- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Đình Sang - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Đình S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HS-ST Ngày 10-02-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Lâm Thúy Liễu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Kim Linh
2. Ông Hoàng Đình Ngân
- Thư ký phiên tòa: Bà Đàm Nguyên Phượng là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành tham gia phiên tòa: bà Nguyễn Thị Huỳnh Như, Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 02 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 102/2022/TLST-HS ngày 14 tháng 12 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2023/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2023 đối với bị cáo: Lê Đình S, sinh năm 1995 tại tỉnh Tây Ninh; hộ khẩu thường trú và chỗ ở hiện nay: khu phố Hiệp L, phường Hiệp T, thị xã Hòa Th, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: cao đài; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Đình Ch và bà Nguyễn Thị Thúy H; có vợ (chưa đăng ký kết hôn), chưa có con; tiền án, tiền sự: không có; nhân thân:
- Bản án số 33/2015/HSST ngày 09/6/2015 Tòa án nhân dân huyện Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”;
- Bản án số 85/2015/HSST ngày 30/9/2015 Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xử phạt bị cáo 05 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 24/10/2022, chuyển tạm giam từ ngày 02/11/2022 đến nay. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1. Anh Nguyễn Đức Kh, sinh năm 2000 “vắng mặt”
Địa chỉ: ấp Suối M, xã Thái B, huyện Châu Th, tỉnh Tây Ninh.
2. Chị Nguyễn Thị U, sinh năm 1974 “vắng mặt”
Địa chỉ: ấp Bình Ph, xã Thái B, huyện Châu Th, tỉnh Tây Ninh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ 30 phU ngày 19/10/2022, Lê Đình S điều khiển xe mô tô biển số 70H1-400.81 của chị Phạm Thị Cẩm Nh, sinh năm 2002, ngụ ấp Thạnh Tr, xã Thạnh T, huyện Tân B, tỉnh Tây Ninh (là người sống chung như vợ chồng với S) đi đến khu vực ấp Suối D, xã Thái B, huyện Châu Th, tỉnh Tây Ninh tìm tài sản để trộm cắp. Tại đây, S dừng xe mô tô trên để đi bộ vào nhà anh Phan Văn Đ, sinh năm 1987, ngụ ấp Suối D, xã Thái B, huyện Châu Th, tỉnh Tây Ninh nhưng anh Đ phát hiện la lên nên S bỏ xe mô tô biển số 70H1-400.81 ở lại hiện trường và nhanh chóng tẩu thoát. Đến ngày 24/10/2022, Lê Đình S đến Công an xã Thái Bình đầu thú. Qua điều tra S còn khai nhận đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản như sau:
Vụ thứ nhất: vào khoảng 07 giờ ngày 09/9/2022, Lê Đình S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vario, biển số 70G1-821.90 của S đi đến khu vực Suối Muồn, xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh tìm tài sản để trộm cắp. S vào hẻm bê tông phát hiện có một nhà bên trái không có người trông coi, S dựng xe trước nhà của anh Nguyễn Đức Kh, sinh năm 2000, ngụ ấp Suối Muồn, xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh rồi đi bộ vào phòng khách lén lU lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS MAX, dung lượng 256 G, lấy tiền trong ví da của anh Kh với số tiền 2.000.000 đồng và vứt chiếc ví nơi hàng rào trong sân nhà của anh Kh rồi nhanh chóng tẩu thoát. S đi đến khu vực chợ phường 4, thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bán điện thoại cho một người không rõ họ tên, địa chỉ với số tiền 1.000.000 đồng.
Vụ thứ hai: vào khoảng 07 giờ ngày 21/9/2022, Lê Đình S điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Vision, màu bạc nâu biển số 70H1-400.81 đi rảo trên các tuyến đường thuộc địa bàn xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh để tìm nhà nào sơ hở sẽ lén lU, đột nhập vào lấy trộm tài sản. S tìm thấy 01 nhà cửa mở không ai trông coi nên dựng xe mô tô ở ngoài và đi bộ vào khu vực phòng bếp nhà của chị Nguyễn Thị U, sinh năm 1974, ngụ ấp Bình Phong, xã Thái Bình, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh lấy 01 điện thoại đi động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy Z F711B, dung lượng 128G bỏ vào túi quần bên trái và đi bộ ra nơi để xe. Lúc này, S thấy chị U đang phơi quần áo vì sợ bị phát hiện nên S hỏi lại “Chị ơi có biết nhà Phúc không” để cho chị U mất cảnh giác. Chị U trả lời “không”. Sau đó, S điều khiển xe mô tô về nhà và bán điện thoại trên cho Khải ở thành phố Hồ Chí Minh (không rõ họ tên, địa chỉ) trên mạng xã hội Facebook với giá 1.500.000 đồng.
