vanban.org

Bản án 12/2025/HS-ST — Hình sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Th phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn Th 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 16/12/2024). 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu, dài khoảng 14,2cm được niê… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Th phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
  • Căn cứ chính? Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ LA GI,
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12 /2025/HS-ST
Ngày: 24 - 4 - 2025

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ LA GI, TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Đình Phú.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Võ Thanh Đức;

Ông Nguyễn Văn Quang.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Trường Vinh – Thư ký TAND thị xã La Gi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Trung – Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 4 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 20/2025/TLST-HS, ngày 26 tháng 3 năm 2025, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 19/2025/QĐXXST-HS, ngày 03 tháng 4 năm 2025, đối với bị cáo:

Phạm Văn Th (Tên gọi khác: B), sinh ngày: 15/5/1992, tại tỉnh Bình Thuận; nơi thường trú: Khu phố X, phường B.T, thị xã L.G, tỉnh B.T; nơi ở hiện nay: Khu phố X, phường B.T, thị xã L.G, tỉnh B.T; nghề nghiệp: Lao động biển; trình độ văn hóa: 08/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm H, sinh năm: 1946 và bà Hà Thị P, sinh năm: 1951; chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị bắt quả tang và bị tạm giữ ngày 16/12/2024.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Bà Đặng Thị Bích P, sinh năm: 1997, nơi cư trú: Khu phố Y, phường P.H, thị xã L.G, tỉnh B.T.

2. Ông Nguyễn Chiến T, sinh năm: 1987, nơi cư trú: Khu phố Z, phường B.T, thị xã L.G, tỉnh B.T.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tại Cáo trạng số 22/CT-VKSLG-HS, ngày 20/3/2025, của Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận xác định: Vào lúc 15 giờ 45 phút, ngày 16/12/2024 tại quán cà phê Như Ý, thuộc khu phố 1, phường Bình Tân, thị xã La Gi, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thị xã La Gi bắt quả tang Phạm Văn Th, Nguyễn Chiến T và Đặng Thị Bích P có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, thu giữ các vật chứng là 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy: 01 chai nhựa màu trong suốt, có gắn nắp màu vàng, kích thước chiều cao khoảng 09cm, đường kính đáy khoảng 4cm trên nắp có đục hai lỗ tròn, trong đó một lỗ gắn ống hút nước màu đen và một ống thủy tinh cong, kích thước chiều dài khoảng 14,2cm, một đầu có hình bầu tròn bên trong có chứa chất dạng rắn, màu nâu (Mẫu M); 01 bật lửa màu xanh cam, kích thước khoảng (01x02x7,8)cm; thu giữ của Thi 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14, màu đen, có số Imei là 357368583050505, 357497683050501, gắn sim số 0965458947 và 01 xe máy nhãn hiệu AirBlade, màu trắng bạc đen, biển số 86B6-26911; thu giữ của P 01 điện thoại di động hiệu Nokia C20, màu xanh đen, số imei: 350266785488381, 350266785488399, có gắn sim số 0378936131; thu giữ của T 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, số imei: 353819087754384,35381908775438, có gắn sim số 0587986008.

Tại các phiếu xét nghiệm ngày 18/12/2024 của Bệnh viện Đa khoa khu vực La Gi đối với Phạm Văn Th, Nguyễn Chiến T và Đặng Thị Bích P đều dương tính với Methamphetamine. Tại Bản kết luận giám định số 1594/KL-KTHS, ngày 24/12/2024, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận kết luận: Mẫu M gửi giám định có khối lượng 0,0851 gam, là Methamphetamine.

