vanban.org

Bản án 121/2019/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang Tuyên án 08/08/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Hùng (tức Nguyễn Mạnh Hùng) phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Hùng (tức Nguyễn Mạnh Hùng) 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 19/4/2019. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tội trộm cắp tài sản - không phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Hùng (tức Nguyễn Mạnh Hùng) phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẮC GIANG
TỈNH BẮC GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 121/2019/HS-ST
Ngày 08 tháng 8 năm 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẮC GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Ngọ Thị Thanh Hảo

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Tư

2. Ông Vũ Ngọc Hân

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang tham gia phiên tòa: Bà Đặng Minh Hà - Kiểm sát viên.

Trong ngày 08 tháng 8 năm 2019 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. Toà án nhân dân thành phố Bắc Giang xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 114/2019/HSST ngày 12 tháng 7 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Xuân Hùng, sinh năm 1990 tại Bắc Giang; Tên gọi khác: Nguyễn Mạnh Hùng; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: Số nhà 02, ngõ 51, đường Trần Đăng Tuyển, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hóa: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn Minh, sinh năm 1967 (đã chết); Con bà: Phạm Thúy Nga, sinh năm 1972; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con thứ nhất; Vợ: Nguyễn Thị Yến, sinh năm 1994; Bị cáo có 01 người con sinh năm 2017; Tiền án: Tại bản án số 223/2010/HSST ngày 10/12/2010, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 02 năm 06 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 05/10/2010. Ra trại ngày 05/01/2013, Tại bản án số 247/2013/HSST ngày 27/9/2013, Tòa án nhân dân thành phố Bắc Giang xử phạt 03 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”, thời hạn tù tính từ ngày 18/6/2013. Ra trại ngày 18/4/2016 (bị cáo chưa chấp hành án phí HSST); Nhân thân: Ngày 19/3/2009, Chủ tịch UBND thành phố Bắc Giang áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh, thời hạn 12 tháng; Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 19/4/2019 đến nay. Hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).

+ Bị hại:

1. Chị Đặng Lan Thương, sinh năm 1995

Địa chỉ: Phòng 10, tầng 5, cầu thang 2, nhà A11, khu tập thể Phân Đạm, tổ 7B, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt).

2. Anh Trịnh Quốc Toản, sinh năm 1992

Địa chỉ: Tầng 3, cầu thang 2, nhà A11, khu tập thể Phân Đạm, tổ 7B, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).

3. Anh Ngô Văn Đàm, sinh năm 1985

Địa chỉ: Phòng 405, tầng 4, cầu thang 2, nhà A1, khu tập thể Phân Đạm, tổ 7B, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt).

+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Chị Trịnh Thị Thu Uyên, sinh năm 1990

Địa chỉ: Thôn Cũ Hồ Nước, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).

2. Anh Nguyễn Sỹ Thanh, sinh năm 1979

Địa chỉ: Thôn Thái Đào, xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt).

3. Anh Giáp Tuấn Hùng, sinh năm 1996

Địa chỉ: Thôn Vạc, xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).

4. Anh Trần Ngọc Đông, sinh năm 1995

Địa chỉ: Thôn Nam, xã Đồng Việt, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).

5. Anh Hồ Văn Cương, sinh năm 1991

Địa chỉ: Phòng 10, tầng 5, cầu thang 2, nhà A11, khu tập thể Phân Đạm, tổ 7B, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang. (Vắng mặt).