Tại Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐG ngày 09/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh: 01 điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE XS MAX, dung lượng 256G (đã qua sử dụng) tại thời điểm định giá ngày 09/9/2022 có giá trị là 7.530.000 đồng và 01 điện thoại đi động nhãn hiệu SAMSUNG Galaxy Z Flip 3 F711B, dung lượng 128G ( đã qua sử dụng) tại thời điểm định giá ngày 21/9/2022 có giá trị là 6.660.000 đồng.
Bản Cáo trạng số 97/CT-VKSCT ngày 30 tháng 11 năm 2022, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh đã truy tố bị cáo Lê Đình S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự .
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
Quan điểm của Viện kiểm sát: tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh trong phần tranh luận giữ quan điểm truy tố bị cáo về tội danh trên, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Đình S từ 06 tháng đến 12 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/10/2022, không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng: đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo 01 điện thoại di động, 01 căn cước công dân và tiền Việt Nam 3.140.000 đồng.
Về bồi thường thiệt hại: ghi nhận bị hại đã nhận tiền bồi thường, không yêu cầu bồi thường thêm.
Lời nói sau cùng của bị cáo: mong Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Thành, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo: lời khai của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với khai của bị hại, nhân chứng và những chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, có đủ cơ sở kết luận ngày 09/9/2022 bị cáo đã lén lU vào nhà của anh Nguyễn Đức Kh tại ấp Suối M, xã Thái B, huyện Châu Th, tỉnh Tây Ninh lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max trị giá 7.530.000 đồng và tiền mặt trong ví. Ngày 21/9/2022, bị cáo tiếp tục vào nhà của chị Nguyễn Thị U tại ấp Bình Ph xã Thái B, huyện Châu Th, tỉnh Tây Ninh lén lU lấy trộm 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy Z Flip trị giá 6.660.000 đồng. Đến ngày 19/10/2022, bị cáo vào nhà của anh Phan Văn Đ tại ấp Suối D, xã Thái B để trộm cắp tài sản thì bị phát hiện. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh xác định số tiền bị cáo lấy trộm trong ví của anh Kh là 2.000.000 đồng. Tuy nhiên, lời khai của bị hại và bị cáo đều xác nhận số tiền trong ví chỉ có 560.000 đồng. Do đó, Hội đồng xét xử xác định số tiền bị cáo trộm trong ví của anh Kh là 560.000 đồng và hành vi của bị cáo có đủ căn cứ cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, đồng thời gây bất an, lo lắng cho người dân, ảnh hưởng trật tự an toàn xã hội nên cần có mức án tương xứng để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyện khắc phục hậu quả là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Về tình tiết tăng nặng: bị cáo phạm tội 02 lần trở lên là tình tiết tăng nặng theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo các tài sản không liên quan đến việc phạm tội, gồm:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A53 5G, màu đen, số seri: R5CT34FKMAD, số Imei 1: 353842192008272, số Imei 2: 354708202008272 (đã qua sử dụng);
- 01 căn cước công dân số 072095004555, cấp ngày 12/8/2021 mang tên Lê Đình S;
- Tiền Việt Nam: 3.140.000 đồng.
Về bồi thường thiệt hại: anh Nguyễn Đức Kh đã nhận số tiền khắc phục hậu quả là 8.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường. Chị Nguyễn Thị U đã nhận số tiền khắc phục hậu quả là 7.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường.
Về án phí: áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Đối với chị Phạm Thị Cẩm Nh là chủ sở hữu xe mô tô biển số 70H1-400.81, chị Nhung không biết S lấy xe để đi trộm cắp tài sản nên không xem xét xử lý.
Đối với mô tô biển số 70G1-821.90 là xe của Lê Đình S do xe đã bán cho người khác nên không thu hồi được.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Tuyên bố bị cáo Lê Đình S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt bị cáo Lê Đình S 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 24/10/2022.
2. Các biện pháp tư pháp:
Về xử lý vật chứng: áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự trả lại cho bị cáo các tài sản sau:
- 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung, loại Galaxy A53 5G, màu đen, số seri: R5CT34FKMAD, số Imei 1: 353842192008272, số Imei 2: 354708202008272 (đã qua sử dụng);
- 01 căn cước công dân số 072095004555, cấp ngày 12/8/2021 mang tên Lê Đình S;
- Tiền Việt Nam: 3.140.000 đồng.
Về bồi thường thiệt hại: anh Nguyễn Đức Kh đã nhận số tiền 8.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường. Chị Nguyễn Thị U đã nhận số tiền 7.000.000 đồng, không yêu cầu bị cáo bồi thường.
3. Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Đương sự; - VKSND huyện Châu Thành; - VKSND tỉnh Tây Ninh; - Nhà tạm giữ; - Cơ quan điền tra Công an huyện Châu Thành; - PV06 công an tỉnh Tây Ninh; - Chi Cục THADS huyện Châu Thành; - Sở Tư pháp tỉnh Tây Ninh; - TAND tỉnh Tây Ninh; - UBND xã; - Bộ phần thi hành án; - Lưu: Hồ sơ, tập án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lâm Thúy Liễu |