- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Viết S cùng đồng phạm - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC QUÂN KHU 7 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2025/HS-ST Ngày 21/8/2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC QUÂN KHU 7
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: 2// Bùi Nguyên Hải.
Các Hội thẩm quân nhân:2// Nguyễn Xuân Hướng; 4/ Trần Ngọc Quý.
- Thư ký phiên tòa: 2/ Trần Văn Minh, Thư ký Tòa án quân sự khu vực Quân khu 7.
- Đại diện Viện kiểm sát quân sự Khu vực 71 tham gia phiên tòa: 2// Phạm Minh Trường, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 8 năm 2025, tại Phòng xử án, Tòa án quân sự khu vực Quân khu G xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2025/TLST-HS ngày 26/6/2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11/2025/QĐXXST-HS ngày 08/8/2025 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Viết S; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 20 tháng 7 năm 1993 tại Nghệ An; Cấp bậc, chức vụ, đơn vị khi phạm tội: Trung úy QNCN, Y sĩ, Tiểu đoàn I, Lữ đoàn 87, Binh chủng Hóa học; Nơi tạm trú: phường H, Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ cũ: Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh); số định danh cá nhân: 040093018076; Trình độ học vấn: Lớp 12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết Đ và bà Thái Thị N; bị cáo có vợ là Trần Thị Hương S1, có 01 con sinh năm 2020; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không có án tích, không bị xử phạt vi phạm hành chính và xử lý kỷ luật lần nào; bị cấm đi khỏi nơi cư trú tại Tiểu đoàn I, Lữ đoàn 87, Binh chủng Hóa học từ ngày 05/3/2025 đến nay; có mặt.
2. Võ Anh K; Tên gọi khác: Không; sinh ngày 13 tháng 3 năm 1979 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: 616/11/9 L, Khu phố B, phường A, Thành phố Hồ Chí Minh (địa chỉ cũ: 616/11/9 L, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh); Nghề nghiệp: Thợ sửa chữa xe máy; số định danh cá nhân: 079079012579; Trình độ học vấn: Lớp 5; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn K1 (đã chết) và bà Tô Thị L; bị cáo có 01 con sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 12/01/2005, bị Toà án nhân dân quận Gò Vấp, TP.HCM xử phạt một năm ba tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách hai năm sáu tháng tính từ ngày tuyên án về tội Đánh bạc theo Bản án số 06/2005/HSST, đã chấp hành xong bản án và được xoá án tích. Ngày 14/8/2019, bị Ủy ban nhân dân Phường A, quận G, TP.HCM xử phạt áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn 03 tháng kể từ ngày 02/8/2019, hình thức cai nghiện, điều trị tại nhà về hành vi sử dụng trái phép chất ma tuý theo Quyết định số 977/QĐ-UBND, đã chấp hành xong quyết định xử phạt hành chính và được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính; bị cấm đi khỏi nơi cư trú tại Phường A, quận G, TP.HCM từ ngày 17/4/2025 đến nay; có mặt.
- Người làm chứng:
1. Nguyễn Thị Kim P; có mặt.
2. Trần Thị Hương S1; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Viết S và Võ Anh K quen nhau từ khoảng tháng 12/2023 do cùng chơi bóng chuyền tại sân bóng chuyền M, quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng đầu tháng 01/2025, một tài khoản zalo tên “D” (không rõ lai lịch) liên hệ với S qua zalo để hỏi mua pháo hoa nổ. S gọi cho Võ Anh K (qua tài khoản zalo tên “Voanh”) để hỏi mua pháo hoa nổ nhưng K trả lời không có nên S báo lại với D là không có pháo hoa nổ. Ngày hôm sau, khi đi chơi bóng chuyền tại sân N (phường T, Quận A), K được một người đàn ông không rõ lai lịch giới thiệu có bán pháo hoa nổ loại 49 ống phóng của Thái Lan với giá 1.100.000 đồng/giàn. K báo lại cho S, và S sau đó báo với D có pháo hoa nổ, giá 1.500.000 đồng/giàn.
