- Tranh chấp gì? án hình sự — "Chu Lý T phạm tội Tổ chức đánh bạc; các bị cáo Chu Lý H, Chu Lý V, Hoàng Văn X và Vũ Văn Q phạm tội Đánh bạc - phạm tội tổ chức đánh bạc hoặ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: bị cáo Chu Lý T phạm tội Tổ chức đánh bạc; các bị cáo Chu Lý H, Chu Lý V, Hoàng Văn X và Vũ Văn Q phạm tội Đánh bạc.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2022/HS-ST Ngày 15-6-2022 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG, THÀNH PHỐ HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngô Thị Ánh
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Đình Hiền và ông Nguyễn Đức Hiếu
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Mạnh Đức, Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Phương Thỏa - Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 61/2022/TLST-HS ngày 06 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 87/2022/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 5 năm 2022 đối với các bị cáo:
1. CHU LÝ T, sinh năm 1967; ĐKHKTT và nơi ở: Tổ Dân phố G, phường B, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 7/10; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Lý T1 (đã chết) và bà Hồ Thị L (đã chết); có vợ là Lê Thị L1 và 04 con; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 17/12/2021 đến ngày 25/12/2021; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
2. CHU LÝ H, sinh năm 1982; ĐKHKTT và nơi ở: Tổ Dân phố G, phường B, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Lý L2 và bà Ngô Thị D; có vợ là Nguyễn Thị Đ và 03 con; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 17/12/2021 đến ngày 19/12/2021; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
3. CHU LÝ V, sinh năm 1996; ĐKHKTT và nơi ở: Tổ Dân phố G, phường B, quận H, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Chu Lý T và bà Đoàn Thị G; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 17/12/2021 đến ngày 19/12/2021; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
4. HOÀNG VĂN X, sinh năm 1971; ĐKHKTT và nơi ở: thôn T, thị trấn C, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: Giáo viên, Trường Cao đẳng sư phạm H; là Đảng viên Đảng cộng sản Việt Nam, bị đình chỉ sinh hoạt Đảng theo Quyết định số 22-QĐ/UBKTĐUK ngày 12/5/2022 của Ủy ban kiểm tra Đảng ủy khối các trường Đại học, Cao đẳng Hà Nội; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn V (đã chết) và bà Hoàng Thị M; có vợ là Phan Thị N và 03 con; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 17/12/2021 đến ngày 19/12/2021; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
5. VŨ VĂN Q, sinh năm 1971; ĐKHKTT và nơi ở: thôn G, thị trấn C, huyện M, thành phố Hà Nội; nghề nghiệp: lao động tự do; trình độ văn hoá (học vấn): lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn M (đã chết) và bà Hoàng Thị P (đã chết); có vợ là Hoàng Thị H và 02 con; tiền án, tiền sự: không; tạm giữ: từ ngày 17/12/2021 đến ngày 19/12/2021; hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 16/12/2021, Chu Lý H, Chu Lý V, Hoàng Văn X và Vũ Văn Q đến nhà của Chu Lý T, địa chỉ: Khu đất nông nghiệp thuộc Tổ Dân phố G, phường B, quận H, thành phố Hà Nội uống nước. Tại đây, H, V, X và Q rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi “chắn” sát phạt nhau bằng tiền, T đồng ý cho 04 người đánh bạc tại nhà mình. Sau đó, T đi mua 02 bộ bài chắn và lấy 01 đĩa sứ làm công cụ đánh bạc. Hình thức đánh bạc như sau: dùng bộ bài chắn 100 quân chia làm 05 phần, mỗi người chơi được một phần, mỗi phần có 19 quân và để lại 05 quân cho vào bài “nọc”, ai có “cái” thì được thêm 01 quân bài, phần còn lại 23 quân bài để vào đĩa sứ gọi là “nọc”. Các đối tượng vừa đánh bạc, vừa bốc “nọc” đến khi có người “ù” thì kết thúc ván chơi. Mức độ sát phạt: đánh quăng “ù xuông” 40.000 đồng, “dịch” 20.000 đồng, “ù thông” tức là ù 02 ván liên tiếp thì coi là một dịch, “ù tôm” 80.000 đồng, “ù lèo” 100.000 đồng, “ù Bạch Định” là 120.000 đồng, “ù Tám Đỏ” 140.000 đồng, nếu ai “ù Bạch định” hoặc “ù Tám đỏ” thì bỏ ra 20.000 đồng ra chiếu cho T (tiền gà), riêng người ù ván đầu bỏ ra 30.000 đồng. T tham gia chia bài để các bị cáo khác đánh bạc.
Đến 22 giờ cùng ngày, khi các bị cáo đang đánh bạc thì bị Tổ công tác Đội Cảnh sát hình sự Công an quận Hà Đông bắt quả tang. Vật chứng thu giữ: thu tại chiếu bạc gồm: 01 (một) đĩa sứ; 02 (hai) bộ bài chắn mỗi bộ gồm 100 quân bài và số tiền 20.310.000 đồng (loại tiền Ngân hàng Nhà nước Việt Nam đang lưu hành), là số tiền các đối tượng đang sử dụng để đánh bạc, trong đó có 30.000 đồng tiền gà.
