- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Xuân Tài - phạm tội đào ngũ (điều 402 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
| TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC QUÂN KHU 7 | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 03/2021/HS-ST Ngày 29-01-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN QUÂN SỰ KHU VỰC QUÂN KHU 7
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Trung tá Trần Quang T.
Các Hội thẩm quân nhân:
Thiếu tá Khổng Minh V;
Đại úy Nguyễn Xuân H.
- Thư ký phiên tòa: Thiếu tá Bùi Nguyên H, Thư ký Tòa án quân sự khu vực Quân khu 7.
- Đại diện Viện kiểm sát quân sự khu vực 73 tham gia phiên tòa: Thượng tá Nguyễn Thành L và Đại úy Nguyễn Tấn T - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 01 năm 2021, tại Hội trường Đơn vị Z, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 16/2020/TLST-HS ngày 21 tháng 12 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 03/2021/QĐXXST-HS ngày 18/01/2021 đối với bị cáo: Lê Xuân T; tên gọi khác: Không có; sinh ngày 01/01/1987 tại Hải Dương; cấp bậc, chức vụ, đơn vị khi phạm tội: 3/, Bác sĩ chuyên khoa 1, Đơn vị Z; nơi cư trú: Đơn vị Z; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Lê Xuân Th (đã mất) và bà Đào Thị M; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không có; tiền sự: Ngày 02/4/2020 bị xử lý kỷ luật “Cảnh cáo” về hành vi “chưa an tâm tư tưởng, không chấp hành sự phân công của tổ chức, vắng mặt trái phép, có biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị”; ngày 25/4/2020 bị xử lý kỷ luật “Cảnh cáo” về hành vi “Đào ngũ”; nhân thân: đã bị xử lý kỷ luật 03 lần; bị bắt tạm giữ từ ngày 15/10/2020 đến 18/10/2020, tạm giam từ ngày 18/10/2020 đến nay; có mặt.
Những người làm chứng:
1. Phạm Hữu H; có mặt.
2. Đỗ Hồng T; có mặt.
3. Đào Thị M; có mặt.
4. Huỳnh Tấn Th; có mặt.
5. Nguyễn Mạnh T; có mặt.
6. Lê Minh H; có mặt.
7. Lê Văn M; có mặt.
8. Lê Thanh T; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Từ tháng 9/2005 đến tháng 8/2012, Lê Xuân T được đào tạo Bác sĩ chính quy hệ quân sự tại Học viện Quân y. Sau khi tốt nghiệp, T được phân công công tác tại Đơn vị Z, đến tháng 10/2013 thì được bổ nhiệm c phó, c 24QY, Đơn vị Z. Từ tháng 10/2013, đến tháng 12/2017, T được cử đi học lớp Dự khóa và lớp đào tạo Chuyên khoa 1 do Học viện Quân y tổ chức tại Bệnh viện 175. Tháng 01/2018, T được bổ nhiệm giữ chức c trưởng c 24QY, Đơn vị Z.
Lê Xuân T sau khi tốt nghiệp Bác sĩ Chuyên khoa 1, do mong muốn được làm việc tại một bệnh viện trong Quân đội và cho rằng đơn vị phân công công tác không đúng với nguyện vọng của bản thân; mặc khác T so sánh môi trường làm việc trong và ngoài Quân đội và cho rằng làm việc trong Quân đội có nhiều áp lực, chế độ nghiêm, thời gian đi lại không thoải mái, lương Sĩ quan thấp hơn so với thu nhập của Bác sĩ Chuyên khoa 1 bên ngoài, nên muốn được phục viên, không phục vụ trong Quân đội nữa.
Trong khi chưa được cấp có thẩm quyền giải quyết đề nghị phục viên, thì T thường xuyên vi phạm kỷ luật như: Vắng mặt trái phép, bỏ chế độ đơn vị, tự ý bỏ đơn vị ra ngoài làm thêm, lấy lý do trình độ chuyên môn thấp không nhận nhiệm vụ khám, chữa bệnh được giao; đơn vị nhiều lần động viên, nhắc nhở nhưng T không chấp hành nên vào ngày 03/12/2018 và ngày 02/4/2020 đơn vị đã 02 lần xử lý kỷ luật T bằng hình thức “Cảnh cáo”.
Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 14/4/2020, Lê Xuân T tự ý rời bỏ đơn vị về nhà tại xã HH, huyện TH, tỉnh Long An, sau đó T đến thành phố Hồ Chí Minh thuê nhà trọ để ở và làm việc tại các địa điểm như: Phòng khám đa khoa VL, phòng khám đa khoa BĐ, phòng khám Dr Kh, công ty cháo dinh dưỡng Bb mà không trở lại đơn vị. Ngày 25/4/2020, đơn vị đã xử lý kỷ luật T bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Đào ngũ” và thông báo về việc thi hành kỷ luật đối với Lê Xuân T cho gia đình T; Ban chỉ huy quân sự huyện TH; Ủy ban nhân dân xã HH, huyện TH, tỉnh Long An; đồng thời yêu cầu T trở lại đơn vị.
Tuy nhiên, quá 30 ngày kể từ ngày thông báo hình thức kỷ luật và yêu cầu T trở lại đơn vị, nhưng T vẫn không chấp hành; vì vậy đơn vị đã có công văn đề nghị cơ quan chức năng xử lý T về hành vi “Đào ngũ”. Ngày 09/6/2020, Cơ quan chức năng đã khởi tố vụ án, khởi tố bị can Lê Xuân T về tội “Đào ngũ” theo quy định tại khoản 2 Điều 402 Bộ luật Hình sự, đồng thời ngày 10/7/2020 ra quyết định truy nã đối với bị can T.
Ngày 18/8/2020, T thông qua mạng xã hội Zalo để đặt mua các loại giấy tờ giả mang tên Nguyễn Hoàng N, hộ khẩu thường trú: Phú Phong, Tây Sơn, Bình Định gồm: Sơ yếu lý lịch tự thuật, Bằng Bác sĩ, bảng điểm do Học viện quân y cấp, bản pho to có chứng thực “Giấy chứng nhận hoàn tất khóa học nội soi dạ dày” và “Giấy chứng nhận hoàn tất khóa học siêu âm tổng quát” của Bệnh viện Nhân dân Gia Định, thành phố Hồ Chí Minh với mục đích xin việc làm và ở trọ mà không bị phát hiện trong quá trình đào ngũ và bị truy nã. Cuối tháng 8/2020, T sử dụng các giấy tờ giả nêu trên để nộp hồ sơ xin việc và thử việc tại Công ty TNHH Bệnh viện quốc tế Dr Kh, địa chỉ: số 116 đường GD, phường TQ, quận TP, thành phố Hồ Chí Minh. Ngày 15/10/2020, Lê Xuân T bị bắt giữ theo Quyết định truy nã khi đang ở nhà trọ tại địa chỉ số 69/52 đường số 3, khu phố 4, phường BHH, quận BT, thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận tất cả các hành vi như cáo trạng đã nêu. Bị cáo biết mình bị xử lý kỷ luật về hành vi đào ngũ, bị khởi tố bị can và truy nã về hành vi đào ngũ, nhưng vì không có ý định quay lại đơn vị nên bị cáo tiếp tục lẫn trốn bên ngoài, sử dụng các giấy tờ đúng với khả năng thật của bị cáo nhưng lại không đúng với tên thật của bị cáo để trốn tránh, thuê nhà trọ và đi làm cho đến khi bị bắt.
