- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Văn P, phạm tội "đào ngũ" - phạm tội đào ngũ (điều 402 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC 1 QUÂN KHU 5 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số 12/2022/HS-ST Ngày 30 - 11 - 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC 1 QUÂN KHU 5
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: 2// Nguyễn Tấn Tùng.
Các Hội thẩm quân nhân:
3// Trần Văn Dũng;
3//Trần Xuân Sơn.
- Thư ký phiên tòa: 1// Nguyễn Tất Trình, Thư ký, Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 5.
- Đại diện Viện kiểm sát quân sự Khu vực 51 Quân khu 5 tham gia phiên tòa: 3/ Tô Thị Tuyết, Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 11 năm 2022, tại Hội trường Lữ đoàn A, Quân khu S, xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 12/2022/TLST-HS ngày 27/10/2022, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 12/2022/QĐXXST-HS ngày 16/11/2022 đối với bị cáo:
Lê Văn P; sinh ngày 19/6/1999 tại tỉnh Khánh Hòa; giới tính: Nam; nơi ĐKNKTT: Thôn Hiền L, xã Vạn L, huyện Vạn N, tỉnh Khánh Hòa; cấp bậc, chức vụ, đơn vị khi phạm tội: B2, Chiến sĩ, Trung đội Chỉ huy, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn A, Quân khu S; quốc tịch: Việt Nam; trình độ văn hóa: 8/12; dân dộc: Kinh; tôn giáo: không; con ông Lê Văn H, sinh năm 1971 và bà Huỳnh Thị Xuân L, sinh năm 1971; tiền án, tiền sự: không; về nhân thân: Chưa bị kết án hay xử lý hành chính, xử lý kỷ luật lần nào; bị bắt tạm giữ từ ngày 19/9/2022, tạm giam từ ngày 22/9/2022, hiện đang bị tạm giam tại Trại tạm giam Quân khu S; có mặt.
Người làm chứng:
- Ông Thái Văn T; có mặt.
- Ông Lê Duy Th; có mặt.
- Ông Nguyễn Tấn Ng; có mặt.
- Ông Lê Văn H; có mặt.
- Bà Nguyễn Thị Ngọc H; có mặt.
Đại diện Lữ đoàn A, Quân khu S tham dự phiên tòa: 3// Nguyễn Trường S, Phó Chính ủy; có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Tháng 02 năm 2021, Lê Văn P nhập ngũ. Khi biết Nguyễn Thị Ngọc H (trú tại thị trấn Tân Q, huyện Bình T, tỉnh Vĩnh Long) là người yêu đến thăm, nên khoảng 11 giờ ngày 21/4/2022, Lê Văn P đã tự ý bỏ đơn vị, gọi xe ôm chở đến Nhà nghỉ Mỹ Lệ ở thị trấn Phù M, huyện Phù M, tỉnh Bình Định để gặp H. Biết P trốn khỏi đơn vị H có khuyên ngăn nhưng P nhất quyết không trở lại đơn vị. Khoảng 16 giờ 00’ cùng ngày, P và H đón xe khách đi Thành phố Hồ Chí Minh, rồi tiếp tục đi đến thành phố Mỹ Th, tỉnh Tiền Giang. P thuê nhà số 132, đường Thái Sanh Hạnh chung sống với H. Đến ngày 08/8/2022, Lê Văn P xin làm tại tiệm đóng giày tư nhân, địa chỉ 490 Nguyễn Tri Ph, thành phố Mỹ Th. Sau khi phát hiện P bỏ trốn, đơn vị đã phối hợp với địa phương và gia đình truy tìm nhưng không có kết quả.
Các ngày 28/4/2022, 25/5/2022 và 08/6/2022, Lữ đoàn A, Quân khu S gửi Giấy báo đào ngũ đối với quân nhân Lê Văn P đến Ban Chỉ huy quân sự (Ban CHQS) huyện Vạn N, tỉnh Khánh Hòa; Ủy ban nhân dân (UBND) xã Vạn L, huyện Vạn N; gia đình quân nhân Lê Văn P để biết, có biện pháp quản lý, giáo dục quân nhân Lê Văn P trở lại đơn vị.
