- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Thành - phạm tội đào ngũ (điều 402 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Hình sự số 100…
| TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC 1 QUÂN KHU 5 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 06/2020/HS-ST Ngày 18 - 5 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC 1 QUÂN KHU 5
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: 1// Nguyễn Việt Ngân.
Các Hội thẩm quân nhân:
1// QNCN Trần Đình Quang.
3/ Trần Viết Quỳnh
- Thư ký phiên tòa: 4/ Nguyễn Tất Trình, Thư ký Tòa án quân sự Khu vực 1 Quân khu 5.
- Đại diện Viện kiểm sát quân sự Khu vực 51 Quân khu 5 tham gia phiên tòa: 2// Lê Tuấn Phong - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 5 năm 2020, tại Hội trường Sư đoàn 2 Quân khu 5, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 03/2020/TLST-HS ngày 27/02/2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 04/2020/QĐXXST-HS ngày 10/4/2020 đối với bị cáo:
Nguyễn Văn Th; sinh ngày 06/7/1998, tại: tỉnh Ninh Thuận; giới tính: Nam; nơi cư trú: Thôn M, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận; cấp bậc, chức vụ, đơn vị khi phạm tội: Binh nhì, Chiến sĩ, Tiểu đội 6, Trung đội 6, Đại đội 5, Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn C Quân khu 5; dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; tôn giáo: không; trình độ văn hóa: 8/12; con ông Nguyễn T, sinh năm 1973 và bà Diệp Thị M, sinh năm 1973; tiền án; tiền sự: không; nhân thân: Chưa bị kết án hay xử lý hành chính; bị bắt tạm giữ từ ngày 30/01 đến 02/02/2020, tạm giam ngày 02/02/2020; có mặt.
Người làm chứng:
- Dương Minh H; có mặt.
- Nguyễn T; có mặt.
- Nguyễn Hữu K; vắng mặt.
- Đỗ Quang H; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Văn Th, nhập ngũ ngày 13/02/2017 được biên chế vào Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn C Quân khu 5 đóng quân ở thành phố T, tỉnh Quảng Nam. Vào khoảng 22 giờ 00 ngày 24/02/2017, Nguyễn Văn Th lén lút trèo qua tường rào sau nhà vệ sinh Đại đội 5 ra Quốc lộ 1A đón xe khách vào tỉnh Bình Dương chơi với bạn. Ngày 27/02/2017, Th về nhà ở thôn M, xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận. Tối ngày 27/02/2017, Th được đồng chí Châu Ngọc M, Trợ lý quân lực, Ban chỉ huy quân sự huyện N và ông Nguyễn T (cha của Th) đưa trở lại đơn vị. Tiểu đoàn 2, triển khai sinh hoạt kiểm điểm từ cấp Tiểu đội đến cấp Đại đội đối với Th đúng theo quy định Điều lệnh quản lý bộ đội và đã ra Quyết định số: 01/QĐ-KL ngày 04/3/2017 Kỷ luật đối với quân nhân Nguyễn Văn Th với hình thức Cảnh cáo về hành vi “Đêm ngày 24/02/2017, đã tự ý rời khỏi đơn vị nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự”.
Vào khoảng 17 giờ 45’ ngày 06/3/2017, Nguyễn Văn Th tiếp tục tự ý trèo qua tường rào đơn vị theo lối cũ, ra bên ngoài đón xe vào thành phố T, tỉnh Bình Dương. Tại đây, Th thuê phòng trọ và xin đi làm phụ hồ. Tháng 02/2018, Th đến xã X, huyện H, thành phố Hồ Chí Minh làm phụ hồ. Tháng 7/2018, Th đến tạm trú tại thành phố P, tỉnh Bình Thuận làm nghề cơ khí.
Trong thời gian nói trên, vì muốn trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự nên Th không về địa phương và không liên lạc với gia đình. Lữ đoàn trưởng Lữ đoàn C đã ban hành Giấy báo đào ngũ số: 01/GB-ĐN ngày 13/3/2017 và số: 02/GB-ĐN ngày 03/4/2017 gửi về địa phương và BCHQS tỉnh Ninh Thuận.
Ngày 12/4/2017, Chủ tịch UBND xã P, huyện N, tỉnh Ninh Thuận ra Quyết định số 04/QĐ-UBND/XPHC xử phạt vi phạm hành chính về lĩnh vực quốc phòng. Xử phạt Nguyễn Văn Th 4.000.000 đồng và buộc chấp hành lệnh gọi nhập ngũ vào những năm tiếp theo. Ngày 03/7/2017, Chủ tịch UBND xã P ra Quyết định số 104/QĐ-UBND hủy bỏ Quyết định số 04/QĐ-UBND/XPHC ngày 12/4/2017 (Quyết định xử phạt hành chính Th chưa thi hành), giao toàn bộ hồ sơ cho Cơ quan điều tra hình sự Khu vực 1 Quân khu 5 xử lý hình sự theo pháp luật.
