- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Đăng Vũ- Ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phạm Đăng V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
- Căn cứ chính? Điều 255 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU Bản án số: 12/2024/HS-ST Ngày: 01 - 02 - 2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LONG ĐIỀN, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Dung.
- Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Thủy.
Bà Trần Thị Mộng Thu.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Quốc Tín – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Thiên Lộc – Kiểm sát viên. Ngày 01 tháng 02 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 217/2023/HSST ngày 29 tháng 12 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2024/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 01 năm 2024; Thông báo thay đổi thời gian mở lại phiên tòa số 01/2024/TB-TA ngày 25/01/2024 đối với bị cáo:
Phạm Đăng V, sinh năm: 1988, tại tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu; nơi cư trú: Không cố định; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Đăng S và bà Trần Thị C; bị cáo là con duy nhất trong gia đình; bị cáo có vợ là Lê Thị Kim H và 04 người con, lớn nhất sinh năm 2010, nhỏ nhất sinh năm 2019; tiền án- tiền sự: Không; nhân thân: Quyết định số 47/QĐ ngày 25/7/2023 của Tòa án nhân dân huyện Long Điền áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc. Ngày 28/8/2023, Cơ sở tư vấn và điều trị nghiện ma túy ra Quyết định tạm đình chỉ theo yêu cầu của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L.
Bị cáo bị bắt tạm tạm giam ngày 28/8/2023. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện L. Có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Phạm Đăng V, Lâm Hoàng H1 và Đàm Linh Đ là các đối tượng sử dụng trái phép chất ma túy (loại Methamphetamin). Trong khoảng thời gian từ tháng 5/2023 đến ngày 21/6/2023, V cho H1 và Đ ở nhờ đồng thời tổ chức cho H1 và Đ sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà V tại địa chỉ tổ A khu phố H, thị trấn L, huyện L, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên khoảng 01 giờ 00 ngày 21/6/2023, V gọi điện thoại cho một người đàn ông tên Đ1 (chưa rõ nhân thân, lai lịch) hỏi mua 700.000đồng ma túy đá, Đ1 đồng ý và hẹn đến nhà của V để giao ma túy. Khoảng 30 phút sau, Đ1 chạy xe mô tô đến giao cho V 01 gói ma túy đá nhưng V chưa trả tiền cho Đ1. Sau khi có ma túy, V mang gói ma túy vào trong phòng ngủ lấy một ít bỏ vào bộ dụng cụ để sử dụng ma túy với Đ. Số ma túy còn lại trong gói nylon V cất giấu trên nóc tủ trong phòng ngủ của V. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi V đang ở nhà với Đ và H1 thì Công an thị trấn L, huyện L kiểm tra, phát hiện V có hành vi tàng trữ và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy nêu trên đã tiến hành lập biên bản phạm tội quả tang đồng thời tạm giữ, niêm phong gói ma túy trên để xử lý theo quy định của pháp luật. Riêng V bỏ trốn. Đến ngày 27/6/2023, V đến Cơ quan Công an đầu thú.
Tại Cơ quan điều tra, Phạm Đăng V khai nhận gói ma túy Cơ quan Công an thu giữ là của V, mục đích V tàng trữ gói ma túy trên là để sử dụng, đồng thời cung cấp bộ dụng cụ sử dụng ma túy, địa điểm là phòng ngủ trong nhà của V để tổ chức cho Lâm Hoàng H1, Đàm Linh Đ và Huỳnh Phong B sử dụng trái phép chất ma túy. Ngoài ra, V còn khai nhận trước đó đã nhiều lần tổ chức cho H1, Đ và B sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của V nhưng chỉ nhớ được các ngày cụ thể như sau: Ngày 16/6/2023, V tổ chức và cùng Đ, B sử dụng trái phép chất ma túy; ngày 17/6/2023, V chuẩn bị ma túy, bộ D sử dụng ma túy để tổ chức cho Đ, H1 sử dụng và ngày 21/6/2023, V tổ chức và cùng Đ sử dụng trái phép chất ma túy.
Đối với Đàm Linh Đ, Lâm Hoàng H1 và Huỳnh Phong B không hùn tiền mua ma túy và cũng không phải trả tiền sử dụng ma túy lại cho V. Lời khai của V và lời khai của Đ, H1, B phù hợp với nhau. Đồng thời, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác mà Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện L thu thập được trong quá trình điều tra vụ án.
Tại Bản kết luận giám định số 319/KL-KTHS-MT ngày 30/6/2023 của Phòng K (PC09) Công an tỉnh B kết luận: Một phong bì màu trắng, có hình dấu của Công an thị trấn L- CA huyện L, cùng các chữ ký ghi họ tên: Thiếu tá Bùi Quốc H2, Lâm Hoàng H1, Huỳnh Phong B, Đàm Linh Đ, Lê Ngọc S1, Lương Quang M, bên trong có 01 (một) gói nylon hàn kín chứa chất tinh thể không màu- trong suốt (ký hiệu mẫu A) gửi đến giám định có khối lượng 1,6984 gam, là ma túy, loại Methamphetamine.
Vật chứng thu giữ:
- 01 (một) gói nylon được hàn kín, bên trong có chứa chất ma túy loại Methamphetamine sau khi giám định được niêm phong trong 01 phong bì màu trắng vụ số 319 ngày 30/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B.
- 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá;
- 01 (một) cái loa màu xanh đã qua sử dụng.
Hiện tất cả vật chứng trên đã chuyển Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền quản lý, chờ xử lý.
