vanban.org

Bản án 120/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích N phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích N 1.250.000.000 đồng (một tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng). Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Bích Ngọc - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích N phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LONG THÀNH
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 120/2025/HS-ST.
Ngày: 18-6-2025.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG THÀNH, TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Ngọc An.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Ba.

2. Ông Nguyễn Ngọc Duy.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Anh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Thành.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Huyền – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 116/2025/TLST-HS ngày 15 tháng 5 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2025/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2025 đối với bị cáo:

Nguyễn Thị Bích N, sinh năm 1989 tại tỉnh Lâm Đồng.

Nơi đăng ký thường trú: Tổ B, Ấp A, xã L, huyện T, tỉnh Đồng Nai.

Nơi sinh sống: Tổ A, ấp S, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Nghề nghiệp: buôn bán; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Bá H, sinh năm 1961 và bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1966, Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 03 chị em và chưa có chồng con.

- Tiền án, tiền sự: Không.

- Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 10/12/2024, chuyển tạm giam ngày 19/12/2024 đến ngày 09/01/2025 được hủy bỏ biện pháp tạm giam.

Bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Người làm chứng: Ông Nguyễn Văn H2, sinh năm 1972.

Địa chỉ: Tổ A, Ấp S, xã C, huyện L, tỉnh Đồng Nai (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng tháng 11/2024, do cần tiền tiêu xài cá nhân nên Nguyễn Thị Bích N nảy sinh ý định mua pháo hoa nổ về bán lại cho những người có nhu cầu để kiếm lời. N liên hệ với 01 người đàn ông tên N1 (không rõ nhân thân lai lịch) để hỏi mua pháo nổ thì N1 giới thiệu cho N người đàn ông có tài khoản zalo tên “Abcd”. Sau đó N sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 13 Pro Max màu vàng nhắn tin qua ứng dụng zalo mua 55 hộp pháo nổ (loại 49 ống) với giá 650.000 đồng/01 hộp, đồng thời N gửi vị trí nhà N ở Tổ A, ấp S, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai để giao pháo. Đến khoảng 20 giờ ngày 29/11/2024, có 01 người đàn ông không rõ đặc điểm, họ tên nhân thân lai lịch điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Inova màu bạc, loại xe 07 chỗ (không rõ biển số) đến nhà N ở địa chỉ nêu trên giao cho N 04 thùng carton chứa 55 hộp pháo hình chữ nhật đều có kích thước 17cm x17cmx10cm có dòng chữ KS4-4911 và chữ nước ngoài. Trong đó có 03 thùng chứa 14 hộp pháo và 01 thùng chứa 13 hộp pháo. Mỗi hộp pháo có 49 ống giấy hình trụ tròn có gắn dây cháy chậm. Sau khi giao 55 hộp pháo nêu trên, N đưa cho người đàn ông này số tiền 35.750.000 đồng rồi N cất giấu số pháo trên tại gầm cầu thang trong phòng khách của nhà N. Ngày 08/12/2024 N bán 03 hộp pháo cho Nguyễn Văn H2 với giá 800.000 đồng/01 hộp, H2 trả cho N tổng số tiền 2.400.000 đồng bằng hình thức chuyển khoản đến số tài khoản ngân hàng MB 3939283456789 của N vào ngày 19/12/2024. Đến 17 giờ ngày 10/12/2024, N lấy 04 hộp pháo nổ để trong 01 túi nylong màu đen rồi điều khiển xe đạp điện nhãn hiệu Sonsubike màu xanh đen chở 04 hộp pháo nêu trên đến cửa hàng “Bún chả Hà Nội” do N làm chủ có địa chỉ ở khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai. N cất giấu tại khu vực bếp ăn của quán với mục đích bán lại cho các khách hàng ở khu vực thị trấn L. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an thị trấn L tiến hành kiểm tra hành chính quán “Bún chả Hà Nội” đã phát hiện 04 hộp pháo nổ nêu trên. Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà của N ở địa chỉ Tổ A ấp S, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, lực lượng công an huyện L phát hiện thu giữ 48 hộp pháo nổ do N mua về chưa kịp bán lại. Đến ngày 17/12/2024, Nguyễn Văn H2 đến Công an huyện L làm việc và tự nguyện giao nộp 03 hộp pháo đã mua của N vào ngày 08/12/2024.

Tại bản Kết luận giám định số 7610/KL-KTHS ngày 17/12/2024 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 52 khối hình chữ nhật, kích thước 17cmx17cmx10cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc ghi chữ KS4-4911, bên trong mỗi khối có 49 ống giấy hình trụ tròn gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Khối lượng là 78,7kg.

