- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lơ Lo7ng Tuấn Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Jơr Lơng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƢƠNG TỈNH LÂM ĐỒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HS-ST Ngày: 21-3-2023 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐƠN DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Kim Ngân.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Chinh;
2. Ông Lê Văn Hiển;
- Thư ký phiên toà: Bà Hoàng Mỹ Dung; Cán bộ Toà án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Ngân, Kiểm sát viên.
Ngày 21/3/2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Đơn Dương, tỉnh Lâm Đồng, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 04/2023/HSST ngày 10/02/2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 07/2023/QĐXXST-HS ngày 22/02/2023 và Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 02/TB-TA ngày 01/3/2023, đối với bị cáo:
Họ và tên: Jơr Lơng T; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 28/8/1998 tại Lâm Đồng; Hộ khẩu thường trú: Thôn MB, xã Đa Quyn, huyện ĐT, tỉnh Lâm Đồng; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Chu Ru; Tôn giáo: Công giáo; Trình độ học vấn: Lớp 03/12; Nghề nghiệp: lao động tự do; Con ông: Ya D, sinh năm 1972 và con bà Ma B, sinh năm 1982, hiện ở tại Thôn MB, xã Đa Quyn, huyện ĐT, tỉnh Lâm Đồng; Anh, em ruột: có 02 người, lớn sinh năm 2001, nhỏ sinh năm 2004, bị cáo là con đầu trong gia đình; Vợ, con: chưa có; Tiền án, tiền sự: không.
Bị cáo hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đơn Dương từ ngày 23/11/2022 cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Jơr Lơng T : Bà Mơ Thiên, sinh năm 1985 - Trợ giúp viên pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Lâm Đồng.
Địa chỉ: Tầng 1 (khối 5 tầng), Trung tâm hành chính tỉnh Lâm Đồng, số 36 đường Trần Phú, phường 4, thành phố Đà Lạt, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt
- Bị hại: Anh Ya Ng, sinh năm 1997; nghề nghiệp: Làm nông; Hộ khẩu thường trú: Thôn ĐH, xã T, huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ sáng ngày 21/10/2022, Jơr Lơng T đi bộ từ thôn Ma Đanh, xã Tu Tra, huyện Đơn Dương về huyện Đức Trọng trên đường đi thì Tuấn thấy có 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu Shmoto biển số 49N9 - 9149 của ông Ya Ngụy, để ở bên đường gần vườn của ông Ya Ngụy ở thôn R’Lơm, xã Tu Tra, không ai trông coi. Do không có phương tiện đi lại nên Jơr Lơng T nảy sinh ý định trộm cắp. Thực hiện ý định trên, Jơr Lơng T lén lút bẻ ổ khóa xe rồi nổ máy chạy về huyện Đức Trọng. Do sợ bị phát hiện nên trên đường đi Jơr Lơng T đã tháo biển số xe rồi vứt bỏ ở ven đường. Sau khi lấy trộm được xe mô tô trên, Jơr Lơng T dùng làm phương tiện đi lại. Đến khoảng 17 giờ 30 ngày 22/11/2022, khi Tuấn đang đi trên đường ở xã Tu Tra, huyện Đơn Dương thì bị ông Ya Ngụy phát hiện rồi đưa Tuấn về trụ sở Công an để làm việc và đã thừa nhận toàn bộ hành vi vi phạm. (BL: 26, 34-35, 42-50, 51-59, 72-78, 88-92).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 56/2022/KL-HĐĐGTS ngày 25/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự xác định: Xe mô tô biển số 49M9-9149 nhãn hiệu Shmoto có giá trị là 5.600.000đ
Cáo trạng số 06/CT-VKSĐD ngày 9/02/2023, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương truy tố bị cáo Jơr Lơng T về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên bản cáo trạng. Đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Jơr Lơng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Jơr Lơng T mức án từ 06 đến 09 tháng tù.
Bị cáo không khiếu nại bản cáo trạng, khai nhận: Vào khoảng 09 giờ ngày 21/10/2022 bị cáo đi bộ từ thôn Ma Đanh, xã Tu Tra, huyện Đơn Dương về huyện Đức Trọng, khi đi đến khu vực thôn R’ Lơm, xã Tu Tra bị cáo nhìn thấy có 01 chiếc xe mô tô dựng ở bên lề đường không có người trông coi nên đã lấy trộm chiếc xe trên làm phương tiện đi lại. Để tránh bị phát hiện, bị cáo đã tháo bỏ biển số xe. Hành vi của bị cáo đến ngày 22/11/2022 bị chủ xe là ông Ya Ngụy phát hiện và bị bắt giữ cùng với tang vật. Bị cáo không tranh luận với đại diện Viện kiểm sát, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ cho bị cáo.
Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như sau: bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, là người đồng bào dân tộc thiể số nhận thức pháp luật kém; mục đích trộm cắp tài sản là do không có phương tiện đi lại; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên đề nghị xử phạt bị cáo mức thấp nhất theo đề nghị của Viện kiểm sát.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đơn Dương, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội: Vào ngày 21/10/2022, Jơr Lơng T đã lén lút chiếm đoạt 01 (một) xe mô tô nhãn hiệu SHmoto biển số 49N9 - 9149 của ông Ya Ngụy ở thôn R’Lơm, xã Tu Tra, Đơn Dương với giá trị tài sản là 5.600.000đ là vi phạm pháp luật.
Xét lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, lời khai bị hại, phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đã có đủ cơ sở kết luận: Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị 5.600.000đ nêu trên của Jơr Lơng T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân huyện Đơn Dương đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.
Đánh giá tính chất vụ án: Xét tính chất, mức độ do hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo lợi dụng lúc không có ai trông coi để trộm cắp tài sản, hành vi của bị cáo thể hiện tính liều lĩnh, coi thường pháp luật. Bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, bị cáo biết việc lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì muốn có tài sản để sử dụng làm phương tiện đi lại cá nhân nên vẫn thực hiện. Vì vậy, cần phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có thời gian cải tạo, nhằm đảm bảo đấu tranh và phòng ngừa chung.
Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ:
Tình tiết tăng nặng: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng.
Tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng nên được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s, i khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về vật chứng:
- 01 xe mô tô BKS 49M9 – 9149, nhãn hiệu SHmoto; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô số 018454 của xe mô tô BKS 49M9 – 9149 xác định là tài sản của bị hại ông Ya Ngụy nên Cơ quan CSĐT công an huyện Đơn Dương đã trả lại cho ông Ya Ngụy là đúng quy định pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: Ông Ya Ngụy đã nhận lại tài sản, nay không có yêu cầu gì nên không xem xét.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Jơr Lơng T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Jơr Lơng T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam (ngày 23 tháng 11 năm 2022).
2. Về án phí: Áp dụng Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo Jơr Lơng T phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bào chữa cho bị cáo có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND tỉnh Lâm Đồng; - VKSND huyện Đơn Dương; - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - Công an huyện Đơn Dương; - Thi hành án dân sự huyện Đơn Dương; - Bị cáo; Bị hại; - Người bào chữa cho bị cáo; - Lưu HS; AV. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Nguyễn Thị Chinh - Lê Văn Hiển | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Kim Ngân THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Thị Kim Ngân |