Ngày 22/01/2020, Th về nhà. Đến ngày 30/01/2020, Th bị Công an huyện N, tỉnh Ninh Thuận bắt theo lệnh truy nã và bàn giao cho Cơ quan điều tra hình sự Khu vực 1 Quân khu 5.
Quá trình điều tra Nguyễn Văn Th khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Th khai: Th nhập ngũ vào đơn vị hơn 10 ngày, trong thời gian huấn luyện chiến sĩ mới, Th thấy gò bó, tù túng và cực khổ không được tự do như ở nhà, nên nảy sinh ý định trốn khỏi đơn vị để trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự. Khoảng 22 giờ 00’ ngày 24/02/2017, lợi dụng không ai để ý, Th trèo tường rào đơn vị ra bên ngoài, đón xe vào tỉnh Bình Dương ở với bạn. Do gia đình biết được và động viên nên Th về nhà. Tối ngày 27/02/2017, Th được đồng chí M cán bộ huyện đội N và cha của Th đưa trở lại đơn vị. Đơn vị tổ chức sinh hoạt kiểm điểm, ngày 04/3/2017, Tiểu đoàn 2 ra quyết định kỷ luật với hình thức cảnh cáo về hành vi tự ý rời khỏi đơn vị nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự và tổ chức thông báo trước toàn Tiểu đoàn 2. Ngày 06/3/2017, Th tiếp tục trốn khỏi đơn vị, đón xe vào thành phố T, tỉnh Bình Dương làm phụ hồ. Khoảng tháng 02/2018 Th lên thành phố Hồ Chí Minh xin làm phụ hồ. Tháng 7/2018, Th về thành phố P, tỉnh Bình Thuận làm nghề cơ khí. Do sợ gia đình và đơn vị biết sẽ buộc quay trở lại đơn vị, nên Th không về nhà và cũng không liên lạc với gia đình. Ngày 30/01/2020, Thành bị Công an huyện N bắt theo Lệnh truy nã.
Người làm chứng Dương Minh H khai: Lần thứ nhất bị cáo trốn khỏi đơn vị, đơn vị đã tiến hành sinh hoạt kiểm điểm từ cấp Tiểu đội đến Đại đội. Tiểu đoàn 2 ra Quyết định kỷ luật Cảnh cáo về hành vi “Tự ý rời khỏi đơn vị nhằm mục đích trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự”. Qua sinh hoạt kiểm điểm và kỷ luật, Th hứa sẽ an tâm công tác, cố gắng hoàn thành tốt nhiệm vụ và chấp hành nghiêm kỷ luật. Thế nhưng, ngày 06/3/2017, Th tiếp tục tự ý rời khỏi đơn vị. Đơn vị đã ra 02 thông báo đào ngũ gửi về địa phương đồng thời cử cán bộ về gặp gỡ gia đình Th, nhưng gia đình cũng không biết Th ở đâu. Th trốn khỏi đơn vị, không mang theo gì và cũng không gây thiệt hại gì cho đơn vị.
Lời khai của ông Nguyễn T bố bị cáo: Lần thứ nhất Th bỏ đơn vị đi vào tỉnh Bình Dương chơi với bạn, gia đình biết được đã động viên Th về nhà. Tối ngày 27/02/2017, ông cùng với cán bộ huyện đội đưa Th trở lại đơn vị. Lần thứ hai, Th rời bỏ đơn vị đi đâu và làm gì gia đình không biết, Th không liên lạc với gia đình. Quyết định xử phạt hành chính của UBND xã P, gia đình và Th chưa thi hành.
Cáo trạng số: 03/CT-VKSQSKV51 ngày 25/02/2020 của Viện kiểm sát quân sự Khu vực 51 Quân khu 5 truy tố bị cáo Nguyễn Văn Th về tội “Đào ngũ” theo quy định tại khoản 1 Điều 402 BLHS năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên nội dung Cáo trạng. Sau khi phân tích nguyên nhân, điều kiện phạm tội, lỗi của bị cáo, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội và hậu quả của vụ án; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử (HĐXX): Áp dụng khoản 1 Điều 402; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 BLHS năm 2015. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th từ 24 (Hai mươi bốn) tháng tù đến 30 (Ba mươi) tháng tù.