Tại bản cáo trạng số: 12/CT-VKSLĐ ngày 28/12/2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Long Điền, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu đã truy tố bị cáo Phạm Đăng V về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại các điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Đăng V thừa nhận hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Bị cáo thấy mình không bị oan, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, mong HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.
Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố như cáo trạng, đề nghị HĐXX áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo V mức án từ 16 tháng tù đến 20 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; áp dụng các điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 BLHS xử phạt bị cáo V mức án từ 08 năm tù đến 09 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Áp dụng Điều 55 BLHS tổng hợp hình phạt của hai tội là từ 09 năm 04 tháng tù đến 11 năm tù.
Về xử lý vật chứng: Đề nghị áp dụng Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói nylon được hàn kín, bên trong chứa chất ma túy loại Methamphetamine sau khi giám định được niêm phong trong một phong bì màu trắng vụ số 319 ngày 30/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 (một) cái loa màu xanh đã qua sử dụng.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, của bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi và các Quyết định của cơ quan người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, Điều tra viên, kiểm sát viên. Trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục đảm bảo theo qui định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo Phạm Đăng V đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát đã truy tố. Do đó, có đủ cơ sở để xác định: Trong khoảng thời gian từ ngày 16/6/2023 đến ngày 21/6/2023 Phạm Đăng V đã cung cấp ma túy, bộ D để sử dụng ma túy tổ chức cho Huỳnh Phong B, Lâm Hoàng H1 và Đàm Linh Đ (sinh ngày 06/6/2009) sử dụng trái phép chất ma túy tại nhà của V thuộc tổ A, khu phố H, thị trấn L, huyện L, cụ thể các lần như sau:
+ Lần thứ nhất: Vào ngày 16/6/2023, V tổ chức cho Huỳnh Phong B và Đàm Linh Đ sử dụng trái phép chất ma túy;
+ Lần thứ hai: Vào ngày 17/6/2023, V tổ chức cho Lâm Hoàng H1 và Đàm Linh Đ sử dụng trái phép chất ma túy.
+ Lần thứ ba: Vào ngày 21/6/2023, V tổ chức cho Đàm Linh Đ sử dụng trái phép chất ma túy thì Công an thị trấn L, huyện L kiểm tra, phát hiện lập biên bản quả tang.
Bị cáo Phạm Đăng V đã trên 02 lần tổ chức cho 03 người sử dụng trái phép chất ma túy, trong đó có Đàm Linh Đ chưa đủ 18 tuổi. Đồng thời, trong quá trình kiêm tra đã phát hiện và thu giữ 01 gói ma túy theo Kết luận giám định có khối lượng 1,6984gam, loại Methamphetamine của V cất giấu nhằm mục đích sử dụng. Do đó, hành vi của bị cáo V đã phạm vào tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm a, b, c khoản 2 Điều 255 của Bộ luật hình sự năm 2015.
Xét tính chất, mức độ phạm tội của bị cáo: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chế độ độc quyền về quản lý của Nhà nước đối với các loại chất gây nghiện, xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội, là nguyên nhân dẫn đến nhiều căn bệnh cũng như tội phạm của xã hội. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo một mức án thật nghiêm, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian đủ để giáo dục riêng đối với bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung. Đồng thời tổng hợp hình phạt theo quy định tại Điều 55 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, sau khi đi biển vảo đã tự nguyện trình diện, nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.
Về xử lý vật chứng: 01 (một) gói nylon được hàn kín, bên trong chứa chất ma túy loại Methamphetamine sau khi giám định được niêm phong trong một phong bì màu trắng vụ số 319 ngày 30/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 (một) cái loa màu xanh đã qua sử dụng dùng để sử dụng ma tuý là chất cấm nên tịch thu tiêu hủy.
Đối với đối tượng tên Đ1 đã bán ma túy cho Phạm Đăng V, đề nghị Cơ quan CSĐT Công an huyện L tiếp tục xác minh, xử lý sau, HĐXX không xét đến trong vụ án này.
Đối với Huỳnh Phong B, Lâm Hoàng H1 và Đàm Linh Đ có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, Cơ quan CSĐT Công an huyện L đã chuyển xử lý hành chính và áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc theo quy định của pháp luật, nên HĐXX không xem xét.
Án phí: Bị cáo Phạm Đăng V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Phạm Đăng V phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”
2. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; các điểm a, b, c khoản 2 Điều 255; điểm s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung 2017), xử phạt:
Phạm Đăng V 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và 09 (chín) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.
Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015 tổng hợp hình phạt buộc bị cáo Phạm Đăng V phải chấp hành là 10 (mười) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày 28/8/2023.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) gói nylon được hàn kín, bên trong chứa chất ma túy loại Methamphetamine sau khi giám định được niêm phong trong một phong bì màu trắng vụ số 319 ngày 30/6/2023 của Phòng K Công an tỉnh B; 01 (một) bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá; 01 (một) cái loa màu xanh đã qua sử dụng.
(Vật chứng nêu trên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Long Điền đang tạm giữ theo biên bản giao nhận vật chứng số 25/BB-CCTHADS ngày 29/12/2023).
3. Về án phí: Buộc bị cáo Phạm Đăng V phải chịu 200.000đồng (hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
4. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/02/2024) bị cáo được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh BR-VT; - VKSND H.Long Điền; - VKSND tỉnh BR-VT; - Công an H.Long Điền; - THA hình sự, dân sự; - Sở Tư pháp tỉnh BR-VT; - PC10; PV06 CA tỉnh BR-VT; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; AV. XÉT XỬ | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Ngọc Dung |