vanban.org

Bản án 12/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TX Hương Thuỷ, TP. Huế Tuyên án 21/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T1, phạm tội “Hủy hoại tài sản”; tội

“Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. đối với tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Căn cứ khoản 1 Điều 146; điểm s Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Đình T1, phạm tội “Hủy hoại tài sản”; tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi" - phạm tội hiếp dâm n…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T1, phạm tội “Hủy hoại tài sản”; tội
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠN G THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/2023/HS-ST

Ngày: 21/02/2023

THỊ XÃ HƯƠNG THỦY Độc lập-Tự do-Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ HƯƠN G THỦY, TỈNH THỪA THIÊN HUẾ

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Quý Vân. Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Mỹ Nhung. 2. Bà Dương Thị Thu Hằng. Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Hiệp - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế. Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy tham gia phiên tòa: Ông Phan Anh Giáp - Kiểm sát viên. Ngày 21 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế xét xử sơ thẩm kín vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 74/2022/HSST ngày 18 tháng 11 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 05/2023/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2023, đối với bị cáo: Họ và tên: Nguyễn Đình T1; tên gọi khác: không, giới tính: nam; sinh ngày:01/4/1989 tại tỉnh Thừa Thiên Huế. Địa chỉ: Tổ 09, phường Thủy P, thị xã Hương T, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Công nhân; trình độ văn hóa: Lớp 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Đ Việt (đã mất) và con bà: Nguyễn Thị T2; Vợ: Lê Thị N (V), sinh năm 1990 (Đã ly hôn năm 2022); con: Có 01 con, sinh năm 2017; tiền án: Không; tiền sự: Không; bị bắt tạm giam ngày 02/06/2022. Bị cáo có mặt tại phiên tòa. Bị hại: Chị Võ Thị Diễm Q, sinh ngày 14/6/2006. Địa chỉ: Tổ 05, phường Thủy C, thị xã Hương T, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt. Người đại diện hợp pháp của chị Q: Anh Võ A và chị Lê Thị Bích L, sinh năm 1983, là cha, mẹ của chị Q. Địa chỉ: Tổ 05, phường Thủy C, thị xã Hương T, tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Bà Đỗ Thị Thanh H1 – Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thừa Thiên Huế. Có mặt. Người làm chứng: 1. Bà Nguyễn Thị T2, sinh năm 1962. Địa chỉ: Tổ 09, phường Thủy P, thị xã Hương T, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt. 2. Chị Trần Thị H2 và anh Võ Thanh B, sinh năm 1993. Địa chỉ: Tổ 06,

