- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "tranh chấp ly hôn, nuôi con"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Phan Văn Th là được ly hôn với chị Lê Thị Th.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình và Nghị
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN TỈNH NGHỆ AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2023/HNGĐ – ST Ngày 27/03/2023 V/v “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NGHĨA ĐÀN, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Anh Xuân.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Văn Hòa.
Ông Nguyễn Sỹ Nghị.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Nghĩa Đàn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Linh - Kiểm sát viên
Trong ngày 27 tháng 03 năm 2023 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Nghĩa Đàn xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 206/2022/TLST – HNGĐ ngày 10 tháng 10 năm 2022 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con”.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 13/2023/QĐST - HNGĐ ngày 15 tháng 03 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Anh Phan Văn Th – sinh năm 1982. (Có mặt).
Nơi cư trú: xóm Tr, xã Nghĩa Kh, huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An.
2. Bị đơn: Chị Lê Thị Th – sinh năm 1976. (Có mặt).
Nơi cư trú: xóm Tr, xã Nghĩa Kh, huyện Nghĩa Đàn, Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và trong quá trình xét xử, nguyên đơn anh Phan Văn Th trình bày:
Anh Th và chị Lê Thị Th có đăng ký kết hôn vào ngày 13 tháng 06 năm 2007 tại UBND xã Nghĩa Kh, huyện Nghĩa Đàn, tỉnh Nghệ An. Hôn nhân được xác lập trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn anh chị sống hạnh phúc với nhau được thời gian khá dài, sau đó xẩy ra mâu thuẫn với nhau. Nguyên nhân xẩy ra mâu thuẫn vợ chồng là do bất đồng quan điểm sống, không có tiếng nói chung trong cuôc sống vợ chồng nên hai vợ chồng đã sống ly thân nhau. Trong thời gian sống ly thân nhau thì anh chị không ai hỏi han, quan tâm gì đến nhau. Hiện nay anh Th không còn tình cảm với chị Th nữa và yêu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung là Phan Thị H – sinh ngày 02/07/2007 và Phan Thành Đ – sinh ngày 29/7/2010. Nếu ly hôn anh Th để hai cháu cho chị Th nuôi vì hai cháu ở với chị Th từ nhỏ và anh Th sẽ cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 1.500.000 đồng/tháng/1 cháu.
Về tài sản chung, nợ chung: Anh Th không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn chị Lê Thị Th trình bày: Về thời gian, địa điểm và điều kiện kết hôn như anh Th trình bày là đúng. Trong quá trình chung sống với nhau thì vợ chồng sống hạnh phúc với nhau được thời gian khá dài, sau đó thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn vợ chồng. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do anh Th lo chơi cờ bạc, trai gái không lo cuộc sống gia đình nên anh chị đã sống ly thân nhau. Hiện nay anh Th yêu cầu Tòa án giải quyết cho vợ chồng ly hôn thì chị Th không đồng ý vì chị đang còn tình cảm với anh Th và muốn vợ chồng về sống đoàn tụ với nhau để nuôi dạy con cái.
Về con chung: Vợ chồng có hai con chung như anh Th trình bày. Nếu ly hôn thì nguyện vọng của chị Th được nuôi cháu H, còn cháu Đ để cho anh Th nuôi. Nếu các con không đồng ý ở với anh Th thì chị nuôi cả hai con chung và yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi hại con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng/tháng/2 cháu.
Về tài sản chung: Chị không đồng ý ly hôn nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát:
Về trình tự tố tụng: Quá trình giải quyết vụ án Thẩm phán đã thực hiện đúng trình tự, thủ tục tố tụng, ban hành các quyết định đúng quy định của pháp luật. Tại phiên tòa Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã làm đúng trình tự thủ tục tố tụng. Nguyên đơn và bị đơn chấp hành đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật.
Về việc giải quyết vụ án đề nghị Tòa án chấp nhận yêu cầu của anh Phan Văn Th là được ly hôn với chị Lê Thị Th. Về con cái: Đề nghị giao các con chung cho chị Lê Thị Th được quyền trực tiếp trông nom chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Buộc anh Th cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Th mỗi tháng từ 3.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng/tháng/2 cháu. Về tài sản, nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát và đương sự có mặt tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
1. Về thẩm quyền giải quyết: Theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân có thẩm quyền giải quyết yêu cầu của anh Phan Văn Th.