Tại bản Kết luận giám định số 153/KL-KTHS ngày 15/01/2025 của Phân Viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: 03 khối hình hộp chữ nhật, kích thước 17cmx17cmx10cm bên ngoài bọc giấy nhiều màu sắc có in dòng chữ KS4-4911, bên trong mỗi khối có 49 ống gửi giám định là pháo nổ (pháo hoa nổ). Khi đốt bay lên cao, nổ và phát ra ánh sáng màu. Khối lượng là 4,5kg.

Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật và xử lý vật chứng:

- Toàn bộ số pháo thu giữ, sau khi giám định hoàn trong 05 thùng giấy được niêm phong.

- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Max màu vàng, có gắn sim số 0934.962.946, số Imei: 35651441208474 và 01 (một) xe đạp điện hiệu Sonsubike màu xanh đen tạm giữ của bị cáo Nguyễn Thị Bích N sử dụng vào việc phạm tội.

- Số tiền 2.400.000 đồng có được từ việc bán 03 hộp pháo nổ cho Nguyễn Văn H2 do gia đình bị cáo Nguyễn Thị Bích N giao nộp (trong đó có 450.000 đồng tiền thu lợi bất chính).

Trước Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L bị cáo Nguyễn Thị Bích N đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như nêu trên phù hợp với biên bản phạm tội quả tang cùng các vật chứng, chứng cứ, tài liệu đã được thu thập đúng trình tự pháp luật có tại hồ sơ vụ án.

Tại bản cáo trạng số 121/CT-VKSLT ngày 07 tháng 5 năm 2025, Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị Bích N về tội “ Buôn bán hàng cấm” theo điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành giữ nguyên quyết định truy tố, xém xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có, về tình tiết giảm nhẹ: trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính. Trong thời gian tại ngoại chấp hành đúng quy định pháp luật, phạm tội lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự, có việc làm ổn định, xét hoàn cảnh gia đình và kinh tế, xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình phạt tiền cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung. Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm g khoản 2 Điều 190 tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích N phạm tội “Buôn bán hàng cấm”. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 190; Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2, Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích N số tiền 1.000.000.000 đồng đến 1.500.000.000 đồng về tội “Buôn bán hàng cấm”.

Về xử lý vật chứng:

Áp dụng Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017):

- Đề nghị tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo thu giữ, sau khi giám định hoàn trong 05 thùng giấy được niêm phong.

- Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Max màu vàng và 01 xe đạp điện hiệu Sonsubike màu xanh đen tạm giữ do Nguyễn Thị Bích N sử dụng vào việc phạm tội.

Đề nghị tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 2.400.000 đồng có được từ việc bán 03 hộp pháo nổ cho Nguyễn Văn H2 do gia đình bị cáo Nguyễn Thị Bích N giao nộp (trong đó có 450.000 đồng tiền thu lợi bất chính).

Đối với người đàn ông tên N1 có hành vi giúp N mua pháo nổ và người đàn ông có tài khoản zalo tên “abcd” có hành vi bán pháo nổ cho N và người đàn ông giao pháo nổ cho N đều chưa rõ họ, tên, nhân thân, lai lịch; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.

Đối với Nguyễn Văn H2 có hành vi tàng trữ 4,5 kg pháo nổ với mục đích để sử dụng, không đủ căn cứ để khởi tố H2 về tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cơ quan điều tra đã chuyển hồ sơ đến Cơ quan có thẩm quyền để xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện các chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về chứng cứ xác định có tội, chứng cứ xác định không có tội: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các chứng cứ khác có tại hồ sơ vụ án. Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị Bích N khai nhận: Vào khoảng tháng 11/2024, bị cáo N nảy sinh ý định mua pháo nổ về bán lại cho những người có nhu cầu để kiếm lời nên đã liên lạc với người đàn ông không rõ nhân thân lai lịch có tài khoản zalo tên “Abcd” để mua 55 hộp pháo hoa nổ (loại 49 ống pháo) với giá 650.000 đồng/01 hộp với tổng số tiền 35.750.000 đồng. Đến ngày 29/11/2024, 01 người đàn ông không rõ đặc điểm, nhân thân lai lịch điều khiển xe ô tô nhãn hiệu Inova màu bạc (loại xe 07 chỗ) không rõ biển số đến nhà của N ở Tổ A ấp S, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai để giao số pháo trên. Ngày 08/12/2024 N bán 03 hộp pháo cho Nguyễn Văn H2 với giá 800.000 đồng/01 hộp, với tổng số tiền 2.400.000 đồng. Đến ngày 17 giờ ngày 10/12/2024, N mang 04 hộp pháo nổ từ nhà N đến cửa hàng “Bún chả Hà Nội” do N làm chủ có địa chỉ ở khu P, thị trấn L, huyện L, tỉnh Đồng Nai cất giấu ở khu vực bếp ăn của cửa hàng với mục đích bán lại cho các khách hàng ở khu vực thị trấn L. Đến 17 giờ 30 phút cùng ngày, lực lượng Công an thị trấn L tiến hành kiểm tra hành chính quán “Bún chả Hà Nội” đã phát hiện 04 hộp pháo nổ nêu trên. Tiến hành khám xét khẩn cấp tại nhà của N ở địa chỉ Tổ A ấp S, xã L, huyện L, tỉnh Đồng Nai, lực lượng Công an huyện L phát hiện thu giữ 48 hộp pháo nổ do N mua về chưa kịp bán lại. Tổng khối lượng pháo nổ N mua về được xác định là 83,2 kg. Tổng số tiền N thu lợi từ việc bán pháo là 450.000 đồng.