phường Phú B, thị xã Hương T, tỉnh Thừa Thiên Huế. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Bản Cáo trạng số: 75/CT-VKS-Hth, ngày 18 tháng 11 năm 2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên Huế đã truy tố bị cáo Nguyễn Đình T1 về hành vi phạm tội: Vào khoảng 14 giờ ngày 06/02/2022, Q đến phòng trọ của T1 ở tại số 49 đường Lý Đạo T, phường Phú B, thị xã Hương T, tỉnh Thừa Thiên Huế; để nói chuyện với T1. Khi Q vào trong phòng thì gặp T1, Q nói với T1 là sẽ chấm dứt quan hệ tình cảm giữa hai người; T1 không đồng ý nên hai bên xảy ra cải vả. Sau đó, T1 đến ngồi trên giường ngủ và tiếp tục tra hỏi Q lý do chia tay với T1, nhưng Q không nói gì mà chỉ ngồi bấm điện thoại. Bực tức về hành động của Q nên T1 đến giật điện thoại của Q đang cầm trên tay, rồi ném mạnh vào tường phòng trọ làm điện thoại bị vỡ, hư hỏng hoàn toàn. Sau khi đập điện thoại của Q xong, thì T1 bắt đầu nảy sinh ý định quan hệ tình dục với Q; T1 nói với Q: “ngày ni tau phải có mi cho bằng được” (nghĩa là phải giao cấu bằng được với Q); T1 dùng tay kéo và đẩy mạnh làm Q nằm ngã xuống giường rồi nằm đè lên người Q, T1 dùng tay phải giữ chặt 02 tay của Q lại ở phía trên đầu Q, còn tay trái đè và chắn trước cổ để khống chế Q; T1 hôn vào môi Q, Q vùng vẫy chống cự quyết liệt nên T1 cắn vào vai phải của Q để đe doạ Q không được chống cự; sau đó, T1 cởi áo ngoài của Q ra, rồi dùng tay luồn vào dưới áo ngực sờ, nắn 02 vú của Q; Q vùng vẫy chống cự, dùng chân đạp T1 ra nhưng không được; T1 tiếp tục dùng tay cởi quần dài của Q ra đến đầu gối rồi định cởi quần lót thì bị Q níu lại nên T1 dùng tay sờ, bóp vào âm hộ của Q từ phía ngoài quần lót. Lúc này, Q vùng vẫy và dùng chân đạp T1 ra để ngồi dậy thì bị T1 dùng tay tát 01 cái vào má của Q rồi T1 tiếp tục đè Q nằm xuống giường, dùng tay sờ bóp âm hộ của Q. Lúc này, T1 đã cởi quần dài và quần lót của mình ra, nhưng do Q la hét và khóc to, đồng thời T1 nghe thấy có tiếng người nói bên ngoài phòng trọ; sợ bị phát hiện nên T1 buông lỏng người Q ra, lợi dụng lúc này Q vùng dậy, bỏ chạy ra khỏi phòng. Sau đó, Q đến Cơ quan Công an để trình báo sự việc trên; còn T1 sợ bị xử lý nên đã bỏ trốn khỏi địa phương một thời gian, sau đó Cơ quan điều tra triệu tập về làm việc. T1 đã khai toàn bộ hành vi phạm tội của mình nói trên. Quá trình điều tra, T1 và Q còn khai nhận: Vào khoảng đầu tháng 1/2022 (không nhớ rõ giờ, ngày cụ thể), Q đến phòng của T1 nói trên để chơi. Tại đây, cả hai ngồi trên giường ngủ của T1 để nói chuyện tình cảm với nhau; sau đó T1 và Q đã ôm nhau, T1 hôn vào môi của Q, dùng tay luồn vào trong áo sờ, nắn 02 vú của Q; dùng tay sờ bóp vào âm hộ của Q từ phía ngoài quần. Q đồng ý để cho T1 thực hiện các hành vi trên nên không có phán ứng hay chống cự gì. Một lúc sau thì T1 tự ý dừng lại (vì T1 biết Q chưa đủ 16 tuổi nên không giao cấu với Q). Sau đó, cả hai tiếp tục ngồi nói chuyện một lúc rồi Q đi về.

