vanban.org

Bản án 12/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng Tuyên án 10/02/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng V phạm tội “Làm nhục người khác”.

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng V cho Ủy ban nh n d n Phường 2, thành phố Bảo Lộc, tỉnh L m Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "làm nhục người khác - phạm tội làm nhục người khác (điều 155 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng V phạm tội “Làm nhục người khác”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẢO LỘC
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2023/HS-ST
Ngày: 10-02-2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẢO LỘC

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

- Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Qui

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Tăng Thị Nhật Minh

2. Ông Nguyễn Tuyệt

- Thư ký phiên tòa: ông Đặng Khắc Cường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc tham gia phiên tòa: Bà Ngô Thị Ka Ly - Kiểm sát viên.

Hôm nay, ngày 10 tháng 02 năm 2023, tại Tòa án nhân dân thành phố Bảo Lộc, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 153/2022/HSST ngày 27 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hoàng V; tên gọi khác: không; sinh năm: 1985; nơi sinh: Lâm Đồng; Nơi ĐKNKTT và nơi cư trú: đường H, Phường M, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; Nghề nghiệp: Lái xe; Trình độ văn hóa: Lớp 9/12; Dân tộc: kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: thiên chúa; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Văn C, sinh năm 1959, hiện cư trú: đường H, Phường M, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng; con bà Võ Thị H, sinh năm 1957 (đã chết) Vợ: Nguyễn Thị H, sinh năm 1989, có 02 con, con lớn sinh năm 2010, con nhỏ sinh năm 2012, hiện vợ con đang sinh sống tại đường H, Phường M, thành phố Bảo Lộc.

Tiền án, Tiền sự: Không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt).

