vanban.org

Bản án 12/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. An Khê, tỉnh Gia Lai Tuyên án 23/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn Quân tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một s…"
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 12/2022/HS-ST

Ngày: 23/05/2022

THỊ XÃ A – TỈNH GIA LAI Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ A - TỈNH GIA LAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bùi Tứ Hải. Các Hội thẩm nhân dân: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan và ông Hồ Văn D . - Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Hường, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai. - Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Trần Vĩnh Tiên, Kiểm sát viên. Ngày 23 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã A, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 04/2022/TLST-HS ngày 01 tháng 3 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2022/QĐXXST- HS ngày 29 tháng 4 năm 2022 đối với bị cáo: Nguyễn Văn Q, sinh ngày 19/5/1988 tại V, Quảng Trị; nơi cư trú: Làng K 2, xã I, huyện G, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Buôn bán; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B và bà Lê Thị N; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 16/11/2021 đến ngày 25/11/2021 chuyển tạm giam cho đến nay; có mặt tại phiên tòa. - Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: 1. Phan Quốc D, sinh năm 1984; địa chỉ: Làng K 1, xã I, huyện G, tỉnh Gia Lai; có mặt. 2. Phạm Văn C, sinh năm 1983; địa chỉ: Tổ 7, phường P, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt. 3. Nguyễn Việt H, sinh năm 2003; địa chỉ: Thôn 1, xã X, thành phố Y, tỉnh Gia Lai; vắng mặt.

4. Nguyễn Quang K, sinh năm 1993; địa chỉ: Tổ 2, phường P, thị xã A, tỉnh Gia Lai; vắng mặt. - Người làm chứng: Phạm Thành A1; Trần Nhật A2 và Nguyễn A3.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào khoảng 20 giờ ngày 15/11/2021, Nguyễn Văn Q cùng với Phạm Văn C; Nguyễn Việt H; Phan Quốc D nhậu tại quán Hương Quê ở Tổ 01, phường Z, thị xã A. Đến khoảng 21 giờ 45 phút cùng ngày, D rủ các đối tượng Q, H và C đến quán Sài Gòn coffee DJ địa chỉ Tổ 02, phường P, thị xã A để nghe nhạc thì tất cả đồng ý. Sau khi đến quán Q, D, C và H ngồi ở bàn số 17 (trên gác), gọi bia để uống và nghe nhạc. Đến khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, Q lấy trong ví ra 01 gói ma túy loại Ketamine rồi lấy 01 ly thủy tinh có sẵn dưới bàn đổ ma túy vào ly. Q lấy ống nhựa tại bàn xúc ma túy đổ lên tay và hít. Sau khi sử dụng xong, Q để ly thủy tinh xuống bàn rồi nói với D: “làm hơi nghe nhạc cho vui” thì D cầm ly thủy tinh lên, lấy ống nhựa xúc ma túy trong ly đổ lên tay rồi hít. D sử dụng ma túy xong rồi để ly thủy tinh xuống bàn. Lúc này Q lại nói với: “làm hơi nghe nhạc cho vui” thì C cầm ly thủy tinh lên, lấy ống nhựa xúc ma túy trong ly thủy tinh đổ lên tay rồi hít. Sử dụng ma túy xong, C để ly thủy tinh xuống bàn. Sau khi thấy C sử dụng xong, Q nói với Hoàng: “làm hơi nghe nhạc cho vui” thì H nói không chơi nhưng sau đó khoảng 15 phút thì H tự lấy ma túy trong ly thủy tinh để dưới bàn lên để sử dụng. Đến 23 giờ 30 phút cùng ngày, Công an thị xã A tiến hành kiểm tra hành chính quán Sài Gòn coffee DJ phát hiện hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của các đối tượng nêu trên. Qua làm việc Q và các đối tượng nêu trên khai nhận ma túy bỏ trong ly thủy tinh là của Q, Q lấy ma túy ra để sử dụng và cho các đối tượng D, C, H cùng sử dụng. Công an thị xã A bắt quả tang đối với Nguyễn Văn Q và đưa các đối tượng có liên quan về Cơ quan Công an thị xã A làm việc. Quá trình bắt quả tang phát hiện, tạm giữ: 01 ly thủy tinh bên trong có chứa chất màu trắng dạng tinh thể, được niêm phong theo quy định. Ngoài ra còn thu giữ 01 điện thoại di động hiệu Sam sung, số sim 0372.949412, số Imel 354274090933774101; 01 chứng minh nhân dân số 230879954 mang tên Nguyễn Văn Q. Ngày 16/11/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A tiến hành xét nghiệm nước tiểu, kết quả các đối tượng Nguyễn Văn Q, Phan Quốc D, Phạm Văn C, Nguyễn Việt H dương tính với ma túy loại Ketamine.