Ngày 07/01/2025, D liên hệ đặt mua 05 giàn pháo hoa nổ từ S với giá thỏa thuận 1.400.000 đồng/giàn. Khoảng 16 giờ 00 phút, S gọi điện qua Z nhờ K mua giúp 10 giàn pháo hoa nổ. K biết S mua để bán kiếm lời (vì số lượng lớn) nhưng vẫn đồng ý mua giúp vì quý mến S. K đặt mua 10 giàn pháo từ một người đàn ông không rõ lai lịch và yêu cầu giao đến nhà mình ở địa chỉ 6 L, Phường A, quận G. Khoảng 19 giờ 00 phút cùng ngày, người bán mang đến 02 bịch ni lông đen đến nhà K nói là chứa 07 giàn pháo hoa nổ, 03 giàn còn lại sẽ giao sau. K mở một bịch ni lông ra kiểm tra thấy đúng là loại pháo hoa nổ mình đặt mua thì buộc lại, không kiểm tra số lượng và gọi trao đổi với S, đồng thời hẹn người bán giao 03 giàn pháo hoa nổ còn lại lúc 21 giờ 45 phút tại ngã ba T - TA20, phường T, Quận A, TP.HCM.
Khoảng 21 giờ 20, K chở Nguyễn Thị Kim P (người sống với K như vợ chồng) đi dạo và tiện mang theo 02 bịch ni lông màu đen đựng 07 giàn pháo hoa nổ giao cho S tại hẻm F đường T phường T, quận A, TP.HCM. P không biết việc K mang theo pháo hoa nổ đến giao cho S. Khi nhận được pháo hoa nổ, S mở 01 bịch ni lông ra nhưng không kiểm tra chi tiết số lượng mà chỉ kiểm tra thấy đúng là loại pháo hoa nổ đã đặt thì chuyển khoản cho K số tiền 7.700.000 đồng vào tài khoản số 060100650196 Ngân hàng S2 của Nguyễn Thị Kim P. Sau đó, K đi ra điểm hẹn nhận thêm 01 bịch ni lông đựng 03 giàn pháo hoa nổ do người đàn ông đã bán pháo hoa nổ cho K mang đến rồi mang vào đưa cho S và nhận của S số tiền 3.300.000 đồng chuyển khoản vào số tài khoản 060100650196 của Nguyễn Thị Kim P. Ngày 08/01/2025, K nhận 11.000.000 đồng tiền mặt từ P và thanh toán cho người bán pháo tại sân bóng N. Giữa tháng 01/2025, người bán pháo không còn đến sân bóng này nữa và K cũng không gặp lại người đó.
Khoảng 13 giờ 10 phút ngày 08/01/2025, S mang 05 giàn pháo hoa nổ đựng trong 01 túi ni lông màu đen, để trước ba ga xe mô tô hiệu YAMAHA EXCITER, biển số 59N2-280.62 đứng chờ giao cho D tại địa chỉ A D Q, Phường A, quận G, TP.HCM thì bị Công an quận G kiểm tra, bắt quả tang. Khám xét nhà S, Công an thu giữ thêm 04 giàn pháo hoa nổ. Tổng cộng thu giữ 09 giàn pháo hoa nổ, không rõ nguồn gốc xuất xứ với tổng khối lượng 15,36 kg.
Tại phiên tòa, các bị cáo đã thừa nhận đã thực hiện hành vi như cáo trạng đã nêu; bị cáo Nguyễn Viết S vì muốn hưởng chêch lệch từ việc mua bán pháo hoa nên đã nhờ Võ Anh K tìm mua hộ pháo hoa nổ. S đã chuyển tiền mua pháo cho K thông qua tài khoản của Nguyễn Thị Kim P với số tiền là 11.000.000 đồng để mua 10 hộp pháo hoa, thực nhận là 09 hộp. S đem về nhà cất đến ngày 08/01/2025, S mang 05 giàn pháo hoa nổ bán cho một người tên D không rõ lai lịch thì bị Công an bắt quả tang cùng tang vật.
Người làm chứng Nguyễn Thị Kim P khai tại phiên tòa: Tôi và Võ Anh K sống chung như vợ chồng khoảng 9 năm nhưng không đăng ký kết hôn. Anh K hiện làm thợ sửa xe máy và phụ bán tại quán lẩu mắm Hai Khỏe của chị gái. Gần đây, anh K sử dụng số điện thoại 0708415938 do bị mất điện thoại V dùng Sim 0923136173. Tôi dùng tài khoản Ngân hàng S2 số 060100650196, chỉ một mình tôi sử dụng. Do anh K không biết dùng tài khoản ngân hàng nên thỉnh thoảng nhờ tôi nhận tiền chuyển khoản hộ. Tôi và Nguyễn Viết S không quen biết nhau, nhưng khi anh S chuyển vào tài khoản của tôi hai lần tối 07/01/2025 với số tiền 7.700.000 đồng và 3.300.000 đồng. Tôi mới biết S là bạn anh K, còn nội dung chuyển khoản thì tôi không rõ, chỉ biết anh K nhờ tôi đọc số tài khoản để bạn anh chuyển tiền. Tôi không biết anh K có buôn bán hay dùng pháo hoa nổ. Mãi đến khi Cơ quan điều tra làm việc thì tôi mới biết anh K có liên quan đến việc mua pháo hoa nổ giúp người khác.