Số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc:
Chu Lý H sử dụng 8.500.000 đồng, khi bị bắt bị thu giữ 7.620.00 đồng (thua 880.000 đồng);
Chu Lý V sử dụng 6.030.000 đồng, khi bị bắt bị thu giữ 5.920.000 đồng (đang thua 110.000 đồng);
Hoàng Văn X sử dụng 4.380.000 đồng, khi bị bắt bị thu giữ 5.100.000 đồng (thắng 720.000 đồng);
Vũ Văn Q sử dụng 1.400.000 đồng, khi bị bắt bị thu giữ 1.640.000 đồng (thắng 240.000 đồng).
Trong giai đoạn điều tra, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội.
Cáo trạng số 65/CT-VKS-HĐ ngày 06/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố như sau:
- Chu Lý T bị truy tố về tội Tổ chức đánh bạc theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017;
- Chu Lý H, Chu Lý V, Hoàng Văn X và Vũ Văn Q bị truy tố về tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận hành vi phạm tội, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội luận tội cho rằng: tại phiên tòa, các bị cáo khai nhận tội, phù hợp lời khai trong giai đoạn điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập trong quá trình điều tra vụ án, đủ cơ sở giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố các bị cáo. Hành vi của các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm trật tự công cộng, là nguyên nhân phát sinh tội phạm khác. Các bị cáo đều nhận thức được hành vi đánh bạc và tổ chức đánh bạc là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện, cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc. Các bị cáo đều chưa có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, thái độ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, có nơi cư trú rõ ràng; 04 bị cáo đánh bạc thuộc trường hợp đồng phạm giản đơn, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo H, Viện đánh bạc với số tiền nhiều hơn X và Q; bị cáo X mắc bệnh hiểm nghèo nên cần xem xét áp dụng hình phạt phù hợp đối với mỗi bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Chu Lý T từ 12 tháng đến 15 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 tháng đến 30 tháng về tội Tổ chức đánh bạc.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt các bị cáo Chu Lý H và Chu Lý V mỗi bị cáo từ 09 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 tháng đến 24 tháng về tội Đánh bạc.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 35 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, phạt tiền các bị cáo Hoàng Văn X và Vũ Văn Q mỗi bị cáo từ 20.000.000 đồng đến 30.000.000 đồng về tội Đánh bạc.
- Về xử lý vật chứng:
+ Tịch thu tiêu hủy 01 đĩa sứ đã qua sử dụng; 02 bộ bài chắn mỗi bộ gồm 100 quân bài;
+ Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 20.310.000 đồng là tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông; Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình khởi tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án đều hợp pháp.
Về đánh giá chứng cứ trong vụ án: Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của các bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố; phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 21 giờ ngày 16/12/2021, Chu Lý H, Chu Lý V, Hoàng Văn X và Vũ Văn Q đến nhà của Chu Lý T, địa chỉ: Khu đất nông nghiệp thuộc Tổ Dân phố G, phường B, quận H, thành phố Hà Nội uống nước rồi rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi “chắn” sát phạt nhau bằng tiền. T đồng ý cho 04 người đánh bạc tại nhà mình và thu tiền gà. T mua 02 bộ bài chắn, lấy 01 đĩa sứ làm công cụ đánh bạc; đồng thời T làm nhiệm vụ chia bài cho các bị cáo đánh bạc. Đến 22 giờ cùng ngày, khi các bị cáo đang đánh bạc thì bị bắt quả tang, số tiền thu trên chiếu bạc là 20.310.000 đồng, trong đó có 30.000 đồng tiền gà.
Hành vi của bị cáo Chu Lý T chuẩn bị công cụ, chia bài để 04 bị cáo khác đánh bạc trái phép tại nhà của mình là hành vi tổ chức đánh bạc trái phép. Tổng số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc trên 20.000.000 đồng nên hành vi của T thỏa mãn dấu hiệu quy định tại điểm c khoản 1 Điều 322 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Hành vi của các bị cáo Chu Lý H, Chu Lý V, Hoàng Văn X và Vũ Văn Q sát phạt nhau bằng tiền là đánh bạc trái phép, số tiền thu trên chiếu bạc là 20.310.000 đồng nên hành vi của các bị cáo thỏa mãn dấu hiệu của tội Đánh bạc theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông, thành phố Hà Nội truy tố các bị cáo theo tội danh, điều khoản của Bộ luật Hình sự viện dẫn trong Cáo trạng là có căn cứ, đúng pháp luật.