2. Về thủ tục tố tụng: Tại phiên tòa, các đương sự đều có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án. Căn cứ Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
3. Về quan hệ hôn nhân: Anh Phan Văn Th và chị Lê Thị Th có mối quan hệ hôn nhân hoàn toàn tự nguyện và hợp pháp. Sau khi về chung sống với nhau được một thời gian khá dài thì vợ chồng thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn với nhau. Nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng là do tính tình không hợp nhau, thường xuyên chửi bới nhau, dẫn đến cuộc sống vợ chồng không có hạnh phúc nên hai vợ chồng đã sống ly thân nhau. Trong thời gian sống ly thân thì hai bên cũng không liên lạc hỏi thăm và quan tâm gì đến nhau, điều đó chứng tỏ mâu thuẫn vợ chồng đã trầm trọng, mục đích hôn nhân không đạt được, đời sống chung không thể kéo dài nên cần phải chấp nhận yêu cầu của anh Phan Văn Th là được ly hôn với chị Lê Thị Th.
4. Về quan hệ con chung: Anh Th và chị Th có hai con chung là Phan Thị H – sinh ngày 02/07/2007 và Phan Thành Đ – sinh ngày 29/7/2010. Nguyện vọng của anh Th là để hai con chung cho chị Th nuôi vì hai cháu ở với chị Th từ nhỏ đến lớn. Nguyện vọng của chị Th là để anh Th nuôi cháu Đ, nhưng nếu cháu Đ không ở với bố thì chị nuôi cả hai cháu. Xét nguyện vọng của các đương sự là hoàn toàn phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy nhiên, xét nguyện vọng của các cháu thì đều có nguyện vọng ở với chị Th và hiện nay hai cháu đang ở với chị. Do vậy, để cuộc sống của con chung được ổn định, không bị xáo trộn về mặt sinh hoạt, học tập thì nên giao con chung cho chị Th được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp. Về cấp dưỡng nuôi con chung thì chị Th yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi hai con chung mỗi tháng 5.000.000 đồng. Tuy nhiên, xét hoàn cảnh và thu nhập của anh Th thì cần chấp nhận mức cấp dưỡng nuôi con chung mỗi tháng 3.000.000 đồng/tháng/2 cháu là phù hợp.
5. Về quan hệ tài sản, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
6. Về án phí: Anh Th phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm và án phí cấp dưỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên!
QUYẾT ĐỊNH
Áp dụng các Điều 28, Điều 35, điều 147, Điều 227 và 228 – Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, Điều 56, 71, 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí Tòa án. Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Phan Văn Th là được ly hôn với chị Lê Thị Th.
2. Về con chung: Giao cho chị Lê Thị Th được quyền trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục hai con chung là Phan Thị H – sinh ngày 02/07/2007 và Phan Thành Đ – sinh ngày 29/7/2010.
Anh Phan Văn Th có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi hai con chung cho chị Lê Thị Th mỗi tháng mỗi cháu 1.500.000 đồng, tính từ tháng 4 năm 2023 cho đến lúc con chung trưởng thành đủ 18 tuổi; Anh Th có quyền, nghĩa vụ đi lại thăm nom con chung, không ai được cản trở.
Vì lợi ích mọi mặt của con chung, khi có căn cứ hoặc có lý do chính đáng có thể thay đổi người nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về chia tài sản, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản.
4. Về án phí: Anh Phan Văn Th phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí ly hôn sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con chung. Anh Th đã nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tại biên lai thu tiền số 0005856 ngày 10 tháng 10 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Nghĩa Đàn, còn phải nộp thêm 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).
Án xử công khai sơ thẩm có mặt nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND h. Nghĩa Đàn; - Chi cục THADS h. Nghĩa Đàn; - TAND tỉnh Nghệ An; - UBND xã Nghĩa Kh, h. Nghĩa Đàn; - Lưu hồ sơ vụ án. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN Vũ Văn Hòa Nguyễn Sỹ Nghị | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Anh Xuân HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Anh Xuân |