6. Anh Tống Văn Lương, sinh năm 1986

Địa chỉ; Thôn Văn Xá, xã Bích Sơn, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang. (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diên biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 28/3/2019 đến ngày 03/4/2019, Nguyễn Xuân Hùng, sinh năm 1990, ở số nhà 02, ngõ 51, đường Trần Đăng Tuyển, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, tỉnh Bắc Giang đã thực hiện 03 vụ trộm cắp xe mô tô tại khu tập thể Phân Đạm, thuộc tổ dân phố 7B, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Khoảng 13 giờ ngày 28/3/2019, Hùng đi bộ từ nhà đến khu tập thể Phân Đạm thuộc tổ dân phố 7B, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang để xem ai có sơ hở thì trộm cắp tài sản, khi đi Hùng có mang theo một chiếc chìa khóa xe mô tô. Khi đến khu vực cầu thang 2, nhà A11, khu tập thể Phân Đạm, Hùng nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Super Dream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 98M2-4895 của chị Đặng Lan Thương, sinh năm 1995 ở phòng 10, tầng 5, nhà A11, dựng ở sát vỉa hè, phía bên phải dưới chân cầu thang 2, tầng 1, nhà A11, đầu xe hướng chân cầu thang, đuôi xe hướng ra đường, xe không khóa càng. Sau khi quan sát xung quanh thấy không có ai để ý, Hùng đi đến chiếc xe, lấy chiếc chìa khóa mang theo từ trước cắm vào ổ khóa điện rồi vặn sang bên phải sang bên trái nhiều lần mở được ổ khóa điện, nổ máy và điều khiển xe trộm cắp được bỏ chạy. Hùng khai sau khi trộm cắp được chiếc xe đã đi đến hiệu hiệu cầm đồ Sỹ Thanh của anh Nguyễn Sỹ Thanh, sinh năm 1979 ở thôn Thái Đào, xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang cầm cố cho anh Thanh được số tiền 3.000.000 đồng, đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 06/6/2019 chị Đặng Lan Thương có đơn trình báo Công an thành phố Bắc Giang.

Ngày 07/6/2019, Cơ quan điều tra đã xác định hiện trường và thực nghiệm điều tra vụ án. Kết quả, Nguyễn Xuân Hùng đã xác định đúng vị trí và thực hiện lại hành vi trộm cắp tài sản của chị Thương như đã khai tại Cơ quan điều tra.

Quá trình điều tra, anh Nguyễn Sỹ Thanh không thừa nhận mua chiếc xe 98M2-4895 do Hùng đem đến bán. Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Xuân Hùng và anh Nguyễn Sỹ Thanh đối chất nhưng các bên giữ nguyên lời khai. Vì vậy cơ quan điều tra không có căn cứ xác định việc anh Thanh mua chiếc xe 98M2-4895. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang đã thông báo truy tìm vật chứng nhưng chưa thu hồi được.

Tại Kết luận định giá tài sản số 72/KL-HĐĐG ngày 06/6/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bắc Giang kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Superdream, màu sơn nâu, biển kiểm soát 98M2-4895, số máy 0869855, số khung 019707, xe đã qua sử dụng, có trị giá 10.000.000 đồng.

Đến nay, chị Thương yêu cầu Nguyễn Xuân Hùng bồi thường số tiền 10.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 31/3/2019, Hùng đi bộ từ nhà đến khu tập thể Phân Đạm thuộc tổ dân phố 7B, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang để xem ai có sơ hở thì trộm cắp tài sản, khi đi Hùng có mang theo một chiếc chìa khóa xe mô tô. Khi đến khu vực cầu thang 2, nhà A11, Hùng nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn trắng, biển kiểm soát 98F1-087.85 của anh Trịnh Quốc Toản, sinh năm 1992, ở tầng 3, nhà A11, dựng cách chân cầu thang 2 khoảng 03m, đầu xe hướng nhà A11, đuôi xe hướng ra đường, xe không khóa cổ, khóa càng. Sau khi quan sát xung quanh thấy không có ai để ý, Hùng đi đến chiếc xe, lấy chiếc chìa khóa mang theo từ trước cắm vào ổ khóa điện rồi vặn nhiều lần mở được ổ khóa điện, nổ máy và điều khiển xe trộm cắp được bỏ chạy. Hùng khai sau khi trộm cắp được chiếc xe đã đi đến hiệu hiệu cầm đồ Sỹ Thanh của anh Nguyễn Sỹ Thanh, sinh năm 1979 ở thôn Thái Đào, xã Thái Đào, huyện Lạng Giang, tỉnh Bắc Giang cầm cố cho anh Thanh được số tiền 3.000.000 đồng, đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 06/6/2019 anh Trịnh Quốc Toản có trình báo Công an thành phố Bắc Giang. Anh Toản trình bày trong cốp xe 98F1-087.85 có đăng ký xe mang tên Trịnh Thu Uyên, sinh năm 1990 ở thôn Cũ Hồ Nước, xã Nghĩa Phương, huyện Lục Nam, tỉnh Bắc Giang là chị gái anh Toản.