Những người làm chứng Phạm Hồng H, Đỗ Hồng T, Đào Thị M, Huỳnh Tấn Th, Nguyễn Mạnh T, Lê Minh H, Lê Văn M khai tại phiên tòa, Lê Thanh T khai tại bút lục 123-124 hồ sơ thể hiện: Lê Xuân T sau khi tốt nghiệp Bác sĩ Chuyên khoa 1, do mong muốn được làm việc tại một bệnh viện trong Quân đội và cho rằng đơn vị phân công công tác không đúng với nguyện vọng của bản thân; mặc khác T so sánh môi trường làm việc trong và ngoài Quân đội và cho rằng làm việc trong Quân đội có nhiều áp lực, chế độ nghiêm, thời gian đi lại không thoải mái, lương Sĩ quan thấp hơn so với thu nhập của Bác sĩ Chuyên khoa 1 bên ngoài, nên muốn được phục viên, không phục vụ trong Quân đội nữa. Trong khi chưa được cấp có thẩm quyền giải quyết đề nghị phục viên, thì T thường xuyên vi phạm kỷ luật như: Vắng mặt trái phép, bỏ chế độ đơn vị, tự ý bỏ đơn vị ra ngoài làm thêm, lấy lý do trình độ chuyên môn thấp không nhận nhiệm vụ khám, chữa bệnh được giao; đơn vị nhiều lần động viên, nhắc nhở nhưng T không chấp hành nên vào ngày 03/12/2018 và ngày 02/4/2020 đơn vị đã 02 lần xử lý kỷ luật T bằng hình thức “Cảnh cáo”. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 14/4/2020, Lê Xuân T tự ý rời bỏ đơn vị về nhà tại xã HH, huyện TH, tỉnh Long An và không trở lại đơn vị. Ngày 25/4/2020, đơn vị đã xử lý kỷ luật T bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Đào ngũ” và thông báo về việc thi hành kỷ luật đối với Lê Xuân T cho gia đình T; Ban chỉ huy quân sự huyện TH; Ủy ban nhân dân xã HH, huyện TH, tỉnh Long An; đồng thời yêu cầu T trở lại đơn vị. Tuy nhiên, T vẫn tiếp tục trốn tránh cho đến khi bị bắt theo Quyết định truy nã khi đang ở nhà trọ tại địa chỉ số 69/52 đường số 3, khu phố 4, phường BHH, quận BT, thành phố Hồ Chí Minh.
Tại Cáo trạng số 01/CT-VKS73 ngày 21/12/2020, Viện kiểm sát quân sự khu vực 73 đã truy tố Lê Xuân T về tội: “Đào ngũ” theo điểm a khoản 2 Điều 402 Bộ luật Hình sự. Tranh luận tội tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Lê Xuân T về tội: “Đào ngũ” theo điểm a khoản 2 Điều 402 Bộ luật Hình sự. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân của bị cáo, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử về hình sự: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 402 BLHS; điểm s, v khoản 1 Điều 51 BLHS xử phạt bị cáo Lê Xuân T từ 02 năm đến 03 năm tù. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 130 Bộ luật Tố tụng Hình sự hủy bỏ Lệnh phong tỏa tài khoản số 51/L-PTTK ngày 30/11/2020 của Cơ quan điều tra hình sự khu vực 4-Quân khu 7; Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự trả lại cho bị cáo Lê Xuân T: 01 (một) điện thoại Iphone màu trắng, 01 (một) điện thoại Galaxy J7pro màu tím, 01 (một) điện thoại Mobele màu đen xanh, 01 (một) xe mô tô Jupiter biển số 93P1-39.639 và Giấy đăng ký xe mô tô, 01 (một) Laptop hiệu Asus UX501-UX/CN204T, 01 (một) Thẻ Đảng viên mang tên Lê Xuân T, 01 (một) Giấy chứng minh sĩ quan mang tên Lê Xuân T, 01 (một) hộ chiếu mang tên Lê Xuân T, 01 (một) Căn cước công dân mang tên Lê Xuân T, 01 Sổ tạm trú mang tên Lê Xuân T, 01 Giấy chứng nhận siêu âm thực hành do Bệnh viện 7A cấp mang tên Lê Xuân T, 01 (một) Giấy chứng nhận Lớp bồi dưỡng chuyên môn kỹ thuật Nội khoa do Bệnh viện 7A cấp mang tên Lê Xuân T, 01 (một) Giấy chứng nhận Nội soi dạ dày do Bệnh viện Nhân dân Gia Định cấp mang tên Lê Xuân T, 01 (một) Giấy chứng nhận Tư vấn, chẩn đoán, điều trị viêm gan C mạn trong thực hành lâm sàng do Hội y học thành phố Hồ Chí Minh cấp mang tên Lê Xuân T, 01 (một) Bằng Bác sĩ do Học viện Quân y cấp mang tên Lê Xuân T, 01 (một) Bằng tốt nghiệp Bác sĩ chuyên khoa cấp I do Học viện Quân y cấp mang tên Lê Xuân T, 01 (một) Giấy chứng nhận Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng ba cấp cho 3/ Lê Xuân T. Về án phí: đề nghị áp dụng khoản 2 các Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận gì, chỉ xin HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về những chứng cứ, tài liệu do Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thu thập; hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại gì. Như vậy, có cơ sở để khẳng định những chứng cứ, tài liệu nêu trên và các hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa hôm nay, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung Cáo trạng đã nêu. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của những người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: nguyên nhân, điều kiện, thời gian, động cơ, mục đích phạm tội, diễn biến hành vi phạm tội…
Căn cứ vào diễn biến của các tình tiết vụ án, xét thấy: Lê Xuân T sau khi tốt nghiệp Bác sĩ Chuyên khoa 1, do mong muốn được làm việc tại một bệnh viện trong Quân đội và cho rằng đơn vị phân công công tác không đúng với nguyện vọng của bản thân; mặc khác T so sánh môi trường làm việc trong và ngoài Quân đội và cho rằng làm việc trong Quân đội có nhiều áp lực, chế độ nghiêm, thời gian đi lại không thoải mái, lương Sĩ quan thấp hơn so với thu nhập của Bác sĩ Chuyên khoa 1 bên ngoài, nên muốn được phục viên, không phục vụ trong Quân đội nữa. Trong khi chưa được cấp có thẩm quyền giải quyết đề nghị phục viên, thì T thường xuyên vi phạm kỷ luật như: Vắng mặt trái phép, bỏ chế độ đơn vị, tự ý bỏ đơn vị ra ngoài làm thêm, lấy lý do trình độ chuyên môn thấp không nhận nhiệm vụ khám, chữa bệnh được giao; đơn vị nhiều lần động viên, nhắc nhở nhưng T không chấp hành nên vào ngày 03/12/2018 và ngày 02/4/2020 đơn vị đã 02 lần xử lý kỷ luật T bằng hình thức “Cảnh cáo”. Khoảng 11 giờ 00 phút ngày 14/4/2020, Lê Xuân T tự ý rời bỏ đơn vị về nhà tại xã HH, huyện TH, tỉnh Long An, sau đó T đến thành phố Hồ Chí Minh thuê nhà trọ để ở và làm việc tại các địa điểm như: Phòng khám đa khoa VL, phòng khám đa khoa BĐ, phòng khám Dr Kh, công ty cháo dinh dưỡng Bb mà không trở lại đơn vị. Ngày 25/4/2020, đơn vị đã xử lý kỷ luật T bằng hình thức “Cảnh cáo” về hành vi “Đào ngũ” và thông báo về việc thi hành kỷ luật đối với Lê Xuân T cho gia đình T; Ban chỉ huy quân sự huyện TH; Ủy ban nhân dân xã HH, huyện TH, tỉnh Long An; đồng thời yêu cầu T trở lại đơn vị. Tuy nhiên, quá 30 ngày kể từ ngày thông báo hình thức kỷ luật và yêu cầu T trở lại đơn vị, nhưng T vẫn không chấp hành mà tiếp tục trốn tránh cho đến ngày 15/10/2020 thì bị bắt giữ theo Quyết định truy nã khi đang ở nhà trọ tại địa chỉ số 69/52 đường số 3, khu phố 4, phường BHH, quận BT, thành phố Hồ Chí Minh.
Do vậy, có đủ cơ sở kết luận hành vi của bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Đào ngũ” theo Điều 402 Bộ luật Hình sự. Ý kiến của Kiểm sát viên về tội danh của bị cáo là có căn cứ chấp nhận.
Đối với hành vi mua chứng minh nhân dân, các loại tài liệu, giấy tờ giả mang tên Nguyễn Hoàng N và sử dụng các tài liệu, giấy tờ giả đó để xin việc làm, thuê nhà trọ, xét thấy đây là thủ đoạn để Lê Xuân T trốn tránh truy nã, xin việc làm, thuê nhà trọ trong thời gian bị truy nã, chưa gây ra hậu quả gì, T cũng chưa sử dụng các giấy tờ, tài liệu giả đó để thực hiện hành vi trái pháp luật nào khác. Do đó, việc không xử lý T về tội sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức theo quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
Do điểm c Điều 9 Thông tư số 16 ngày 21/02/2020 của Bộ Quốc phòng không quy định rõ về chủ thể có quyền yêu cầu đền bù, các chi phí phải đền bù; mặc khác Học viện Quân y và Bệnh viện 175 đều không thể hiện có yêu cầu đền bù hay không. Do đó, không xử lý việc đền bù chi phí đào tạo trong vụ án này.