Bị cáo Nguyễn Văn Th: Không có ý kiến tranh luận gì, xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo nói lời sau cùng: Xin HĐXX giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, để bị cáo sớm trở về với gia đình, bị cáo hứa sau này sẽ trở thành công dân tốt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi tố tụng, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng: Cơ quan Điều tra hình sự Khu vực 1 Quân khu 5, Điều tra viên, Viện kiểm sát quân sự Khu vực 51 Quân khu 5, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Sau khi thẩm tra lời khai của bị cáo và người làm chứng, Hội đồng xét xử kết luận: Nguyễn Văn Th, nhập ngũ ngày 13/02/2017; Binh nhì, Chiến sĩ, thuộc Tiểu đội 6, Trung đội 6, Đại đội 5, Tiểu đoàn 2, Lữ đoàn C Quân khu 5. Trong thời gian huấn luyện chiến sĩ mới, Nguyễn Văn Th 02 lần tự ý rời khỏi đơn vị nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự. Lần thứ nhất: Ngày 24/02/2017, Nguyễn Văn Th tự ý rời khỏi đơn vị vào tỉnh Bình Dương chơi với bạn. Ngày 28/02/2017, Th trở lại đơn vị, Tiểu đoàn 2 đã triển khai sinh hoạt kiểm điểm và ra Quyết định số: 01/QĐ-KL ngày 04/3/2017 Kỷ luật Cảnh cáo Th về hành vi “Tự ý rời khỏi đơn vị nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự”. Lần thứ 2: Ngày 06/3/2017, Nguyễn Văn Th tiếp tục tự ý rời khỏi đơn vị vào tỉnh Bình Dương, thành phố Hồ Chí Minh, tỉnh Bình Thuận làm ăn, có ý thức bỏ hẳn đơn vị. Như vậy, Nguyễn Văn Th đã bị xử lý kỷ luật về hành vi rời bỏ hàng ngũ quân đội nhằm trốn tránh thực hiện nghĩa vụ quân sự mà còn vi phạm, hành vi của Nguyễn Văn Th đủ yếu tố cấu thành tội “Đào ngũ” theo khoản 1 Điều 325 BLHS năm 1999. Thời điểm Nguyễn Văn Th phạm tội “Đào ngũ” BLHS năm 1999 đang có hiệu lực. Tội “Đào ngũ”, khung hình phạt khoản 1 Điều 325 BLHS năm 1999 cao hơn khung hình phạt khoản 1 Điều 402 BLHS năm 2015. Căn cứ khoản 3 Điều 7 BLHS năm 2015; điểm b khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 41/2017/QH14 ngày 20/6/2017 của Quốc hội về việc thi hành Bộ luật Hình sự số 100/2015/QH13 đã sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 12/2017/QH14, HĐXX sẽ xét xử Nguyễn Văn Th về tội “Đào ngũ” theo khoản 1 Điều 402 BLHS năm 2015 có lợi hơn cho bị cáo. Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến khách thể quan trọng được BLHS bảo vệ. Đó là, kỷ luật và sức mạnh chiến đấu của quân đội. Hành vi của bị cáo làm ảnh hưởng đến khả năng hoàn thành nhiệm vụ của đơn vị và truyền thống tốt đẹp của người quân nhân và chỉ tiêu giao quân của địa phương. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ nguy hiểm do hành vi phạm tội, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; sau khi phạm tội bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 BLHS năm 2015 được áp dụng cho bị cáo.
Cơ quan điều tra tiến hành xác minh và xác định, trong thời gian bỏ trốn Nguyễn Văn Th không vi phạm gì.
Qua xem xét tính chất vụ án và mức độ nguy hiểm trong hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo. HĐXX sẽ áp dụng hình phạt tù để bị cáo có điều kiện học tập, cải tạo trở thành công dân tốt, đồng thời làm bài học giáo dục và phòng ngừa chung.
Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS và Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án, bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 260 BLTTHS,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Th phạm tội: “Đào ngũ”.
Áp dụng khoản 1 Điều 402; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 38 BLHS năm 2015
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Th 24 (Hai mươi bốn) tháng tù.
Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ, ngày 30/01/2020.
2. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS, bị cáo Nguyễn Văn Th phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, ngày 18/5/2020, bị cáo có quyền kháng cáo bản án này lên Tòa án quân sự Quân khu 5./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Viện KSQSKV51 QK5; - Viện KSQSQK5; - Cơ quan ĐTHSKV1 QK5; - Cơ quan THAHS QK5; - Trại tạm giam QK5; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (đã ký) 1// Nguyễn Việt Ngân |