Tại Kết luận giám định số: 756/KLGĐ, ngày 22/11/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Gia Lai xác định: Chất màu trắng dạng tinh thể trong 01 ly thủy tinh trong bì công văn ghi “Bì số 01” niêm phong gửi giám định là ma túy, loại Ketamine, khối lượng 0,3892 gam. Tại Bản cáo trạng số 05/CT-VKS ngày 24/02/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã A đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn Q về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã A giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; đề nghị căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255, Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù. Về xử lý vật chứng: Đề nghị căn cứ Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy 0,3726 gam chất màu trắng dạng tinh thể (loại ketamine) trong 01 (một) ly thủy tinh còn lại sau giám định và vỏ bao gói được niêm phong trong 01 bì công văn, có đặc điểm: mặt trước ghi “Bì số công văn số 01” và “ Số 756/PC09, ngày 22 tháng 11 năm 2021”, tại mép dán mặt sau có các dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự nội dung “ CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký của các ông Nguyễn Minh A1, Nguyễn Văn Quỳnh và Nguyễn Xuân Trường. Đề nghị trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Q: 01 điện thoại di động hiệu Sam sung, số sim 0372.949412, số Imel 354274090933774101; 01 chứng minh nhân dân số 230879954 mang tên Nguyễn Văn Q. Về án phí: Đề nghị buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Văn Q thừa nhận đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy như Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố. Về nguồn gốc ma túy Nguyễn Văn Q khai: Khoảng thời gian từ tháng 10/2019 đến tháng 11/2020 Nguyễn Văn Q làm nhân viên tại khách sạn Á Đông thuộc phường E, quận F, thành phố Đà Nẵng. Trong thời gian sống và làm việc tại Đà Nẵng thì Q có quen với một người đàn ông tên Hải nói giọng Quảng Nam, Đà Nẵng làm nghề chạy xe ôm gần khu vực khách sạn Á Đông. Hải cho Q một gói ma túy loại Ketamine, sau đó Q lấy gói ma túy bỏ vào ví rồi mang theo người. Ngày

15/11/2021 Nguyễn Văn Q đưa gói ma túy ra sử dụng cùng với Phan Quốc D, Nguyễn Việt H và Phạm Văn C thì bị bắt quả tang.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã A, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã A, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người tham gia tố tụng không có ý kiến kiến nghị hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp. [2] Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có tại hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định: Vào khoảng 21 giờ 45 phút ngày 15/11/2021, sau khi nhậu tại quán Hương Quê tại Tổ 01, phường Z, thị xã A, bị cáo Nguyễn Văn Q cùng các đối tượng Phan Quốc D, Nguyễn Việt H, Phạm Văn C đến quán Sài Gòn Coffee DJ ở phường An Phú, thị xã A chơi, nghe nhạc. Ngồi chơi khoảng 22 giờ 45 phút cùng ngày, thì Nguyễn Văn Q lấy trong ví (bóp) 01 gói ma túy loại Ketamine đổ vào ly thủy tinh rồi lấy ống nhựa xúc ma túy đổ vào tay và hít. Sau khi sử dụng xong, Q nói với Phan Quốc D, Nguyễn Việt H, Phạm Văn C “làm hơi nghe nhạc cho vui” thì D, C và H lần lượt xúc ma túy trong ly thủy tinh để sử dụng. Như vậy, Q là người cung cấp ma túy cho Phan Quốc D, Nguyễn Việt H, Phạm Văn C cùng sử dụng. Do đó, đã có đủ cơ sở tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Văn Q cho ba người khác sử dụng nên bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự với tình tiết tăng nặng định khung “Đối với 02 người trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 255 của Bộ luật Hình sự. [3] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. [4] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, cần áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. [5] Về hình phạt: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy và ảnh