Tính chất của vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến nghĩa vụ phục vụ tại ngũ của quân nhân, xâm phạm đến sức mạnh chiến đấu và sẵn sàng chiến đấu của Quân đội, làm ảnh hưởng đến hoạt động bình thường và thành tích của đơn vị. Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, do đó bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội do mình gây ra, cần phải có hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để cải tạo bị cáo thành người có ích cho xã hội, đồng thời răn đe, giáo dục người khác có ý thức tuân theo pháp luật, đảm bảo giữ nghiêm kỷ luật Quân đội, đấu tranh phòng, chống tội phạm.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:
Khi phạm tội đào ngũ, bị cáo đang là Sĩ quan, do đó bị cáo bị áp dụng tình tiết tăng nặng định khung “là Sĩ quan” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 402 BLHS.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo được tặng thưởng Huy chương chiến sĩ vẻ vang hạng 3 nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, v khoản 1 Điều 51 BLHS; ngoài ra bị cáo còn được tặng Giấy khen trong phong trào thi đua đặc biệt “Làm theo Lời Bác-thi đua giành 3 nhất” nên sẽ được xem xét khi lượng hình đối với bị cáo.
Đề nghị của Kiểm sát viên về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đối với bị cáo là có cơ sở chấp nhận.
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan điều tra hình sự khu vực 4-Quân khu 7 đã ra Quyết định xử lý đồ vật, tài liệu gồm: 01 (một) bộ hồ sơ Hợp đồng mua bán căn hộ giữa Lê Xuân T và Công ty cổ phần Trần Thái Cam Ranh; 01 (một) Hợp đồng mua bán căn nhà ở xã hội hình thành trong tương lai giữa Lê Xuân T và Công ty cổ phần đầu tư và phát triển An Nhân; quần áo và các vật dụng cá nhân của Lê Xuân T (Bút lục 365-367 hồ sơ), việc xử lý như trên là phù hợp nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Do bị cáo không bị phạt tiền, tịch thu tài sản và bồi thường thiệt hại trong vụ án này nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 130 Bộ luật Tố tụng Hình sự hủy bỏ Lệnh phong tỏa tài khoản số 51/L-PTTK ngày 30/11/2020 của Cơ quan điều tra hình sự khu vực 4-Quân khu 7 (Bút lục 449-450 hồ sơ).
Do những tài sản đã thu giữ không phải là vật chứng trong vụ án này nên Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự trả lại cho bị cáo Lê Xuân T: 01 (một) điện thoại Iphone màu trắng, số Imei 353819088710245; 01 (một) điện thoại Galaxy J7pro màu tím, số Imei 1: 356202091469488/01, số Imei 2: 356203091469486/01; 01 (một) điện thoại Mobele màu đen xanh, số Imei 810033600831932; 01 (một) xe mô tô Jupiter số khung J5B950CY132136, số máy 5B95-132146, biển số 93P1-39.639 và Giấy đăng ký xe mô tô 032771 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Phước cấp ngày 23/8/2012; 01 (một) Laptop hiệu Asus, UX501-UX/CN204T; 01 (một) Thẻ Đảng viên số 77.331166 mang tên Lê Xuân T; 01 (một) Giấy chứng minh sĩ quan số 12064390 mang tên Lê Xuân T; 01 (một) hộ chiếu số C6715076 mang tên Lê Xuân T; 01 (một) Căn cước công dân số 030087006589 mang tên Lê Xuân T; 01 Sổ tạm trú số 12864 mang tên Lê Xuân T; 01 Giấy chứng nhận siêu âm thực hành số 148 do Bệnh viện 7A cấp mang tên Lê Xuân T; 01 (một) Giấy chứng nhận Lớp bồi dưỡng chuyên môn kỹ thuật Nội khoa số 147 do Bệnh viện 7A cấp mang tên Lê Xuân T; 01 (một) Giấy chứng nhận Nội soi dạ dày số 1547 do Bệnh viện Nhân dân Gia Định cấp mang tên Lê Xuân T; 01 (một) Giấy chứng nhận Tư vấn, chẩn đoán, điều trị viêm gan C mạn trong thực hành lâm sàng do Hội y học thành phố Hồ Chí Minh cấp mang tên Lê Xuân T; 01 (một) Bằng Bác sĩ (không còn hình) số hiệu 006998 do Học viện Quân y cấp mang tên Lê Xuân T; 01 (một) Bằng tốt nghiệp Bác sĩ chuyên khoa cấp I số hiệu 05869 do Học viện Quân y cấp mang tên Lê Xuân T; 01 (một) Giấy chứng nhận Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng ba số 2391 cấp cho 3/ Lê Xuân T. (Bút lục 77; 287; 304; 453-455; 474-475 hồ sơ).