Ngày 12/5/2022, Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn A, Quân khu S ra Quyết định số 01/QĐ-KL kỷ luật Lê Văn P về hành vi đào ngũ với hình thức giáng cấp bậc quân hàm từ B1 xuống B2. Ngày 19/7/2022, Lữ đoàn A, Quân khu S ban hành Thông báo về việc xử lý kỷ luật quân nhân đào ngũ số 617/LT-TM gửi đến Ban CHQS huyện Vạn N, tỉnh Khánh Hòa; UBND xã Vạn L, huyện Vạn N và gia đình quân nhân Lê Văn P. Theo yêu cầu của đơn vị, nội dung kỷ luật đã được gia đình thông tin đến P, nhưng P vẫn không quay trở lại đơn vị để tiếp tục thực hiện nghĩa vụ quân sự. Ngày 07/9/2022, Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực 2 Quân khu 5 ban hành Quyết định truy nã bị can số 01/QĐ-TN đối với Lê Văn P. Ngày 19/9/2022, Lê Văn P bị Công an huyện Bình T, tỉnh Vĩnh Long bắt theo Quyết định truy nã và bàn giao cho Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực 2 Quân khu 5 để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn P thừa nhận: Vào sáng ngày 21/4/2022, khi biết bạn gái Nguyễn Thị Ngọc H từ tỉnh Vĩnh Long ra thăm nên khoảng 11 giờ cùng ngày sau khi ăn cơm xong, bị cáo đã bỏ trốn khỏi đơn vị và gọi xe ôm chở đến Nhà nghỉ Mỹ Lệ để gặp H. Tại đây, bị cáo cho H biết việc bị cáo trốn khỏi đơn vị, không muốn phục vụ trong Quân đội và muốn sống chung với H, H có khuyên quay trở lại đơn vị nhưng bị cáo không đồng ý. Khoảng 16 giờ cùng ngày, bị cáo và H đón xe đi đến thành phố Mỹ Th, tỉnh Tiền Giang. Khi đến nơi, bị cáo thuê trọ tại nhà số 132 Thái Sanh Hạnh để sống cùng H. Đến ngày 08/8/2022, bị cáo mới đi xin việc làm tại xưởng đóng giày tư nhân. Sau đó, bị cáo và H về thăm gia đình H ở huyện Bình T, tỉnh Vĩnh L vào ngày 19/9/2022 thì bị cáo bị Công an huyện Bình T bắt giữ.
Người làm chứng Lê Duy Th (Trung đội trưởng của P) và Thái Văn T (Phó Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 1) khai: Khoảng 11 giờ ngày 21/4/2022, Lê Duy Th triển khai trực ban báo động kiểm tra quân số phát hiện vắng mặt quân nhân Lê Văn P; Th tiến hành lập biên bản và báo cáo vụ việc lên Chỉ huy Tiểu đoàn 1. Sau đó, đơn vị cử Thái Văn T về địa phương, phối hợp cùng gia đình để động viên, giáo dục đưa P trở lại đơn vị nhưng không có kết quả. Ngày 12/5/2022, Tiểu đoàn trưởng, Tiểu đoàn 1 ra Quyết định kỷ luật bằng hình thức giáng cấp bậc quân hàm từ B1 xuống B2 đối với quân nhân Lê Văn P về hành vi đào ngũ. Trình tự, thủ tục xử lý kỷ luật đối với Lê Văn P đúng theo hướng dẫn tại Thông tư số: 16/2020/TT-BQP ngày 21/02/2020 của Bộ Quốc phòng.
Người làm chứng Lê Văn H là cha của bị cáo cho biết: Trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự, P đào ngũ vào Miền Nam sinh sống. P vài lần liên lạc với gia đình, tôi cho P biết đơn vị đã ra quyết định kỷ luật về hành vi đào ngũ và động viên trở lại đơn vị nhưng P không đồng ý.
Người làm chứng Nguyễn Thị Ngọc H khai: Trưa ngày 21/4/2022, tại Nhà nghỉ Mỹ Lệ, P kể việc bỏ trốn khỏi đơn vị, tôi khuyên quay trở lại đơn vị nhưng P không đồng ý. Sau đó, chúng tôi đón xe khách vào thành phố Mỹ Th, tỉnh Tiền Giang thuê nhà, sống chung với nhau. Vào ngày 19/9/2022, tôi và P về thăm gia đình tôi ở huyện Bình T, tỉnh Vĩnh Long thì P bị Công an huyện Bình T bắt giữ, lúc này tôi mới biết P bị truy nã.
Cáo trạng số: 04/CT-VKSQSKV51 ngày 26/10/2022 của Viện kiểm sát quân sự Khu vực 51 Quân khu 5 truy tố bị can Lê Văn P về tội "Đào ngũ" quy định tại khoản 1 Điều 402 Bộ luật Hình sự (BLHS).
Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quyết định truy tố đối với bị cáo. Sau khi phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, lỗi, hậu quả của vụ án, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX) áp dụng khoản 1 Điều 402; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 BLHS. Xử phạt bị cáo Lê Văn P từ 18 tháng tù đến 24 tháng tù.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận gì về nội dung lời luận tội, chỉ xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo nói lời sau cùng: Rất hối hận về việc làm của mình, xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, HĐXX nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực 2 Quân khu 5, Điều tra viên, Viện kiểm sát quân sự Khu vực 51 Quân khu 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự (BLTTHS). Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Như vậy, có đủ cơ sở để khẳng định các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định pháp luật.
Sau khi thẩm tra lời khai của bị cáo và những người làm chứng. Qua xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. HĐXX nhận thấy: Trong thời gian thực hiện nghĩa vụ quân sự tại Trung đội Chỉ huy, Tiểu đoàn 1, Lữ đoàn A, Quân khu S, Lê Văn P cảm thấy gò bó, không muốn phục vụ trong Quân đội. Khoảng 11 giờ ngày 21/4/2022, P đã tự ý bỏ trốn khỏi đơn vị và đón xe khách vào thành phố Mỹ Th, tỉnh Tiền Giang làm thuê, sinh sống và không trở lại đơn vị nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự.
Ngày 12/5/2022, đơn vị đã xử lý kỷ luật P bằng hình thức giáng cấp bậc quân hàm từ B1 xuống B2 về hành vi đào ngũ. Ngày 19/7/2022, đơn vị đã ban hành Thông báo về việc xử lý kỷ luật quân nhân P đào ngũ gửi chính quyền địa phương, cơ quan quân sự cấp huyện và gia đình quân nhân P nhưng sau 30 ngày kể từ ngày có Thông báo, P cũng nhất quyết không trở lại đơn vị, nên có đủ cơ sở xác định hành vi của P thuộc trường hợp “đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm” quy định tại khoản 4 Điều 42 Thông tư số: 16/2020/TT-BQP ngày 21/02/2020 của Bộ Quốc phòng quy định việc áp dụng các hình thức kỷ luật, trình tự, thủ tục, thời hiệu, thời hạn và thẩm quyền xử lý kỷ luật trong Bộ Quốc phòng. Vì vậy, HĐXX kết luận bị cáo Lê Văn P phạm tội: "Đào ngũ" quy định tại khoản 1 Điều 402 BLHS.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể quan trọng được pháp luật hình sự bảo vệ, đó là kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của Quân đội, xâm hại chế độ thực hiện nghĩa vụ quân sự của công dân, làm ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị và truyền thống tốt đẹp của người quân nhân.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 BLHS.
Qua xem xét tính chất vụ án, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, lỗi, hậu quả, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. HĐXX thấy cần phải xử lý nghiêm, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân tốt cho xã hội, đồng thời làm bài học răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xét quan điểm của Kiểm sát viên về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo Lê Văn P là có căn cứ chấp nhận.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Văn P phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên, căn cứ điểm g khoản 2 Điều 260 BLTTHS;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Văn P phạm tội: "Đào ngũ".
Áp dụng khoản 1 Điều 402; điểm s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 BLHS; xử phạt bị cáo Lê Văn P 21 (hai mươi mốt) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 19/9/2022.
2. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 BLTTHS, bị cáo Lê Văn P phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 30/11/2022, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án quân sự Quân khu 5./.
| Nơi nhận: - VKSQS QK5; - VKSQSKV51 QK5; - CQĐTHSKV2 QK5; - CQTHAHS QK5; - Phòng THA QK5; - Trại tạm giam QK5; - Bị cáo; - Lưu: HSVA, THAHS. T10. HỘI THẨM QUÂN NHÂN đơn vị, Lê Văn Phong cơ bản chấp hành nghiêm kỷ luật Quân đội, quy định của đơn vị và hoàn thành nhiệm vụ. Tuy nhiên, sau khi xảy ra vụ việc Phong đào ngũ, đơn vị đã phối hợp với chính quyền địa phương, cơ quan quân sự cấp huyện và gia đình Phong để xác minh, truy tìm, giáo dục Phong trở lại đơn vị nhưng không đạt kết quả. Đơn vị tiến hành xử lý kỷ luật đối với Lê Văn Phong theo đúng trình tự, thủ tục quy định tại Thông tư số: 16/2020/TT-BQP ngày 21/02/2020 của Bộ Quốc phòng. Đề nghị HĐXX xét xử Phong theo quy định pháp luật. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) 2// Nguyễn Tấn Tùng THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đại diện Lữ đoàn 572, Quân khu 5 cho biết: Trong thời gian công tác tại |