hưởng đến trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các đặc điểm về nhân thân cũng như tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, cần áp dụng mức hình phạt tù có thời hạn cách ly bị cáo ra ngoài xã hội, để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và đấu tranh phòng ngừa chung cho xã hội. [6] Về hình phạt bổ sung: Xét bị cáo cung cấp ma túy cho những người khác cùng sử dụng nhưng không vì mục đích lợi nhuận nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 255 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo. [7] Về xử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 0,3726 gam chất màu trắng dạng tinh thể (loại ketamine) trong 01 (một) ly thủy tinh còn lại sau giám định và vỏ bao gói được niêm phong trong 01 bì công văn, có đặc điểm: mặt trước ghi “Bì số công văn số 01” và “ Số 756/PC09, ngày 22 tháng 11 năm 2021”, tại mép dán mặt sau có các dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự nội dung “ CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký của các ông Nguyễn Minh A1, Nguyễn Văn Quỳnh và Nguyễn Xuân Trường, xét thấy không có giá trị nên tịch thu tiêu hủy. Đối với: 01 điện thoại di động hiệu Sam sung, số sim 0372.949412, số Imel 354274090933774101; 01 chứng minh nhân dân số 230879954 mang tên Nguyễn Văn Q, không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Q. [8] Ngày 15/11/2021 Nguyễn Văn Q cùng với các đối tượng Phan Quốc D, Phạm Văn C, Nguyễn Việt H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy tại quán Sài Gòn coffee DJ. Anh Nguyễn Quang K là chủ cơ sở quán Sài Gòn coffee DJ; anh Phạm Thành A1 là người quản lý hoạt động kinh doanh của quán; anh Trần Nhật A2 là nhân viên phục vụ quán tất cả đều khai nhận việc Nguyễn Văn Q, Phan Quốc D, Phạm Văn C, Nguyễn Việt H sử dụng ma túy tại quán Sài Gòn coffee DJ vào tối ngày 15/11/2021 thì K, A1 và A2 đều không biết, không có cung cấp ma túy, công cụ sử dụng ma túy cho các đối tượng trên sử dụng nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A không xem xét xử lý K, A1, A2 về hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy là có căn cứ. Đối với các đối tượng Phan Quốc D, Phạm Văn C, Nguyễn Việt H có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy cùng với Nguyễn Văn Q, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với D, C, H là phù hợp.

Đối với đối tượng tên Hải mà Nguyễn Văn Q khai đã cho Nguyễn Văn Q ma túy. Ngày 11/01/2022 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A đã tiến hành xác minh nhân thân, lai lịch đối tượng tên Hải theo khai nhận của Q tại Công an phường E, quận F, thành phố Đà Nẵng, kết quả xác minh: Tại khu vực khách sạn Á Đông và một số khu vực lân cận, không có đối tượng tên Hải có đặc điểm như Q khai nhận. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã A tiếp tục kiểm tra, xác minh nhân thân, lai lịch đối tượng tên Hải khi nào làm rõ sẽ xử lý sau. [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136; Điều 260; khoản 1 Điều 268; khoản 1 Điều 292, khoản 1 Điều 299; Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 255; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ khoản 1 Điều 21; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Q phạm tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn Q 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị tạm giữ (ngày 16 tháng 11 năm 2021). Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 0,3726 gam chất màu trắng dạng tinh thể (loại ketamine) trong 01 (một) ly thủy tinh còn lại sau giám định và vỏ bao gói được niêm phong trong 01 bì công văn, có đặc điểm: mặt trước ghi “Bì số công văn số 01” và “ Số 756/PC09, ngày 22 tháng 11 năm 2021”, tại mép dán mặt sau có các dấu tròn của Phòng kỹ thuật hình sự nội dung “ CÔNG AN TỈNH GIA LAI * PHÒNG KỸ THUẬT HÌNH SỰ” và các chữ ký của các ông Nguyễn Minh A1, Nguyễn Văn Quỳnh và Nguyễn Xuân Trường. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn Q: 01 điện thoại di động hiệu Sam sung, số sim 0372.949412, số Imel 354274090933774101; 01 chứng minh nhân dân số 230879954 mang tên Nguyễn Văn Q.

Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Văn Q phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án (23/5/2022) bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử theo trình tự phúc thẩm. Riêng những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