Ngày 07/6/2019, Cơ quan điều tra đã xác định hiện trường và thực nghiệm điều tra vụ án. Kết quả, Nguyễn Xuân Hùng đã xác định đúng vị trí và thực hiện lại hành vi trộm cắp tài sản của anh Toản như đã khai tại Cơ quan điều tra.

Quá trình điều tra, anh Nguyễn Sỹ Thanh không thừa nhận mua chiếc xe 98F1-087.85 do Hùng đem đến bán. Cơ quan điều tra đã cho Nguyễn Xuân Hùng và anh Nguyễn Sỹ Thanh đối chất nhưng các bên giữ nguyên lời khai. Vì vậy cơ quan điều tra không có căn cứ xác định việc anh Thanh mua chiếc xe 98F1-087.85. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bắc Giang đã thông báo truy tìm vật chứng nhưng chưa thu hồi được.

Tại Kết luận định giá tài sản số 73/KL-HĐĐG ngày 06/6/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bắc Giang kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn trắng, biển kiểm soát 98F1-087.85, xe đã qua sử dụng, có trị giá 13.000.000 đồng.

Đến nay anh Toản yêu cầu Nguyễn Xuân Hùng bồi thường số tiền 13.000.000 đồng.

Vụ thứ ba: Khoảng 16 giờ ngày 03/4/2019, Hùng đi bộ đến quán internet đối diện cổng trường Cao đẳng kỹ thuật công nghiệp Bắc Giang để chơi điện tử. Thấy đông người chơi hết chỗ nên Hùng bỏ về. Khi đi qua Nhà A1 Khu tập thể phân đạm, thuộc Tổ 7B, phường Trần Nguyên Hãn, Hùng nhìn thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn đỏ-đen, số khung C6H0FY1059543, số máy 5C6H109547, biển kiểm soát 12U1-059.58 của anh Ngô Văn Đàm, sinh năm 1985 ở phòng 405, nhà A1, khu tập thể Phân Đạm đang dựng ở vỉa hè đường bê tông tiếp giáp mặt trước và cầu thang bộ nhà A1, đầu xe hướng đường ngõ 4, đuôi xe hướng khu dân cư, cách cột điện 2,4m. Thấy chiếc xe không khóa càng, xung quanh không có ai để ý, Hùng nảy sinh ý định trộm cắp chiếc xe. Hùng đi đến chiếc xe, dùng tay phải lấy trong túi quần phía trước bên phải 01 chùm chìa khóa rồi cầm 01 chìa khóa xe Wave cắm vào ổ khóa mở được khóa điện, sau đó điều khiển xe bỏ chạy. Hùng điều khiển xe đi đến hiệu cầm đồ Sỹ Thanh bán cho anh Nguyễn Sỹ Thanh được số tiền 2.800.000 đồng, khi mua bán xe hai bên không viết giấy tờ gì, Hùng không nói cho Thanh biết nguồn gốc xe do trộm cắp mà có. Số tiền này, Hùng khai đã chi tiêu cá nhân hết.

Ngày 18/4/2019, anh Ngô Văn Đàm có đơn trình báo Công an thành phố Bắc Giang.

Ngày 18/4/2019, khi Hùng đang đi tìm tài sản trộm cắp tại khu vực nhà A2, khu tập thể Phân Đạm, thì bị tổ công tác Công an phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang tiến hành kiểm tra hành chính, thu giữ những đồ vật tài sản sau đây: 01 ví da màu đen, đã qua sử dụng; 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Xuân Hùng, 01 vam bằng kim loại hình chữ T, có một đầu nhọn, đã qua sử dụng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu mobistar.

Ngày 19/4/2019, tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân Hùng đã đầu thú, khai nhận hành vi trộm cắp tài sản của anh Đàm như đã nêu trên.

Ngày 19/4/2019, Cơ quan điều tra đã xác định hiện trường, thực nghiệm điều tra vụ án. Kết quả, Nguyễn Xuân Hùng đã thực hiện lại hành vi trộm cắp chiếc xe của anh Đàm như đã khai tại Cơ quan điều tra.

Tại Cơ quan điều tra, anh Thanh khai sau khi mua chiếc xe mô tô biển kiểm soát 12U1-059.58 do Nguyễn Xuân Hùng đem bán, anh Thanh đã bán cho anh Trần Ngọc Đông, sinh năm 1995, trú tại thôn Nam, xã Đồng Việt, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang với giá 5.250.000 đồng. Ngày 20/4/2019, anh Đông điều khiển chiếc xe mô tô trên tham gia giao thông tại thị trấn Neo, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang thì bị tổ tuần tra Đội Cảnh sát giao thông- Công an huyện Yên Dũng kiểm tra và tạm giữ chiếc xe (lúc này chiếc xe gắn biển số 98K1-002.82). Ngày 03/5/2019, Công an huyện Yên Dũng đã bàn giao lại chiếc xe mô tô trên cho Công an thành phố Bắc Giang để điều tra xử lý theo thẩm quyền.

Tại Kết luận định giá tài sản số 45/KL-HĐĐG ngày 23/4/2019, Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Bắc Giang kết luận: 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 12U1-059.98, số khung C6H0FY1059543, số máy 5C6H109547, đã qua sử dụng có giá trị: 10.000.000 đồng.

Ngày 16/5/2019, Cơ quan điều tra đã trả lại cho anh Ngô Văn Đàm chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, số khung C6H0FY1059543, số máy 5C6H109547, đến nay anh Đàm không yêu cầu bồi thường dân sự.

Đối với chiếc biển kiểm soát 98K1- 002.82 gắn trên chiếc xe trên, Nguyễn Xuân Hùng khai khi trộm cắp đem bán cho anh Thanh không nhớ biển số xe, anh Thanh khai khi nhận mua chiếc xe trên và bán lại cho anh Đông thì anh Thanh cũng không nhớ biển số xe. Anh Đông khai khi mua thì chiếc xe đã gắn biển số 98K1- 002.82. Cơ quan điều tra đã tra cứu xác định chủ sở hữu chiếc xe có biển số 98K1- 002.82 là anh Tống Văn Lương sinh năm 1986 trú tại thôn Văn Xá, xã Bích Sơn, huyện Việt Yên. Anh Lương khai biển số xe trên gắn trên chiếc xe đăng ký mang tên Tống Văn Lương. Tháng 3 năm 2019 anh đi làm thì xe bị rơi biển kiểm soát. Đến tháng 4 năm 2019 anh đã bán sắt vụn chiếc xe.

Đối với Nguyễn Sỹ Thanh, Trần Ngọc Đông, khi mua bán chiếc xe do Hùng đem bán không biết là do Hùng trộm cắp mà có nên anh Thanh, anh Đông không phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có. Đến nay anh Trần Ngọc Đông yêu cầu anh Nguyễn Sỹ Thanh hoàn trả số tiền 5.250.000 đồng, anh Thanh không đồng ý trả tiền cho anh Đông và không có yêu cầu Nguyễn Xuân Hùng bồi thường dân sự.

Đối với chiếc chìa khóa xe mô tô sử dụng để trộm cắp 03 xe mô tô trên, Hùng khai đã làm rơi mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Vật chứng còn lại của vụ án: 01 ví da màu đen, đã qua sử dụng; 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Xuân Hùng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu mobistar là tài sản của Hùng không liên quan đến hành vi phạm tội, 01 vam bằng kim loại hình chữ T, có một đầu nhọn, đã qua sử dụng Hùng sử dụng để phá khóa xe, 01 biển kiểm soát 98K1-002.82 đã được nhập kho vật chứng để xử lý theo quy đinh.

Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Xuân Hùng đã khai nhận hành vi phạm tội.

- Cáo trạng số 119/CT - VKS ngày 11/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo Nguyễn Xuân Hùng về tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự.

- Tại phiên toà hôm nay bị cáo Nguyễn Xuân Hùng khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng đã nêu.

- Anh Trịnh Quốc Toản có mặt trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn trắng, biển kiểm soát 98F1-087.85 đăng ký xe mang tên chị gái anh là Trịnh Thị Thu Uyên, chiếc xe trên chị anh cho anh để anh sử dụng hàng ngày trong công việc. Xe không thu hồi được anh yêu cầu bị cáo Hùng phải bồi thường cho anh số tiền 13.000.000 đồng trị giá chiếc xe mô tô trên, ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.

- Anh Trần Ngọc Đông có mặt trình bày: Anh không quen biết gì đối với anh Nguyễn Sỹ Thanh, anh lướt facebook thí mục giao bán hàng vặt, anh hỏi địa chỉ và anh đến nhà anh Thanh mua chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 12U1-059.98 với giá 5.250.000 đồng. Khi mua anh có hỏi giấy tờ xe, anh Thanh có nói sẽ đưa giấy tờ xe cho anh vì vậy anh mới trả anh Thanh 5.000.000 đồng còn 250.000 đồng khi nào xong giấy tờ thì anh trả. Quá trình sử dụng xe anh bị công an huyện Yên Dũng giữ xe, nay chiếc xe trên đã trả lại cho bị hại, anh yêu cầu anh Nguyễn Sỹ Thanh trả lại anh 5.000.000 đồng, ngoài ra anh không có yêu cầu gì khác.

- Anh Tống Văn Lương có mặt trình bày: Biển kiểm soát số 002-82 là của anh, hiện tại xe không còn, đối với BKS trên anh không xin lại đề nghị giải quyết theo quy định.

- Chị Trịnh Thị Thu Uyên có mặt trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn trắng, biển kiểm soát 98F1-087.85 đăng ký xe mang tên chị, chị cho em trai chị là Trịnh Quốc Toản sử dụng, nay xe bị mất không thu hồi được anh Toản có yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá chiếc xe là 13.000.000 đồng, chị nhất trí và không có yêu cầu gì.

- Anh Giáp Tuấn Hùng có mặt trình bày: Anh và anh Nguyễn Sỹ Thanh có quan hệ quen biết ngoài xã hội, anh có đến nhà anh Thanh chơi và được biết anh Thanh cần bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, màu sơn đỏ đen, biển kiểm soát 12U1-059.98, anh có đăng lên facebook để xem có ai mua. Việc anh giao bán xe hộ anh Thanh không được hưởng lợi gì. Anh Đôgn mua chiếc xe trên của anh Thanh như thế nào anh không được biết. Anh không có yêu cầu gì.

- Các Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, Hội đồng xét xử đã công bố những lời khai của bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ vụ án. Bị cáo Nguyễn Xuân Hùng không có ý kiến gì về những lời khai của bị hại và những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

- Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử:

1, Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Hùng phạm tội "Trộm cắp tài sản".

2, Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Hùng từ 03 năm đến 03 năm 06 tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 19/4/2019.

3. Vật chứng của vụ án: Căn cứ khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu tiêu hủy 01 vam bằng kim loại hình chữ T, có một đầu nhọn, đã qua sử dụng và 01 biển kiểm soát 98K1-002.82.

- Trả lại bị với 01 ví da màu đen, đã qua sử dụng; 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Xuân Hùng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu mobistar nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

4. Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

5. Về trách nhiệm dân sự:

- Buộc bị cáo Nguyễn Xuân Hùng phải bồi thường chị chị Đặng Lan Thương số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng); Bồi thường cho anh Trịnh Quốc Toản số tiền 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng).

- Buộc anh Nguyễn Sỹ Thanh phải trả cho anh Trần Ngọc Đông số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

6. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 23, Điều 26 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội: Bị cáo phải chịu án phí HSST và án phí DSST, anh Nguyễn Sỹ Thanh phải chịu án phí DSST theo quy định pháp luật.

Bị cáo không có tranh luận gì với bản luận tội của Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Xét về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Bắc Giang và Điều tra viên, của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thì thấy: Trong quá trình điều tra, truy tố, Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát cũng như Điều tra viên và Kiểm sát viên thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy Hội đồng xét xử xác định các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án là hợp pháp.