Căn cứ vào lời khai của T1 và Q, Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh; kết quả thu được là hoàn toàn phù hợp với lời khai của T1 và Q. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận vào khoảng đầu tháng 1/2022, tại phòng trọ nói trên; T1 còn có hành vi dâm ô đối với Võ Thị Diễm Q, là người dưới 16 tuổi. Về vật chứng Cơ quan điều tra đã thu giữ: 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S plus màu bạc, model: A1687; ID: PCG-E2944; IC: 57C-E2944A, đã bị vỡ làm hai mảnh lớn; ốp bảo vệ màu trắng. Tại Bản kết luận định giá tài sản số: 12/KL-HĐĐGTS ngày 28/02/2022, của Hội đồng định giá UBND thị xã Hương Thủy, kết luận: 01 điện thoại di động Iphone 6 plus, màu bạc, model A1687, ID PCG-E2944, TC 57C-E2944A (đã qua sử dụng), có trị giá là: 2.700.000 đồng. Tại bản kết luận giám định pháp y số: 38-22/TDTE ngày 17/02/2022, của Trung tâm giám định Y khoa – Pháp y thuộc Sở y tế Thừa Thiên Huế, kết luận: “1. Bộ phận sinh dục ngoài của Võ Thị Diễm Q phát triển bình thường, không phát hiện tổn thương bầm tụ máu niêm mạc âm hộ, màng trinh. Màng trinh: lỗ trinh nhỏ, không phát hiện rách cũ và mới. 2. Trên cơ thể có dấu hiệu tổn thương xây xát bầm tụ máu trước vai phải, phù hợp do dấu vết hai cung răng trước để lại, phù hợp lời khai do bị cắn. Tổn thương xây xát hình nan quạt ở dưới xương đòn phải phù hợp do dấu móng tay để lại. Hai tổn thương trên có tuổi khoảng 24 giờ so thời điểm giám định 3. Không phát hiện hình ảnh tinh trùng trên bộ phận sinh dục của Võ Thị Diễm Q. 4. Tổn thương xây xát bầm tụ máu trước vai phải. Tỷ lệ tổn thương cơ thể 01% (một phần trăm)”. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Nguyễn Đình T1 đã bồi thường thiệt hại về điện thoại di động bị hư hỏng cho Võ Thị Diễm Q, số tiền là 2.700.000 đồng. Ngoài ra, Q và gia đình không yêu cầu T1 phải bồi thường gì thêm. Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản Cáo trạng đối với bị cáo Nguyễn Đình T1, áp dụng khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; đối với tội “Hủy hoại tài sản”. điểm a khoản 1 Điều 142; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 54; Điều 57 Bộ luật Hình sự; đối với tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. khoản 1 Điều 146; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đối với tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Điều 55 Bộ luật hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử, xử phạt bị cáo Nguyễn Đình T1 từ 06 (Sáu) đến 09 (Chín) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”; 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng đến 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”; 09 (Chín) tháng đến 01 (Một) năm tù về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Tổng hợp hình phạt chung, từ 03 (Ba) năm 06 (Sáu) tháng đến 04 (Bốn) năm 03 (Ba) tháng tù; không xem xét về trách nhiệm dân sự; xử lý vật chứng và án phí theo quy định của pháp luật. Quan điểm của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại cũng nhất trí như đề nghị của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi của mình là sai, vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Căn cứ vào các chứng cứ tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa; Trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện tài liệu chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp. [2] Về hành vi phạm tội của bị cáo thì có đủ cơ sở để kết luận: Do có mối quan hệ tình yêu giữa bị cáo và bị hại. Khoảng 14 giờ, ngày 06 tháng 02 năm 2022, chị Q đến phòng trọ của bị cáo T1, tại số 49 đường Lý Đạo T, phường Phú B, thị xã Hương T, tỉnh Thừa Thiên Huế; để nói lời chia tay, chấm dứt quan hệ tình cảm giữa hai người; T1 không đồng ý nên hai bên xảy ra cải vả. Bực tức T1 đã giật điện thoại của Q đang cầm trên tay, ném mạnh vào tường phòng trọ làm điện thoại bị vỡ, hư hỏng hoàn toàn. Trị giá điện thoại là: 2.700.000 đồng (Hai triệu, bảy trăm nghìn đồng). Hành vi của bị cáo phạm vào tội “Hủy hoại tài sản”, quy định tại khoản 1 Điều 178 Bộ luật Hình sự. Tiếp đến, T1 đã có hành vi dùng vũ lực, đè người chị Q nằm xuống giường, nhằm mục đích để giao cấu với chị Q. Bị cáo đã thực hiện các hành vi cởi quần, áo, hôn, sờ, nắn vào âm hộ của chị Q, trái với ý muốn của chị Q. do chị Q chống đối quyết liệt, la hét và khóc to, đồng thời T1 nghe thấy có tiếng người nói bên ngoài phòng trọ, nên sợ bị phát hiện, T1 buông lỏng người Q ra, chị Q vùng dậy, bỏ chạy ra khỏi phòng. Hành vi của bị cáo phạm vào tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” quy định tại điểm a khoản 1 Điều 142 Bộ luật Hình sự. Do có người đi bên ngoài phòng trọ và chị Q chống đối quyết liệt nên T1 sợ, chưa giao cấu với chị Q được. Đây là tình tiết phạm tội chưa đạt, nên áp dụng Điều 15; Điều 57 Bộ luật hình sự; để quyết định mức hình phạt không quá ba phần tư mức phạt tù mà điều luật quy định đối với bị cáo. Quá trình điều tra. Cơ quan điều tra đã tiến hành điều tra, xác minh, thu thập được kết quả: Khoảng tháng 1/2022, tại phòng trọ trên, T1 và Q đã ôm nhau, T1 hôn vào môi của Q, dùng tay luồn vào trong áo sờ, nắn 02 vú của Q; dùng tay sờ bóp vào âm hộ của Q từ phía ngoài quần. Q đồng ý để cho T1 thực hiện các hành vi trên nên không có phán ứng hay chống cự gì, nhưng hai bên không giao cấu. Đây là hành vi tiếp xúc về thể chất có tính chất tình dục, nên T1 đã phạm vào tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi” quy định tại khoản 1 Điều 146 Bộ luật Hình sự. Viện kiểm sát nhân dân thị xã Hương Thủy truy tố bị cáo theo các tội danh và điều luật viện dẫn trên là chính xác, đúng pháp luật.