Bị hại: Chị Đoàn Dương Mộng T, sinh năm 1989; địa chỉ: đường B, phường L, thành phố Bảo Lộc, tỉnh Lâm Đồng. (vắng mặt, có đơn đề nghị vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Chị Đoàn Dương Mộng T là nhân viên làm Nail tại Thành phố Hồ Chí Minh. Vào năm 2019, chị T có gặp và nảy sinh tình cảm yêu đương với Nguyễn Hoàng V. Trong thời gian yêu nhau, chị T và Nguyễn Hoàng V đã nhiều lần quan hệ tình dục với nhau tại phòng trọ c a chị T quận A, Thành phố Hồ Chí Minh và tại khách sạn thành phố Bảo Lộc. Quá trình quan hệ tình dục, Nguyễn Hoàng V và Đoàn Dương Mộng T thường lấy điện thoại di động c a mình quay lại cảnh hai người quan hệ. Riêng chị T c ng thường xuyên tự quay video, chụp lại nh ng hình ảnh c a mình trong trạng thái khỏa thân và có nh ng hành vi nhạy cảm rồi gửi cho Nguyễn Hoàng V. V c ng lưu toàn bộ nh ng đoạn Clip và hình ảnh trên vào điện thoại c a mình. Do chị T và Nguyễn Hoàng V sinh sống xa nhau nên V nhiều lần yêu cầu chị T tự quay video clip hình ảnh nhạy cảm c a chị T gửi qua Zalo cho V; đồng thời V c ng d ng điện thoại c a mình tự chụp lại hình ảnh chị T tắm khi V và chị T gọi Video Call. Đến khoảng tháng 4/2022, Nguyễn Hoàng V và chị T xảy ra mâu thuẫn nên hai người chia tay nhau. Chị T trả lại chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart màu đen có gắn sim số “07XX XXX XXX” c a V mà trước đó V đã mua cho T, đồng thời V yêu cầu chị T trả lại số tiền 100.000.000 đồng (là số tiền V tự tính toán đã gửi cho chị T nhiều lần trong thời gian hai người yêu nhau) và số tiền 200.000.000 đồng (là tiền công V làm dịch vụ giấy tờ đất tranh chấp giúp chị T). Tuy nhiên, chị T cho r ng số tiền này V tự nghĩ ra nên chị T không trả và tránh mặt V. Nguyễn Hoàng V đã nhiều lần gọi điện, nhắn tin và gửi video, hình ảnh nhạy cảm c a chị T qua Zalo, Facebook cho T và yêu cầu chị T liên lạc với mình để nói chuyện, nếu không V sẽ gửi nh ng hình ảnh, video nhạy cảm c a chị T lên mạng đồng thời gửi cho nh ng người bạn c a T. Sau đó vào ngày 08/4/2022, V xuống Thành Phố Hồ Chí Minh tìm gặp để nói chuyện và yêu cầu chị T về thành phố Bảo Lộc, tuy nhiên chị T từ chối không về. Ngày 09/4/2022, V gọi điện thoại cho chị Nguyễn Thị Ngọc G là người trọ c ng với chị T và thông báo cho chị G biết việc V sẽ đăng tải các hình ảnh và video nhạy cảm c a chị T lên mạng internet nếu chị T không về lại thành phố Bảo Lộc nh m mục đích G nói lại cho T để T sợ hãi và liên lạc lại với V. Đến ngày 10/5/2022, V sử dụng tài khoản Facebook tên “H” trên điện thoại OPPO, gửi tin nhắn đến tài khoản Facebook tên “A” c a chị G 01 đoạn video tải trên mạng có độ dài 02 phút 36 giây quay cảnh bộ phận sinh dục nam và n đang quan hệ tình dục; 01 đoạn video dài 21 quay cảnh chị T mặc quần lót màu đen đang quay mông về phía màn hình (đây là đoạn video do chị T tự quay gửi cho anh V trong lúc còn quen nhau) và 01 ảnh chụp chị T đang tắm để lộ bầu ngực. Do có biết chị Nguyễn Thúy K có mối quan hệ họ hàng với T nên vào khoảng 09 giờ ngày 18/4/2022, tại thành phố Bảo Lộc, Nguyễn Hoàng V sử dụng tài khoản Facebook tên “H”, đăng ký b ng sim số “07XX XXX XXX” trên điện thoại di động nhãn hiệu OPPO c a mình để gửi tin nhắn qua messenge c a ứng dụng Facebook đến tài khoản tên “N” c a chị K 01 đoạn video tải trên mạng có độ dài 02 phút 36 giây quay cảnh bộ phận sinh dục nam và n đang quan hệ tình dục; 01 ảnh chụp chị T đang tắm để lộ bầu ngực và 01 ảnh ghép hình chị T và mẹ c a chị T. Tiếp đó, ngày 11/5/2022, V sử dụng tài khoản Zalo tên “B”, đăng ký b ng sim số “07XX XXX XXX” trên điện thoại Vsmart mà chị T trả lại cho V để gửi tin nhắn đến tài khoản Zalo tên “P” c a chị Phan Quang Khánh L (là người làm c ng với chị T) 01 đoạn video dài 19 giây quay bộ phận sinh dục n , không quay rõ mặt và 01 đoạn video dài 21 giây quay cảnh chị T mặc quần lót màu đen đang quay mông về phía màn hình. Đồng thời, V nhắn tin nhờ chị L nhắn giúp chị T trả nợ và liên lạc với V, nếu không V sẽ đăng hình ảnh và video nhạy cảm c a chị T lên mạng xã hội để làm nhục chị T. Sau khi gửi tin nhắn cho chị L, V đã đổi tên tài khoản Zalo từ “B” thành “T”. Sau khi gửi tin nhắn cho nh ng người bạn c a chị T nêu trên, Nguyễn Hoàng V đã xóa toàn bộ video và hình ảnh nhạy cảm c a chị T trong điện thoại, đồng thời V đập vỡ và vứt bỏ điện thoại OPPO c ng sim số “07XX XXX XXX”.

Tại Bản kết luận giám định số: 3457/KL-KTHS ngày 05/7/2022 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành Phố Hồ Chí Minh, kết luận: 04 tập tin video do chị Đoàn Dương Mộng T; chị Phan Quang Khánh L; chị Nguyễn Thúy K và chị Nguyễn Thị Ngọc G giao nộp cho Cơ quan CSĐT – Công an thành phố Bảo Lộc không bị cắt ghép, chỉnh sửa về nội dung.

Về vật chứng:Quá trình điều tra, Cơ quan CSĐT Công an thành phố Bảo Lộc đã tạm gi :

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83t bị cáo d ng để chuyển hình ảnh, video qua điện thoại OPPO sim số “07XX XXX XXX” và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart.

- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen bên trong gắn thẻ sim có dãy số 840XXXXXX.

Về phần trách nhiệm d n sự: Bị cáo Nguyễn Hoàng V đã bồi thường cho chị T 20.000.000đ (hai mươi triệu đồng), nay chị T không có yêu cầu gì về dân sự.

Tại bản cáo trạng số 14/CT-VKS ngày 23 tháng 12 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng V về tội “Làm nhục người khác” quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thừa nhận toàn bộ nội dung bản Cáo trạng c a Viện kiểm sát đã truy tố, bị cáo không thắc mắc hay khiếu nại gì nội dung c a bản cáo trạng.