Quá trình điều tra thể hiện: Trước ngày 16/12/2024 khoảng 02 tuần, sau khi đi biển vào, Thi gặp 01 nam thanh niên tên Diệp (không rõ nhân thân, lai lịch) tại khu vực công viên thuộc phường Phước Lộc, thị xã La Gi, và được Diệp cho 01 bịch ni lông màu trắng, một đầu có nhíp kéo, bên trong có chứa ma túy, số ma túy này được Thi đem về nhà cất giấu để sử dụng dần. Đến khoảng 12 giờ ngày 16/12/2024, Thi nhắn tin cho T qua ứng dụng Messenger, nhưng T không trả lời, nên Thi xuống tận nhà để chở T đi, lúc này trong cốp xe của Thi có 01 bộ dụng cụ sử dụng có chứa sẵn ma túy mà Thi đã cất giấu trước đó. Khi đến quán cà phê Như Ý, Thi lấy bộ dụng cụ sử dụng có chứa ma túy trong cốp xe và cùng T đi vào chòi, sau khi vào chòi Thi tự lấy bật lửa nấu ma túy để sử dụng, còn T không sử dụng chỉ ngồi dùng điện thoại. Khoảng 15 giờ cùng ngày Thi cất giấu bộ dụng cụ sử dụng ma túy lên trên mái lá của chòi và nhắn tin với P, rồi Thi chạy xe đi đón P tại khu vực cổng chào Tân Long thuộc phường Bình Tân, thị xã La Gi đến quán cà phê Như Ý. Khi đến quán cà phê, Thi và P cùng đi vào chòi lá, Thi lấy bộ dụng cụ sử dụng ma túy đã cất giấu trước đó ra rồi dùng bật lửa nấu ma túy và đưa cho P sử dụng, P sử dụng xong thì Thi lấy bộ dụng cụ tiếp tục nấu ma túy để sử dụng cho bản thân và để lại trên bàn giữa chòi. Khoảng 15 giờ 45 phút cùng ngày, khi thấy Đội Cảnh sát Kinh tế - Ma túy kiểm tra, Thi dùng tay phải lấy trên bàn bộ dụng sử dụng ma túy ném ra phía sau lưng của mình xuống nền bê tông, Tổ công tác phát hiện bắt quả tang và thu giữ các vật chứng như trên.

Sau khi bị bắt, qua xét nghiệm Nguyễn Chiến T dương tính với Methamphetamine. Tuy nhiên, T khai nhận trước khi Thi đến đón, T đã sử dụng ma túy, tại chòi số 10 quán cà phê Như Ý, T không tham gia tổ chức sử dụng ma túy.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm Văn Th thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không.

Với những tình tiết trên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi truy tố ra trước Tòa án để xét xử đối với Phạm Văn Th về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi vẫn giữ nguyên nội dung cáo trạng, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Phạm Văn Th phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Thừ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù. Đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.

Trong quá trình điều tra, truy tố bị cáo Phạm Văn Th khai nhận hành vi phạm tội của mình, tại phiên tòa, bị cáo xác định nội dung bản cáo trạng mô tả đúng sự việc đã diễn ra, xin được giảm nhẹ hình phạt. Bị cáo khẳng định khi nhắn tin qua ứng dụng Messenger cho P, thì chỉ nhằm mục đích rũ P qua uống nước, đến khi P vào chòi trong quán cà phê, bị cáo mới rũ rê P cùng sử dụng ma túy với bị cáo.

Trong quá trình điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là bà Đặng Thị Bích P và ông Nguyễn Chiến T xác định không tham gia bố trí, sắp xếp, điều hành con người, phương tiện, cung cấp ma túy, phương tiện, dụng cụ… để thực hiện việc sử dụng trái phép chất ma túy. Ông T, bà P khẳng định ông T không tham gia sử dụng ma túy cùng với bà P và Thi vào ngày 16/12/2024, tại quán cà phê Như Ý.

Lời nói sau cùng, bị cáo Th xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã La Gi, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là phù hợp với quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông T, bà P. Tuy nhiên, sự vắng mặt này không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án, đồng thời bị cáo và đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi tham gia phiên tòa không đề nghị hoãn phiên tòa. Chính vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt ông T, bà P.

Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Phạm Văn Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Do vậy, đủ cơ sở để khẳng định: Khoảng 15 giờ, ngày 16/12/2024, tại quán cà phê Như Ý, thuộc khu phố 1, phường Bình Tân, thị xã La Gi, tỉnh Bình Thuận, Phạm Văn Th đã lấy dụng cụ sử dụng ma túy đã cất dấu trước đó, dùng bật lửa nấu ma túy và đưa cho P sử dụng, sau đó tự nấu ma túy cho bản thân sử dụng.

Phạm Văn Th là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, với mong muốn đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác, Thi đã bố trí, cung cấp ma túy, dụng cụ, đốt ma túy cho P và bản thân sử dụng. Hành vi mà Thi đã thực hiện phạm vào tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự, có khung hình phạt là bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Thi thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi đã thực hiện, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại Điều 52 bộ luật Hình sự. Đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi tại phiên tòa, về việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, do bị cáo có nhân thân tốt, Hội đồng xét xử nhận thấy theo quy định tại Điều 50 Bộ luật Hình sự, nhân thân người phạm tội là một trong những căn cứ để quyết định hình phạt, bên cạnh tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ và tăng nặng trách nhiệm hình sự. Đồng thời, tại tiểu mục 5 Mục 1 Công văn số 212/TANDTC-PC, ngày 13/9/2019, của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hướng dẫn áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự không có tình tiết nhân thân tốt. Do vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Tội phạm mà bị cáo đã thực hiện là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý của Nhà nước về việc sử dụng các chất ma túy, gây ảnh hưởng đến tính mạng, sức khỏe của con người, gia tăng tệ nạn sử dụng trái phép chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự, an toàn xã hội. Trên cơ sở đánh giá toàn diện tính chất, mức độ nguy hiểm, phương thức thực hiện và hậu quả của tội phạm do bị cáo Th đã thực hiện, đánh giá các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để đảm bảo giáo dục bị cáo Thhành công dân tốt cho xã hội, đồng thời đấu tranh, phòng chống tội phạm chung. Ngoài ra, bị cáo cũng thừa nhận sử dụng ma túy từ năm 2022, loại ma túy sử dụng là Methamphetamine (ma túy đá). Chính vì vậy, Hội đồng xét xử nhận thấy, mức hình phạt theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã La Gi tham gia phiên tòa, từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù, là phù hợp. Hình phạt đối với bị cáo là thông điệp kiên quyết của pháp luật trong cuộc chiến chống tội phạm ma túy, góp phần ngăn chặn làn sóng độc hại, nguy cơ lây nhiễm ma túy cho giới trẻ, phá hoại nền tảng của xã hội.

Đối với người tên “Diệp”, được bị cáo Th xác định là người cung cấp ma túy cho bị cáo, nhưng bị cáo không cung cấp được thông tin cụ thể về họ, tên, nơi cư trú, và Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã La Gi không xác định danh tính nên chưa có căn cứ xử lý là phù hợp. Cả Thi, P, T đều xác định toàn bộ quá trình chuẩn bị ma túy, dụng cụ sử dụng, nấu ma túy để sử dụng đều do Thi thực hiện, T không tham gia sử dụng, không cùng Phi tổ chức sử dụng, P có sử dụng cùng với Phi nhưng không cùng Phi tổ chức sử dụng, nên không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với T và P là phù hợp.

Đối với hành vi tàng trữ trái phép 0,0851 gam Methamphetamine để sử dụng của Phạm Văn Th, do khối lượng ma túy không đủ định lượng theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự, đồng thời Thi cũng chưa bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc bị kết án về tội này hoặc một trong các tội quy định tại các Điều 248, 250, 251, 252 Bộ luật Hình sự, nên cơ quan tiến hành tố tụng không truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Thi về hành vi này là phù hợp.