Về án phí: căn cứ khoản 2 các Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Luật phí và Lệ phí số 97/2015/QH13 của Quốc hội; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Lê Xuân T phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.
Vì các lẽ trên, căn cứ vào điểm g khoản 2 Điều 260 Bộ luật Tố tụng hình sự;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về hình sự:
Tuyên bố bị cáo Lê Xuân T phạm tội “Đào ngũ”.
Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 402; Điều 38; điểm s, v khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo Lê Xuân T 03 (ba) năm tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt tạm giữ là ngày 15/10/2020.
2. Về xử lý vật chứng:
Áp dụng Điều 130 Bộ luật Tố tụng Hình sự hủy bỏ Lệnh phong tỏa tài khoản số 51/L-PTTK ngày 30/11/2020 của Cơ quan điều tra hình sự khu vực 4-Quân khu 7 (Bút lục 449-450 hồ sơ).
Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự trả lại cho bị cáo Lê Xuân T: 01 (một) điện thoại Iphone màu trắng, số Imei 353819088710245; 01 (một) điện thoại Galaxy J7pro màu tím, số Imei 1: 356202091469488/01, số Imei 2: 356203091469486/01; 01 (một) điện thoại Mobele màu đen xanh, số Imei 810033600831932; 01 (một) xe mô tô Jupiter số khung J5B950CY132136, số máy 5B95-132146, biển số 93P1-39.639 và Giấy đăng ký xe mô tô 032771 do Phòng Cảnh sát giao thông Công an tỉnh Bình Phước cấp ngày 23/8/2012; 01 (một) Laptop hiệu Asus, UX501-UX/CN204T; 01 (một) Thẻ Đảng viên số 77.331166 mang tên Lê Xuân T; 01 (một) Giấy chứng minh sĩ quan số 12064390 mang tên Lê Xuân T; 01 (một) hộ chiếu số C6715076 mang tên Lê Xuân T; 01 (một) Căn cước công dân số 030087006589 mang tên Lê Xuân T; 01 Sổ tạm trú số 12864 mang tên Lê Xuân T; 01 Giấy chứng nhận siêu âm thực hành số 148 do Bệnh viện 7A cấp mang tên Lê Xuân T; 01 (một) Giấy chứng nhận Lớp bồi dưỡng chuyên môn kỹ thuật Nội khoa số 147 do Bệnh viện 7A cấp mang tên Lê Xuân T; 01 (một) Giấy chứng nhận Nội soi dạ dày số 1547 do Bệnh viện Nhân dân Gia Định cấp mang tên Lê Xuân T; 01 (một) Giấy chứng nhận Tư vấn, chẩn đoán, điều trị viêm gan C mạn trong thực hành lâm sàng do Hội y học thành phố Hồ Chí Minh cấp mang tên Lê Xuân T; 01 (một) Bằng Bác sĩ (không còn hình) số hiệu 006998 do Học viện Quân y cấp mang tên Lê Xuân T; 01 (một) Bằng tốt nghiệp Bác sĩ chuyên khoa cấp I số hiệu 05869 do Học viện Quân y cấp mang tên Lê Xuân T; 01 (một) Giấy chứng nhận Huy chương Chiến sĩ vẻ vang hạng ba số 2391 cấp cho 3/ Lê Xuân T. (Bút lục 77; 287; 304; 453-455; 474-475 hồ sơ).
3. Về án phí:
Áp dụng khoản 2 các Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, bị cáo Lê Xuân T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày tuyên án (29/01/2021), bị cáo có quyền kháng cáo đối với bản án sơ thẩm theo thủ tục phúc thẩm lên Tòa án quân sự Quân khu 7./. CÁC HỘI THẨM QUÂN NHÂN
| THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |