- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Quốc T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? [1] - Áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
- Căn cứ chính? Điều 138 Bộ luật Hình sự; Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 41 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 121/2017/HS-PT Ngày : 17-8-2017 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thanh Hòa
Các Thẩm phán:
1. Ông Ngô Dũng
2. Bà Thái Thị Huyền Trân
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Ngọc Loan - Thư ký tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Thành Năng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 8 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh An Giang mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 115/2017/HSPT ngày 13/7/2017 đối với bị cáo Nguyễn Quốc T do có kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc T đối với bản án hình sự sơ thẩm số 10/2017/HSST ngày 02/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh An Giang.
Bị cáo có kháng cáo:
Nguyễn Quốc T, sinh năm 1980; Sinh quán: xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; Nơi ĐKHKTT: p B, xã V, huyện V, tỉnh Kiên Giang; Ch ở: p L, xã T, huyện C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: không biết chữ; Con ông Nguyễn Quốc H, sinh năm 1961 và bà ữ Thị Kim M Chết ; Có v là Nguyễn Thị Bạch L không đăng ký kết hôn , sinh năm 1980, có 01 con sinh năm 2017; Gia đình bị cáo có 07 anh, em bị cáo là ngư i th 04 trong gia đình .
- Tiền sự: Chưa.
- Tiền án: 01 tiền án, Ngày 19-11-2013, bị Tòa án nhân huyện H, tỉnh Kiên Giang xử phạt 01 năm 06 tháng t về tội trộm c p tài sản, ch p hành xong ngày 18-12-2014.
Bị tạm giam từ ngày 12-02-2017 đến nay, bị cáo có m t.
Trong vụ án, những ngư i tham gia tố tụng khác không có kháng cáo .
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện T và bản án hình sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân huyện T thì nội dung vụ án đư c tóm t t như sau:
Khoảng 06 gi ngày 12-02-2017, bị cáo uống cà phê c ng hai ngư i tên Đ1 và tên Đ2 tại khu vực phư ng V, thành phố CĐ, Đ1 rủ đi trộm xe mô tô, T và Đ2 đ ng ý. Đ1 chở Đ2 còn T chạy xe của Đ2, khoảng 08 gi đến khu vực p V, xã L, huyện T, Đ1 phát hiện xe mô tô biển số 67K5-9961 của anh V Văn N để ph a bên phải nhà ông Nguyễn Văn không có ngư i trông giữ, T d ng đoản mở khóa xe nhưng không đư c nên báo với Đ1, Đ1 vào mở đư c khóa và l y xe chạy về thành phố CĐ gửi xe tại tiệm rửa xe. au đó, T rủ Huỳnh Văn M đem xe đi bán, cả hai đem xe đến tiệm sửa xe Th” gạ bán cho chị Nguyễn Thị Thúy L giá 3.000.000 đ ng. Vụ việc bị phát hiện T bị b t, ngày 21-02-2017 T bị khởi tố, tạm giam để điều tra.
Căn c kết luận định giá tài sản số 07 ngày 15-02-2017 của Hội đ ng định giá trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận : 01 xe mô tô Wave màu xanh trị giá 2.900.000 đ ng.
Tại bản cáo trạng số 10/VKS-HS ngày 09 tháng 4 năm 2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện T đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc T về tội Trộm c p tài sản” theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 10/2017/HSST ngày 02/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện T đã:
Áp dụng: khoản 1 Điều 138; điểm p khoản 1 Điều 46; điểm g khoản 1 Điều 48 ; Điều 41 Bộ luật hình sự.
Xử phạt : bị cáo Nguyễn Quốc T 02 (hai) năm 06 sáu tháng t về tội Trộm c p tài sản”. Th i hạn ch p hành hình phạt t t nh từ ngày bị b t tạm giam 12-02-2017 (ngày mư i hai, tháng hai, năm hai nghìn không trăm mư i bảy .
Duy trì thông báo tìm chủ sở hữu số 64 CQĐT ngày 12-3-2017 của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện T đối với xe mô tô Honda AI BLEDE màu đ đen, số khung LHJF4608D 272708, số máy JF46E-4133553 đến hết ngày 12-3-2018, nếu hết th i hạn trên mà v n không tìm đư c chủ sở hữu thì tịch thu sung qu .
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật ch ng; án phí hình sự sơ thẩm và quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 05/6/2017, bị cáo Nguyễn Quốc T có đơn kháng cáo xin đư c giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm: Bị cáo Nguyễn Quốc T v n giữ nguyên nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Kiểm sát viên thực hiện quyền công tố Nhà nước tại phiên tòa phát biểu quan điểm về vụ án và đề xuất với Hội đồng xét xử:
- Về t nh h p pháp của đơn kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Quốc T kháng cáo trong hạn luật định nên đề nghị Hội đ ng xét xử phúc thẩm ch p nhận việc kháng cáo để xem xét, giải quyết theo trình tự phúc thẩm.
- Về nội dung: c p sơ thẩm xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 02 năm 06 tháng t về tội Trộm c p tài sản” là có căn c , đúng pháp luật. Bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt; nhưng tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không cung c p tình tiết giảm nhẹ nào mới so với những gì mà án sơ thẩm đã xem xét, nên đề nghị áp dụng điểm a Khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003 để giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
L i khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Quốc T tại phiên tòa phúc thẩm hôm nay hoàn toàn ph h p với l i khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, ph h p với l i khai của ngư i bị hại, ngư i có quyền l i và nghĩa vụ liên quan, ngư i làm ch ng và các ch ng c khác trong h sơ vụ án. Có đầy đủ căn c xác định: khoảng 08 gi ngày 12/02/2017, tại khu vực p Vĩnh H, xã Lạc Q, huyện T, Nguyễn Quốc T đã có hành vi lén lút chiếm đoạt xe mô tô biển số 67K5-9961 của anh V Văn N.
Theo kết luận định giá tài sản số 07 ngày 15-02-2017 của Hội đ ng định giá trong Tố tụng hình sự huyện T kết luận: 01 chiếc xe mô tô, biển số 67K5-9961, loại xe Wave, màu xanh trị giá 2.900.000 đ ng.
Căn c quy định của pháp luật thì hành vi nêu trên của bị cáo Nguyễn Quốc T đã phạm vào tội Trộm c p tài sản”. C p sơ thẩm xét xử bị cáo về tội danh này theo khoản 1 Điều 138 Bộ luật Hình sự là có căn c , đúng pháp luật.
ét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc T, Hội đ ng xét xử nhận th y: bị cáo là ngư i đã trưởng thành, có s c kh e, không bị như c điểm về thể ch t l n tinh thần; bản thân bị cáo đã có một tiền án về tội Trộm c p tài sản” chưa đư c xóa án t ch; Lẽ ra bị cáo phải biết rèn luyện, tu dưỡng bản thân để trở thành một công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội. Không làm đư c việc tốt mà ngư c lại; với bản ch t tham lam, lư i lao động nhưng lại muốn có nhiều tiền để tiêu xài mà không phải tốn nhiều công s c lao động cực nhọc, nên bị cáo b t ch p t t cả pháp luật; bị cáo nhận th c đư c hành vi Trộm c p tài sản” của ngư i khác là vi phạm pháp luật; Nhưng bị cáo v n cố tình thực hiện. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội; đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu h p pháp về tài sản của ngư i bị hại luôn pháp luật bảo vệ; gây m t trực tự trị an tại địa phương, gây dư luận x u trong xã hội và gây b t bình trong quần chúng nhân dân; Vì vậy, đối với bị cáo cần thiết phải xét xử một m c án nghiêm, mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.
C p sơ thẩm đã đánh giá đúng t nh ch t của vụ án và khi lư ng hình đã xem xét toàn diện vụ án; Áp dụng đầy đủ các tình tiết tăng n ng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nên đã xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc T 02 năm 06 tháng tù về tội Trộm c p tài sản” là th a đáng, tương x ng với t nh ch t, m c độ và hành vi phạm tội của bị cáo, không phải là m c án n ng như bị cáo trình bày. M t khác, bị cáo kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung c p đư c tình tiết giảm nhẹ nào mới so với những gì mà án sơ thẩm đã xem xét nên cần giữ nguyên bản án sơ thẩm như đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa.
Do kháng cáo không đư c ch p nhận nên bị cáo Nguyễn Quốc T phải chịu tiền án ph hình sự phúc thẩm theo quy định của pháp luật.
Các phần quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
[1] - Áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 248 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003.
+ Không ch p nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Quốc T và giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm.
[2] - Áp dụng: khoản 1, Điều 138; điểm p, khoản 1, Điều 46; điểm g, khoản 1, Điều 48 ; Điều 41 Bộ luật Hình sự (đư c sửa đổi bổ sung năm 2009 .
+ ử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội Trộm c p tài sản”.
Th i hạn ch p hành hình phạt tù của bị cáo đư c t nh kể từ ngày b t tạm giam 12 02 2017.
[3] - Về án ph : Áp dụng Điều 98, Khoản 2 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2003; Luật ph và lệ ph năm 2015; Nghị Quyết 326 2016 UBTVQH14 ngày 30 12 2016 của Ủy ban thư ng vụ Quốc hội quy định về m c thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph và lệ ph Tòa án;
+ Bị cáo Nguyễn Quốc T phải chịu 200.000 hai trăm nghìn) đ ng tiền án ph hình sự phúc thẩm.
[4] - Các Quyết định khác trong Bản án hình sự sơ thẩm số: 10/2017/HSST ngày 02/6/2017 của Tòa án nhân dân huyện T, tỉnh An Giang không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết th i hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND Tối Cao (1); - VKSND tỉnh An Giang (2); - VKSND huyện T (1); - TAND huyện T (2); - Công an huyện T (1); - Chi cục THAD huyện T(1); - Trại tạm giam (1); Bị cáo 1 ; - Phòng KTNV (1); - Tòa hình sự (1); - PV 27 (1); - ở Tư pháp (1); - Văn phòng (2); Lưu HS. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thanh Hòa |