Đại diện Viện kiểm sát vẫn gi nguyên nội dung bản Cáo trạng đã truy tố đối với bị cáo, đề nghị áp dụng điểm e khoản 2 Điều 155, điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo từ 9 đến 12 tháng tù cho hường án treo, thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.

Về vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83t và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen bên trong gắn thẻ sim có dãy số 84XXXXXX bị cáo d ng để chuyển hình ảnh, video nhạy cảm c a chị T và thực hiện hành vi phạm tội nên tịch T sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 đĩa CD có chứa hình ảnh và video ghi lại hình ảnh nhạy cảm c a chị T được lưu hồ sơ vụ án.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với viện kiểm sát

Bị cáo nói lời sau c ng: Bị cáo nhận thấy hành vi c a mình là sai, vi phạm pháp luật, xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN XÉT CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ s nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng c a Điều tra viên, Cơ quan điều tra Công an thành phố Bảo Lộc; c a Kiểm sát viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc trong quá trình kh i tố, điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về trình tự, th tục và thẩm quyền theo qui định c a Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến thắc mắc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Hội đồng xét xử thấy r ng, các hành vi quyết định tố tụng c a Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định c a pháp luật.

[2] Về nội dung vụ án: Bị cáo là người đã thành niên, bị cáo biết rất rõ việc d ng mạng xã hội Zalo và Facebook để gửi hình ảnh và video nhạy cảm c a chị Đoàn Thị Mộng T cho nhiều người đã xúc phạm đến nhân phẩm, danh dự và làm ảnh hư ng nghiêm trọng đến cuộc sống c a chị T và ảnh hư ng xấu đến trật tự xã hội, là hành vi vi phạm pháp luật bị pháp luật nghiêm cấm nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Xét lời khai nhận c a bị cáo tại phiên tòa ph hợp với lời khai c a người tham gia tố tụng khác và các tài liệu, chứng cứ đã được T thập trong quá trình điều tra vụ án, đ căn cứ kết luận bị cáo Nguyễn Hoàng V đã phạm tội “Làm nhục người khác”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm e khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự. Do đó, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Bảo Lộc đã truy tố bị cáo Nguyễn Hoàng V về tội danh và điều luật như Cáo trạng là có căn cứ và đúng pháp luật

[3] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã bồi thường cho bị hại, thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo nên áp dụng điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 để giảm nhẹ cho bị cáo.

Xét tính chất c a hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện là nghiêm trọng, thể hiện thái độ c a bị cáo coi thường kỷ cương pháp luật, xâm phạm trái pháp luật đến danh dự nhân phẩm c a người khác, gây mất trật tự trị an xã hội địa phương nói riêng và trật tự xã hội nói chung, xét cần thiết phải áp dụng cho bị cáo một mức hình phạt thỏa đáng, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, đã bồi thường cho người bị hại, chưa có tiền án, tiền sự, có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng, xét không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà có thể giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục c ng có khả năng giáo dục cải tạo đối với bị cáo.

[4] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

- Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83t, màu vàng hồng, so IMEI 1: 86XXXXXXX, số IMEI 2: 86****** và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen, kiểu Live, số số IMEI 1: 35XXXXXX, số IMEI 2: 35****** bên trong gắn thẻ sim có dãy số 84******, bị cáo d ng để chuyển hình ảnh, video nhạy cảm c a chị T và thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

- Đối với 01 đĩa CD có chứa hình ảnh và video ghi lại hình ảnh nhạy cảm c a chị T được lưu hồ sơ vụ án.

[5] Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hoàng V phạm tội “Làm nhục người khác”.

Áp dụng điểm e khoản 2 Điều 155; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Hoàng V 09 (chín) tháng tù cho hư ng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Hoàng V cho Ủy ban nh n d n Phường 2, thành phố Bảo Lộc, tỉnh L m Đồng giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục người bị kết án. Trường hợp người bị kết án thay đổi nơi cư trú thì việc Thi hành án thực hiện theo quy định tại Điều 92 Luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch T sung vào ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A83t, màu vàng hồng, so IMEI 1: 86XXXXXX, số IMEI 2: 86****** và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Vsmart, màu đen, kiểu Live, số số IMEI 1: 35XXXXXXX, số IMEI 2: 356******* bên trong gắn thẻ sim có dãy số 84XXXXXX.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27/12/2022 gi a Công an thành phố Bảo Lộc với Chi cục thi hành án dân sự thành phố Bảo).

3. Về án phí: Căn cứ Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 c a Uỷ ban thường vụ Quốc hội về lệ phí, án phí tòa án.

Buộc bị cáo Nguyễn Hoàng V phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Đối với người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