Cá thể hóa trách nhiệm hình sự trên cơ sở xem xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi và các tình tiết có ảnh hưởng đến trách nhiệm hình sự của mỗi bị cáo thấy rằng:
Đối với bị cáo Chu Lý T, bị cáo dùng nhà của mình làm nơi tổ chức đánh bạc để thu tiền gà; bị cáo chuẩn bị dụng cụ đánh bạc và làm nhiệm vụ chia bài để các bị cáo khác đánh bạc trái phép. Bị cáo thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Xét bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhân thân tốt lần đầu phạm tội, thu được 30.000 đồng tiền gà nhưng đã bỏ xuống chiếu bạc khi bị bắt quả tang và bị thu giữ, chưa được hưởng tiền thu lợi bất chính, phạm tội do nể nang nên có thể áp dụng hình phạt tù nhưng cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tác dụng trừng trị, giáo dục bị cáo cải tạo thành người làm ăn chân chính.
Đối với các bị cáo phạm tội Đánh bạc: Chu Lý H, Chu Lý V, Hoàng Văn X và Vũ Văn Q cùng rủ nhau đánh bạc dưới hình thức chơi chắn, vai trò như nhau trong vụ án. Tuy nhiên, mức độ nguy hiểm hành vi phạm tội của mỗi bị cáo được đánh giá trên cơ sở số tiền sử dụng vào việc đánh bạc: Chu Lý H sử dụng 8.500.000 đồng, số tiền nhiều nhất trong số các bị cáo đánh bạc nên mức hình phạt cao nhất; tiếp đến là các bị cáo Chu Lý V: 6.030.000 đồng; Hoàng Văn X: 4.380.000 đồng; Vũ Văn Q: 1.400.000 đồng, cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi của mỗi bị cáo. Các bị cáo đều phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự để giảm nhẹ một phần hình phạt.
Xét các bị cáo không có tình tiết tăng nặng, có nhiều tình tiết giảm nhẹ; có nhân thân tốt; hiện có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết cách ly các bị cáo khỏi đời sống xã hội, có thể áp dụng hình phạt tù nhưng cho các bị cáo H, Viện hưởng án treo cũng đủ tác dụng trừng trị, giáo dục các bị cáo nói riêng, răn đe phòng ngừa tội phạm nói chung. Bị cáo X mắc bệnh u tuyến giáp và bệnh tim, sức khỏe giảm sút được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo X, Q đánh bạc với số tiền ít hơn nên có thể áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng bảo đảm mục đích của hình phạt.
Về xử lý vật chứng: Số vật chứng Cơ quan điều tra thu giữ được xử lý như sau:
- Số tiền thu giữ 20.310.000 đồng, kết quả điều tra chứng minh là số tiền các bị cáo sử dụng vào việc đánh bạc, trong đó có 30.000 đồng tiền gà nên tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước;
- Đối với 01 đĩa sứ đã qua sử dụng; 02 bộ bài chắn mỗi bộ gồm 100 quân bài là công cụ đánh bạc, xét không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Các bị cáo phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: bị cáo Chu Lý T phạm tội Tổ chức đánh bạc; các bị cáo Chu Lý H, Chu Lý V, Hoàng Văn X và Vũ Văn Q phạm tội Đánh bạc.
- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 322; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Chu Lý T 12 (mười hai) tháng tù về tội Tổ chức đánh bạc, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Chu Lý T cho Ủy ban nhân dân phường B, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Chu Lý T thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời hạn thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; các điều 58, 65 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017,
+ Xử phạt bị cáo Chu Lý H 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Chu Lý H cho Ủy ban nhân dân phường B, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Chu Lý H thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời hạn thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
+ Xử phạt bị cáo Chu Lý V 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Chu Lý V cho Ủy ban nhân dân phường B, quận H, thành phố Hà Nội giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo Chu Lý V thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự.
Trong thời hạn thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; các điều 35, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Hoàng Văn X 30.000.000 (ba mươi triệu) đồng;
- Áp dụng khoản 1 Điều 321; các điểm i, s khoản 1 Điều 51; các điều 35, 58 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Vũ Văn Q 20.000.000 (hai mươi triệu) đồng.
2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015; căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015,
- Tịch thu sung vào Ngân sách Nhà nước số tiền 20.310.000 đồng (hai mươi triệu ba trăm mười nghìn) đồng. Số tiền hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, tài khoản số 3949.0.1052739 tại Kho bạc Nhà nước quận Hà Đông, thành phố Hà Nội, theo Giấy nộp tiền vào tài khoản lập ngày 12/4/2022, người nộp tiền Công an quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) đĩa sứ đã qua sử dụng; 02 (hai) bộ bài chắn mỗi bộ gồm 100 quân bài. Số vật chứng hiện đang lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 07/4/2022 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hà Đông, thành phố Hà Nội và Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông, thành phố Hà Nội.
3. Về án phí: Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, các bị cáo Chu Lý T, Chu Lý H, Chu Lý V, Hoàng Văn X và Vũ Văn Q, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Án xử công khai sơ thẩm, các bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án 15/6/2022.
| Nơi nhận: - Công an quận Hà Đông; - Viện Kiểm sát nhân dân quận Hà Đông; - Chi cục Thi hành án dân sự quận Hà Đông; - Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Hà Nội; - Bị cáo; - Lưu Hồ sơ vụ án, V.Phòng. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Ngô Thị Ánh |