Người làm chứng Trần Thị Hương S1 khai tại phiên tòa: Khoảng 18 giờ 30 ngày 08/01/2025, Công an đưa anh S về nhà, chờ tổ dân phố đến rồi tiến hành khám xét, khi đó tôi mới biết anh S liên quan đến buôn pháo hoa nổ. Công an thu giữ 04 giàn pháo hoa nổ được cất trong phòng chứa đồ tầng hai, phòng này không có người ở. Tôi hoàn toàn không biết việc anh S buôn bán pháo và cũng không biết có pháo trong nhà.
Kết luận giám định số 1629/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phòng K2, Công an T xác định 09 khối hình hộp Công an quận G, TP.HCM thu được của Nguyễn Viết S ngày 08/01/2025 nghi vấn là pháo gửi giám định đều là pháo hoa nổ, khối lượng 15,36 kg.
Biên bản bắt người phạm tội quả tang thể hiện: Vào khoảng 13 giờ 10 phút ngày 08/01/2025, tại trước địa chỉ A D Q, Phường A, quận G, TP.HCM, Nguyễn Viết S bị bắt quả tang khi đang điều khiển xe mô tô chở theo 01 túi màu đen bên trong chứa 05 dàn pháo hoa nổ loại 49 ống, không rõ nguồn gốc xuất xứ với tổng khối lượng khoảng 8,5 kg, để giao cho khách hàng theo đơn đặt mua trước đó qua Zalo. Trước đó, vào ngày 07/01/2025, S đã đặt mua 10 dàn pháo hoa nổ từ một tài khoản Zalo tên “Voanh” (không rõ lai lịch), và thanh toán qua chuyển khoản nhằm mục đích bán lại kiếm lời. Khi đang trên đường đi giao hàng theo thỏa thuận với tài khoản Zalo tên “D” tại địa chỉ trên thì bị lực lượng Công an kiểm tra, phát hiện và bắt giữ cùng tang vật.
Tại Biên bản khám xét ngày 08/01/2025 theo Lệnh khám xét khẩn cấp nơi ở của Nguyễn Viết S tại địa chỉ F đường T, phường T, Quận A, TP Hồ Chí Minh. Tại đây, Cơ quan CSĐT/Công an quận G phát hiện và thu giữ thêm 04 giàn pháo hoa nổ, do nước ngoài sản xuất, trọng lượng khoảng 7,2 Kilogram.
Kết quả sao kê tài khoản ngân hàng của: Nguyễn Viết S từ ngày 01/12/2024 đến ngày 08/01/2025; Nguyễn Thị Kim P từ ngày 01/01/2025 đến ngày 31/01/2025; Võ Anh K và Nguyễn Thị Kim P từ ngày 01/01/2025 đến ngày 16/4/2025 thể hiện: Vào ngày 07/01/2025, Nguyễn Viết S đã chuyển số tiền 7.700.000 đồng và 3.300.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của Nguyễn Thị Kim P để thanh toán tiền mua pháo hoa nổ cho Võ Anh K.
Tại Cáo trạng số 06/CT-VKS71 ngày 26/6/2025, Viện kiểm sát quân sự khu vực 71 truy tố các bị cáo Nguyễn Viết S, Võ Anh K về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo về tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả vụ án, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân của các bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị:
Về trách nhiệm hình sự:
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Viết S từ 180.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Anh K từ 150.000.000 đồng đến 180.000.000 đồng.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 USB lưu trữ dữ liệu theo Kết luận giám định số 53/KL-KTHS ngày 29/4/2025 của V1, Bộ C; 02 đĩa CD-R chứa file ghi âm hỏi cung bị can Võ Anh K vào các ngày 17/4/2025 và 19/4/2025. Đây là tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, đề nghị tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động IPHONE, loại XS MAX, số Imei: 357278096906053, số Seri FFMXL564KPHJ gắn 01 sim điện thoại, là vật chứng mà bị cáo dùng để liên hệ mua bán hàng cấm với các đối tượng khác, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô hiệu YAMAHA, loại EXCITER biển số 59N2-280.62 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe số 022035 do Công an huyện B cấp ngày 17/9/2022 là phương tiện mà bị cáo Nguyễn Viết S dùng để chở hàng cấm là pháo hoa, nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước
Đối với 07 khối vuông có kích thước dài x rộng x cao là 17x17x10 cm là pháo hoa nổ, đây là vật chứng trong vụ án và là hàng cấm lưu hành nên đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy.
Ngày 08/8/2025, Tòa án quân sự khu vực Quân khu G đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 12/2025/HSST-QĐ trả lại 01 (một) thẻ sim có dãy số 8984048000385236039 cho Nguyễn Viết S. Việc xử lý trên là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo nhất trí với lời luận tội của Kiểm sát viên và không tranh luận gì thêm.
Lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thức được hành vi của mình là sai, hối hận về hành vi của mình, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực Binh chủng Hóa học; Điều tra viên; Viện kiểm sát quân sự Khu vực 71; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, có cơ sở để khẳng định các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án đều thực hiện hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, các bị cáo khai nhận đã thực hiện hành vi đúng như Cáo trạng đã mô tả. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, như: bị cáo Nguyễn Viết S vì muốn hưởng chênh lệch từ việc mua bán pháo hoa nổ nên đã nhờ bị cáo Võ Anh K tìm mua hộ pháo hoa nổ, bị cáo K đã tìm mua pháo từ người không rõ danh tính và giao cho bị cáo S để bán cho những người khác, khi bị cáo S đang mang pháo hoa đi bán thì bị bắt quả tang, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, Biên bản khám xét, Kết luận giám định…
Căn cứ vào diễn biến của các tình tiết vụ án, Hội đồng xét xử xét thấy: Xuất phát từ mục đích hưởng lợi chênh lệch từ việc mua bán pháo nổ, khi có người sử dụng tài khoản Zalo tên “D” liên hệ đặt mua 05 giàn pháo nổ. Ngày 07/01/2025, Nguyễn Viết S nhờ Võ Anh K tìm và mua giúp 10 giàn pháo nổ, K đồng ý và liên hệ mua 10 giàn pháo nổ với giá 11.000.000 đồng nhưng thực tế chỉ nhận được 09 giàn. Võ Anh K trực tiếp nhận hàng và chở đến giao cho S vào khoảng 21 giờ 20 phút cùng ngày. Đến khoảng 13 giờ 10 phút ngày 08/01/2025, khi S đang trên đường giao 05 giàn pháo cho khách thì bị Công an quận G bắt người phạm tội quả tang, khám xét nơi ở thu giữ thêm 04 giàn pháo, tổng cộng 09 giàn pháo nổ thu giữ được có khối lượng là 15,36 kg. Kết luận giám định số 1629/KL-KTHS ngày 13/01/2025 của Phòng K2, Công an T xác định 09 khối hình hộp thu được của Nguyễn Viết S là pháo hoa nổ, khối lượng 15,36 kg. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của các bị cáo phạm tội “Buôn bán hàng cấm” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Trong quá trình điều tra truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Viết S và Võ Anh K đã “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Ngoài ra, bị cáo Nguyễn Viết S trong quá trình công tác được Lữ đoàn 87, Binh chủng Hóa học tặng giấy khen Chiến sĩ tiên tiến năm 2024; được Trường T1 tặng 02 giấy khen năm 2016; được Binh chủng Hóa học, Bộ Q nâng lương trước thời hạn năm 2022 do trực tiếp tham gia thực hiện nhiệm vụ phòng, chống dịch Covid-19; bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Viết Đ là người có công với cách mạng, được Chủ tịch nước tặng Huân chương Chiến công hạng Ba, được Ủy ban nhân dân xã X, huyện Y, tỉnh Nghệ An tặng giấy khen năm 2024, được Ban Chấp hành Hội Cựu chiến binh huyện Y, tỉnh Nghệ An tặng Giấy chứng nhận danh hiệu Hội viên sản xuất, kinh doanh giỏi năm 2021, 2022. Vì vậy, bị cáo Nguyễn Viết S được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý về hàng hóa thuộc danh mục cấm lưu hành, đồng thời gây ảnh hưởng xấu đến trật tự trị an xã hội tại địa phương. Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi buôn bán hàng cấm là pháo nổ với lỗi cố ý và đều nhận thức được hành vi trái pháp luật nên phải chịu trách nhiệm hình sự với hành vi đã thực hiện. Tuy nhiên, khi xem xét đến tổng thể hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử căn cứ vào động cơ, mục đích phạm tội của các bị cáo, tuy các bị cáo đã thực hiện hành vi mua pháo hoa nổ về để nhằm mục đích bán lấy lời, nhưng vẫn chưa bán được cho người khác, chưa thu được lợi nhuận từ việc bán pháo hoa nổ, nên Hội đồng xét xử xét thấy chỉ áp dụng hình phạt tiền được quy định tại Điều 35 Bộ luật Hình sự để xử phạt đối với các bị cáo cũng đủ điều kiện để giáo dục, cải tạo các bị cáo trở thành người có ích cho xã hội, răn đe giáo dục người khác có ý thức tuân theo pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm…
Đây là vụ án có tính chất đồng phạm giản đơn, trong đó bị cáo Nguyễn Viết S với vai trò khởi xướng và thực hành trong việc mua bán pháo hoa nổ nên phải chịu trách nhiệm hình sự chính; bị cáo Võ Anh K với vai trò là người giúp sức cho bị cáo S trong việc tìm mua pháo hoa nổ do đó phải chịu trách nhiệm hình sự sau bị cáo S. Do đó, Hội đồng xét xử sẽ áp dụng Điều 17, Điều 58 Bộ luật Hình sự khi lượng hình đối với các bị cáo.
Xem xét đến tính chất, mức độ hành vi phạm tội của các bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy không cần áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.
Hội đồng xét xử xét thấy đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều khoản của Bộ luật Hình sự; các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, hình phạt chính và việc không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo là có căn cứ, phù hợp quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng:
01 USB lưu trữ dữ liệu theo Kết luận giám định số 53/KL-KTHS ngày 29/4/2025 của V1, Bộ C; 02 đĩa CD-R chứa file ghi âm hỏi cung bị can Võ Anh K vào các ngày 17/4/2025 và 19/4/2025. Đây là tài liệu chứng cứ chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo, nên tiếp tục lưu giữ theo hồ sơ vụ án.
Đối với 01 chiếc điện thoại di động IPHONE, loại XS MAX, số Imei: 357278096906053, số Seri FFMXL564KPHJ gắn 01 sim điện thoại, trên thẻ sim có dãy số 8984048000385236039 là vật chứng mà bị cáo dùng để liên hệ mua bán hàng cấm với các đối tượng khác, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 01 xe mô tô hiệu YAMAHA, loại EXCITER biển số 59N2-280.62 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe số 022035 do Công an huyện B cấp ngày 17/9/2022 là phương tiện mà bị cáo Nguyễn Viết S dùng để chở hàng cấm là pháo hoa, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước.
Đối với 07 khối vuông có kích thước dài x rộng x cao là 17x17x10 cm là pháo hoa nổ, đây là vật chứng trong vụ án và là hàng cấm lưu hành, nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy.
Ngày 08/8/2025, Tòa án quân sự khu vực Quân khu G đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 12/2025/HSST-QĐ trả lại 01 (một) thẻ sim có dãy số 8984048000385236039 cho Nguyễn Viết S, việc xử lý trên là có căn cứ.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/6/2025 tại Phòng Thi hành án Quân khu G; Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03/7/2025 tại Phòng Thi hành án Quân khu G)
Về án phí: Căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH13 của Quốc hội; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc các bị cáo Nguyễn Viết S, Võ Anh K mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Viết S, Võ Anh K phạm tội “Buôn bán hàng cấm”.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Viết S 180.000.000 (một trăm tám mươi triệu) đồng.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 35; Điều 58 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Võ Anh K 150.000.000 (một trăm năm mươi triệu) đồng.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu nộp ngân sách Nhà nước 01(một) chiếc điện thoại di động IPHONE, loại XS MAX, số Imei: 357278096906053, số Seri FFMXL564KPHJ; 01 (một) xe mô tô hiệu YAMAHA, loại EXCITER biển số 59N2-280.62 và 01 Giấy chứng nhận đăng ký xe số 022035 do Công an huyện B cấp ngày 17/9/2022.
Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự tịch thu tiêu hủy 07 (bảy) khối vuông có kích thước dài x rộng x cao là 17x17x10 cm là pháo hoa nổ.
(Theo Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 26/6/2025 tại Phòng Thi hành án Quân khu G; Biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 03/7/2025 tại Phòng Thi hành án Quân khu G)
3. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc các bị cáo Nguyễn Viết S, Võ Anh K mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (hai trăm nghìn) đồng.
Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày, kể từ ngày tuyên án (21/8/2025) các bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm lên Tòa án quân sự Quân khu G./.
| Nơi nhận: - TAQS.TW; - VKSQSQK7; - PTHA.QK7; - CQTHA.QK7; - VKSQS.KV71; - ĐTHSKVBCHH; - Bị cáo; - Lưu HSTHA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) |