luật. Mức án cấp sơ thẩm đã tuyên là quá nghiêm khắc nên đề nghị Hội đồng xét xử giảm án cho bị cáo.

Tại phiên tòa phúc thẩm vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm:

-Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị cáo hợp lệ, đúng quy định về thời hạn. Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, bị cáo và luật sư chấp hành đúng quy định của Bộ luật tố tụng.

-Về nội dung: Tại phiên tòa bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội hiếp dâm. Đối với lần phạm tội ngày 26/11/2021, bị cáo có hành vi đè lên người bị hại, dùng hai tay khóa tay của bị hại, do bị hại kêu la, phản ứng, bà nội của bị cáo vào nên bị cáo không thực hiện được hành vi hiếp dâm. Người bị hại là em ruột của bị cáo hành vi của bị cáo có tính chất loạn luân. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo tội hiếp dâm tại khoản 2 Điều 142 là có căn cứ. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết chứng cư gì mới. Đề nghị bác kháng cáo, giữ nguyên bản án sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Đơn kháng cáo về nội dung, quyền kháng cáo, thủ tục kháng cáo và thời hạn kháng cáo là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hội đồng xét xử chấp nhận xem xét giải quyết đơn kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.

Xét kháng cáo của bị cáo:

Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Xét lời khai nhận tội của các bị cáo là phù hợp với lời khai của người bị hại, Kết luận giám định biên bản, bản ảnh thực nghiệm điều tra và các vật chứng của vụ án cùng những tài liệu, chứng cứ đã thu thập có tại hồ sơ vụ án được xét hỏi công khai tại phiên tòa. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo phạm tội các tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”; tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” là có căn cứ.

Về tình tiết phạm tội 02 lần trở lên: lần thứ 2 bị cáo có hành vi ngồi lên người và giữ hai tay của Bh X lại với mục đích khống chế Bh X để quan hệ tình dục. Do Bh X kêu la, bà Hoàng Thị Nái (là bà nội) đang ở trong nhà đi ra nên Bc Th không thực hiện được hành vi đến cùng. Lời khai của bị cáo tại các Bản tự khai/Bản tường trình, Biên bản ghi lời khai, Biên bản hỏi cung bị can (các bút lục từ 200 đến 252) đều thể hiện bị cáo có hành vi ngồi đè lên người bị hại, dùng hai tay nắm hai cổ tai bị hại với mục đích khống chế Bh X để quan hệ tình dục, nhưng do bị hại hét lên “bà ơi”, bà nội của bị cáo ra nên bị cáo chưa thực hiện được hành vi hiếp dâm đến cùng. Các lời khai này phù hợp với lời khai của người bị hại và người làm chứng (các bút lục từ 172 đến 183). Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” với tình tiết định khung tại điểm a, đ khoản 2 Điều 142 là có căn cứ.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng đã được xem xét đầy đủ. Mức án cấp sơ thẩm đã tuyên là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết, chứng cứ gì mới. Vì vậy không có cơ sở chấp nhận kháng cáo.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết hạn kháng cáo, kháng nghị.

Về án phí hình sự: Do không được chấp nhận kháng cáo nên bị cáo phải án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ Luật Tố tụng hình sự.

Bác kháng cáo của bị cáo NVT, giữ nguyên bản án sơ thẩm số 33/2022/HS-ST ngày 06-9-2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Đắk Nông.

Tuyên bố bị cáo NVT phạm các tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”; tội “ Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ” và tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Áp dụng điểm a, đ khoản 2 Điều 142; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo NVT 15 (Mười lăm) năm tù về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.

Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 260; các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo NVT 01 (một) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”.

Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo NVT 06 (Sáu) tháng tháng tù về tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”;

Áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt của ba tội, buộc bị cáo NVT phải chấp hành hình phạt chung là 17 (Mười bảy) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, tạm giam ngày 28/11/2021.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm 200.000 đồng.

3. Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án ./.

Cỡ chữ