Xét về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy: Hành vi bị cáo gây ra phạm vào khung hình phạt rất nghiêm trọng, xâm phạm nhân phẩm, danh dự, tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo Nguyễn Đình T1 là người có năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi phạm tội của mình nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, cần xử phạt bị cáo mức án nghiêm khắc, để giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội. Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt, xét cho bị cáo quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay đã thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải; bồi thường thiệt hại; bản thân chưa có tiền án, tiền sự. Do đó, được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo T1 phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là phạm tội đối với người dưới 16 tuổi, đối với tội “Hủy hoại tài sản”, quy định tại điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự. Bị cáo có tình tiết giảm nhẹ thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải, nên áp dụng Điều 54 Bộ luật hình sự đối với tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng. Bị cáo phạm nhiều tội nên áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự; tổng hợp hình phạt, buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung. [4] Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đầy đủ số tiền 2.700.000 đồng cho bị hại. Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm. Hội đồng xét xử không xem xét. [5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S plus màu bạc, model: A1687; ID: PCG-E2944; IC: 57C-E2944A, đã bị vỡ làm hai mảnh lớn, phần lưng vẫn còn ốp bảo vệ màu trắng, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy. [6] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Đình T1, phạm tội “Hủy hoại tài sản”; tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. 2. Căn cứ khoản 1 Điều 178; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm i khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; đối với tội “Hủy hoại tài sản”. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 142; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 15; Điều 54; Điều 57 Bộ luật Hình sự; đối với tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”. Căn cứ khoản 1 Điều 146; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đối với tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”. Căn cứ Điều 55 Bộ luật hình sự. 3. Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Đình T1 06 (Sáu) tháng tù về tội “Hủy hoại tài sản”; 02 (Hai) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”; 06 (Sáu) tháng tù về tội “Dâm ô đối với người dưới 16 tuổi”; bị cáo Nguyễn Đình T1 phải chấp hành hình phạt chung là 03 (Ba) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù, tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 02/6/2022.

4. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường đủ số tiền 2.700.000 đồng cho bị hại. Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì. Hội đồng xét xử không xem xét. 5. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự; tuyên xử: Tịch thu tiêu hủy 01 điện thoại di động hiệu Iphone 6S plus màu bạc, model: A1687; ID: PCG-E2944; IC: 57C-E2944A, đã bị vỡ làm hai mảnh lớn, phần lưng vẫn còn ốp bảo vệ màu trắng. Hiện vật chứng trên đang được tạm giữ tại Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy, theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 12/12/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Hương Thủy và Chi cục thi hành án dân sự thị xã Hương Thủy 6. Về án phí hình sự sơ thẩm : Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Nguyễn Đình T1 phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Án sơ thẩm xét xử kín báo cho bị cáo, người đại diện hợp pháp của bị hại, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo bản án, trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