Do đó, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Nguyễn Thị Bích N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm g khoản 2 Điều 190 Bộ luật Hình sự 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) nên cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành đã truy tố bị cáo N là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

Về tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, gây nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trật tự quản lý kinh tế, cụ thể là trong lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, thương mại đối với các loại hàng hóa mà Nhà nước cấm kinh doanh, đồng thời còn là nguyên nhân gây ảnh hưởng tiêu cực đến sức khỏe cộng đồng. Bị cáo nhận thức được hành vi buôn bán pháo nổ là vi phạm pháp luật sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự nhưng vì hám lợi, bị cáo vẫn bất chấp để thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử có xem xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và tự nguyện nộp lại số tiền thu lợi bất chính nên xem xét áp dụng điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017) giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Xét thấy bị cáo khi bị bắt, số tiền bị cáo thu lợi bất chính ít và 450.000 đồng này bị cáo đã tự nguyện giao nộp lại; bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, trong thời gian tại ngoại không vi phạm pháp luật. Do đó, không cần thiết áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo mà chỉ cần áp dụng hình phạt tiền là hình phạt chính cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe bị cáo và phòng ngừa chung, đồng thời thể hiện tính nhân đạo của pháp luật và làm nguồn thu cho ngân sách nhà nước.

Vật chứng vụ án:

Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo thu giữ sau khi giám định hoàn trong thùng giấy được niêm phong.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Max màu vàng và 01 xe đạp điện hiệu Sonsubike màu xanh đen tạm giữ do bị cáo N sử dụng vào việc phạm tội cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.

Tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 2.400.000 đồng có được từ việc bán 03 hộp pháo nổ cho Nguyễn Văn H2 được giao nộp, trong đó có 450.000 đồng tiền thu lợi bất chính.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Về vấn đề khác:

Đối với người đàn ông tên N1 có hành vi giúp N mua pháo nổ và người đàn ông có tài khoản zalo tên “abcd” có hành vi bán pháo nổ cho N và người đàn ông giao pháo nổ cho N đều chưa rõ họ, tên, nhân thân, lai lịch; Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh Đ tiếp tục điều tra xác minh xử lý sau.

Đối với Nguyễn Văn H2 có hành vi tàng trữ 4,5kg pháo nổ với mục đích để sử dụng, không đủ căn cứ để khởi tố H2 về tội “Tàng trữ hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Cơ quan điều tra chuyển hồ sơ đến Cơ quan có thẩm quyền và đã xử phạt vi phạm hành chính theo quy định.

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện L, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đều hợp pháp, đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 190; Điều 35; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Bích N phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Bích N 1.250.000.000 đồng (một tỷ hai trăm năm mươi triệu đồng).

Về biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tuyên tịch thu sung ngân sách Nhà nước số tiền 2.400.000 đồng theo giấy nộp tiền mặt ngày 12/5/2025 tại Ngân hàng TMCP Đ – Chi nhánh Đ1 do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L nộp vào tài khoản Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành, tỉnh Đồng Nai tại Kho bạc Nhà nước huyện L, tỉnh Đồng Nai.

Tuyên tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Iphone 13 Pro Max màu vàng và 01 xe đạp điện hiệu Sonsubike màu xanh đen.

Các vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Thành đang tạm giữ theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản ngày 15/5/2025.

Tuyên tịch thu tiêu hủy toàn bộ số pháo thu giữ sau khi giám định hoàn trong 05 thùng giấy được niêm phong dấu tròn C09B ngày 11/12/2024 và ngày 08/01/2025.

Theo lệnh nhập kho ngày 26/5/2025, thực hiện ngày 02/6/2025 của Phòng Hậu cần kỹ thuật Bộ Chỉ huy Quân sự tỉnh Đ.

Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Bích N phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