Về vật chúng là: 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu, dài khoảng 14,2cm được niêm phong trong phong bì số 1594 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Thuận (0,0851 gam Methamphetamine đã sử dụng hết trong công tác giám định theo Kết luận giám định số 1594/KL-KTHS, ngày 24/12/2024, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận); 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 chai nhựa màu trong suốt có gắn nắp màu vàng, kích thước chiều cao khoảng 09cm, đường kính đáy khoảng 04cm, trên nắp đục hai lỗ tròn trong đó một lỗ gắn ống hút nước giải khát màu đen; 01 bật lửa màu xanh cam, kích thước khoảng (01 × 02 x 7,8)cm, không còn giá trị sử dụng nên cần phải tịch thu, tiêu hủy theo quy định tại khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với vật chứng là 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, số imei: 353819087754384, 35381908775438, có gắn sim số 0587986008 (thu giữ của T); 01 điện thoại di động hiệu Nokia C20, màu xanh đen, số imei: 350266785488381, 50266785488399, có gắn sim số 0378936131 (thu giữ của P); 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14, màu đen, có số Imei là 357368583050505, 357497683050501, gắn sim số 0965458947 (thu giữ của Phi). Theo kết quả thể hiện tại 02 Biên bản kiểm tra điện thoại do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã La Gi lập ngày 17/12/2024 (đối với điện thoại thu giữ của T, P), lời khai của bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa cho thấy Phi, T, P không sử dụng các vật chứng này để làm công cụ, phương tiện dùng vào việc phạm tội nên cần phải trả lại cho người sở hữu, chiếm hữu hợp pháp.

Đối với vật chứng là 01 xe môtô nhãn hiệu Honda AirBlade, màu trắng bạc đen, biển số 86B6-26911, số khung: RLHJF630FZ122137, số máy: JF63E1476187, quá trình điều tra xác định thuộc sở hữu của Thi, và cũng không liên quan đến tội phạm nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã La Gi đã trả lại cho ông Thi vào ngày 07/02/2025 là phù hợp. Tại phiên tòa, Thi không có ý kiến gì hay yêu cầu gì về tình trạng của vật chứng khi được nhận lại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Do được xác định là có tội nên bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Bị cáo Phạm Văn Th phạm tội: “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Phạm Văn Th 02 (hai) năm tù, thời gian chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ (ngày 16/12/2024).

+ Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu, tiêu hủy:

- 01 ống thủy tinh được uốn cong và thổi phồng một đầu, dài khoảng 14,2cm được niêm phong trong phong bì số 1594 của Phòng Kỹ thuật Hình sự Công an tỉnh Bình Thuận (0,0851 gam Methamphetamine đã sử dụng hết trong công tác giám định theo Kết luận giám định số 1594/KL-KTHS, ngày 24/12/2024, của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bình Thuận);

- 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: 01 chai nhựa màu trong suốt có gắn nắp màu vàng, kích thước chiều cao khoảng 09cm, đường kính đáy khoảng 04cm, trên nắp đục hai lỗ tròn trong đó một lỗ gắn ống hút nước giải khát màu đen;

- 01 bật lửa màu xanh cam, kích thước khoảng (01 × 02 x 7,8) cm;

+ Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Trả lại cho Phạm Văn Th: 01 điện thoại di động hiệu Samsung Galaxy A14, màu đen, có số Imei là 357368583050505, 357497683050501, gắn sim số 0965458947;

- Trả lại cho ông Nguyễn Chiến T: 01 điện thoại di dộng hiệu Iphone 7 Plus, màu hồng, số imei: 353819087754384, 35381908775438, có gắn sim số 0587986008;

- Trả lại cho bà Đặng Thị Bích P: 01 điện thoại di động hiệu Nokia C20, màu xanh đen, số imei: 350266785488381, 50266785488399, có gắn sim số 0378936131.

(Các vật chứng được liệt kê trên đây hiện đang được lưu giữ, bảo quản tại Chi cục Thi hành án dân sự thị xã La Gi theo biên bản giao, nhận vật chứng lập ngày 24/3/2025)

+ Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sư, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội: Bị cáo Phạm Văn Th phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Thời hạn kháng cáo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