Xét về tội danh: Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai của các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Biên bản tiếp nhận người phạm tội đầu thú đã có đủ cơ sở kết luận đã có đủ cơ sở kết luận: Trong khoảng thời gian từ ngày 28/3/2019 đến ngày 03/4/2019, Nguyễn Xuân Hùng thực hiện 03 vụ trộm cắp xe mô tô tại khu tập thể Phân Đạm, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, gồm: Vụ thứ nhất; Khoảng 13 giờ 00 phút ngày 28/3/2019, tại khu vực cầu thang 2, nhà A11, khu tập thể Phân Đạm, thuộc tổ dân phố 7B, phường Trần Nguyên Hãn, thành phố Bắc Giang, Nguyễn Xuân Hùng trộm cắp 01 xe mô tô biển kiểm soát 98M2-4895 nhãn hiệu Honda, loại xe Super Dream, màu sơn nâu trị giá 10.000.000 đồng của chị Đặng Lan Thương.Vụ thứ hai: Khoảng 18 giờ 30 phút ngày 31/3/2019, tại khu vực cầu thang 2, nhà A11, khu tập thể Phân Đạm, Nguyễn Xuân Hùng trộm cắp 01 xe mô tô biển kiểm soát 98F1-087.85, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn trắng, trị giá 13.000.000 đồng của anh Trịnh Quốc Toản. Vụ thứ ba: Khoảng 16 giờ 00 phút ngày 03/4/2019, tại khu vực cầu thang bộ nhà A1, Khu tập thể Phân Đạm, Nguyễn Xuân Hùng trộm cắp 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu sơn đỏ-đen, biển kiểm soát 12U1-059.58, trị giá 10.000.000 đồng. Tổng trị giá tài sản Nguyễn Xuân Hùng trộm cắp 03 vụ là 33.000.000 đồng.

Do bị cáo có hai tiền án đều chưa được xóa án tích, lần phạm tội này là tái phạm nguy hiểm nên đã phạm tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang truy tố bị cáo về tội danh và điều khoản trên là có căn cứ và đúng pháp luật.

Xét về tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo thì thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản được pháp luật bảo vệ. Bị cáo thực hiện hành vi một cách táo bạo và liều lĩnh. Do vậy cần phải xử nghiêm bị cáo bằng pháp luật hình sự mới đảm bảo tính giáo dục riêng và phòng ngừa chung đối với loại tội này.

Xét về nhân thân bị cáo thì thấy: Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng một lần bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở chữa bệnh và hai lần bị xét xử về hình sự về các tội phạm về ma túy.

Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Tại Cơ quan điều tra và tại phiên toà hôm nay, bị cáo khai báo thành khẩn và tỏ ra ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, bị cáo đã tự đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự qui định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

Xét các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy: Bị cáo ba lần phạm tội, do vậy bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng phạm tội nhiều lần theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, do vậy không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Đối với Nguyễn Sỹ Thanh, Giáp Tuấn Hùng, Trần Ngọc Đông, khi mua bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS do Hùng đem bán không biết là do Hùng trộm cắp mà có nên anh Thanh, anh Giáp Tuấn Hùng, anh Đông không phạm tội tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

Đối với 01 xe mô tô biển kiểm soát 98M2-4895 nhãn hiệu Honda, loại xe Super Dream, màu sơn nâu và 01 xe mô tô biển kiểm soát 98F1-087.85, nhãn hiệu Honda, loại xe Wave, màu sơn trắng bị cáo khai bán cho anh Nguyễn Sỹ Thanh nhưng anh Thanh không thừa nhận mua hai chiếc xe này của bị cáo nên không có căn cứ điều tra xử lý. Hiện nay 2 chiếc xe này vẫn chưa thu hồi được.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, số khung C6H0FY1059543, số máy 5C6H109547 đã được trả lại cho bị hại là anh Ngô Văn Đàm ngày 16/5/2019, đến nay anh Đàm không yêu cầu bồi thường dân sự.

Đối với chiếc chìa khóa xe mô tô sử dụng để trộm cắp 03 xe mô tô trên, Hùng khai đã làm rơi mất nên Cơ quan điều tra không thu giữ được.

Về trách nhiệm dân sự:

Chị Đặng Lan Thương và anh Trịnh Quốc Toản yêu cầu bị cáo Hùng phải bồi thường trị giá chiếc xe bị mất thì thấy: Sau khi trộm cắp được xe mô tô bị cáo Hùng đã đem đi cầm cố cho anh Thanh được số tiền 6.000.000 đồng đối với hai xe mô tô, số tiền này bị cáo đã ăn tiêu cá nhân hết, nay chiếc xe không thu hồi được. Mặt khác, chiếc xe mô tô là tài sản chung của chị Thương và anh Cương. Do vậy, cần buộc bị cáo phải bồi thường trả cho chị Thương và anh Cương số tiền 10.000.000 đồng và bồi thường cho anh Toản số tiền 13.000.000 đồng là phù hợp với quy định tại Điều 48 và Điều 589 Bộ luật dân sự.

Anh Trần Ngọc Đông yêu cầu anh Nguyễn Sỹ Thanh phải trả số tiền 5.000.000 đồng thì thấy: Anh Trần Ngọc Đông mua xe của anh Nguyễn Sỹ Thanh, khi mua anh Đông không biết là tài sản do phạm tội mà có, chiếc xe anh Đông mua của anh Thanh đã trả lại cho bị hại là anh Đàm. Do vậy, cần buộc anh Nguyễn Sỹ Thanh phải trả lại cho anh Trần Ngọc Đông số tiền 5.000.000 đồng.

Đối với số tiền anh Nguyễn Sỹ Thanh nhận gắm cắm xe của bị cáo Hùng, do anh Thanh không yêu cầu bị cáo Hùng bồi thường về dân sự nên không đặt ra xem xét giải quyết. Nếu sau này anh Thanh yêu cầu bị cáo Hùng bồi thường về dân sự sẽ được giải quyết trong vụ án dân sự khác.

Về vật chứng của vụ án:

Đối với 01 ví da màu đen, đã qua sử dụng; 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Xuân Hùng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu mobistar là tài sản của bị cáo Hùng, không liên quan gì đến hành vi phạm tội của bị cáo, do vậy, cần trả lại cho bị cáo là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Đối với 01 vam bằng kim loại hình chữ T, có một đầu nhọn, đã qua sử dụng là công cụ phương tiện phạm tội của bị cáo cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự và điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

Đối với 01 biển kiểm soát 98K1-002.82 ký mang tên Tống Văn Lương, anh Lương xác định biển kiểm soát không còn giá trị sử dụng cần tịch thu tiêu hủy là phù hợp với điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự..

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày để đảm bảo thi hành án theo quy định tại Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm, anh Nguyễn Sỹ Thanh phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a, điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQD14 ngày 30/12/2016 củaỦy ban thường vụ Quốc hội.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân Hùng (tức Nguyễn Mạnh Hùng) phạm tội "Trộm cắp tài sản".

2. Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173, điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự.

3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân Hùng (tức Nguyễn Mạnh Hùng) 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù, thời gian tù tính từ ngày 19/4/2019.

4. Trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 589 Bộ luật dân sự.

4.1. Buộc bị cáo Nguyễn Xuân Hùng (tức Nguyễn Mạnh Hùng) phải bồi thường chị Đặng Lan Thương và anh Hồ Minh Cương số tiền 10.000.000 đồng (Mười triệu đồng); Bồi thường cho anh Trịnh Quốc Toản số tiền 13.000.000 đồng (Mười ba triệu đồng).

4.2. Buộc anh Nguyễn Sỹ Thanh phải trả cho anh Trần Ngọc Đông số tiền 5.000.000 đồng (Năm triệu đồng).

5. Vật chứng của vụ án: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự; khoản 2, khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

5.1. Tịch thu tiêu hủy 01 vam bằng kim loại hình chữ T, có một đầu nhọn, đã qua sử dụng và 01 biển kiểm soát 98K1-002.82.

5.2. Trả lại bị với 01 ví da màu đen, đã qua sử dụng; 01 thẻ bảo hiểm y tế mang tên Nguyễn Xuân Hùng, 01 điện thoại di động nhãn hiệu mobistar nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

(Vật chứng của vụ án được chuyển giao cho Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bắc Giang theo Quyết định chuyển vật chứng số 103/QĐ- VKS ngày 11/7/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bắc Giang).

6. Án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự. Điều 23, Điều 26 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

6.1. Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí HSST và 1.150.000 đồng án phí DSST.

6.2. Anh Nguyễn Sỹ Thanh phải chịu 250.000 đồng án phí DSST.

7. Nghĩa vụ chậm thi hành án: Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự.

8. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

9. Hướng dẫn thi hành án dân sự: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2- Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6; 7; 7a; 7b và 9 - Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 - Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