- Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Văn S - phạm tội sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 3.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Bản án số: 12/2022/HS-ST Ngày: 18 – 02 – 2022 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ C, TỈNH AN GIANG
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đức.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Nguyễn Ngọc Anh;
- Bà Bùi Thị Phương Tâm.
Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Văn Trường – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C, tỉnh An Giang tham gia phiên tòa: Ông Lý Chí Nam – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 02 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố C xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 03/2022/TLST- HS ngày 11 tháng 01 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 01 năm 2022 đối với bị cáo:
Huỳnh Văn S (Út S), sinh ngày 30/4/1975, tại thành phố C – tỉnh An Giang; nơi cư trú: tổ 08, khóm V, phường SM, thành phố C, tỉnh An Giang; Nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 8/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Đạo phật; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Huỳnh Văn C (đã chết) và bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1934; Có vợ tên Nguyễn Thị Hf, sinh năm 1986; Có 01 con, sinh năm 2007; anh chị em có 08 người, bị cáo là người thứ bảy.
Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo được tại ngoại cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Lương Tấn Mh, sinh năm 1996, nơi cư trú: tổ 08, khóm V, phường SM thành phố C, tỉnh An Giang; vắng mặt. Người tham gia tố tụng khác:
- Ông Phan Công K1, sinh năm 1997, nơi cư trú: tổ 08, khóm V, phường SM thành phố C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Bà Nguyễn Thị Hf, sinh năm 1986, nơi cư trú: tổ 08, khóm V, phường SM thành phố C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Ông Huỳnh Văn P, sinh năm 2007, nơi cư trú: tổ 08, khóm V, phường SM thành phố C, tỉnh An Giang; vắng mặt.
- Bà Lê Thị Thanh K3, sinh năm 1978, nơi cư trú: tổ 06, khóm V, phường SM thành phố C, tỉnh An Giang. vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Khoảng 04 giờ sáng ngày 10/10/2021, nhận được tin báo của quần chúng nhân dân, Công an phường SM, thành phố C, tiến hành kiểm tra hành chính 02 căn nhà của Huỳnh Văn S và Huỳnh Văn Sáu (anh ruột của S), tại tổ 08, khóm V, phường SM ,thành phố C, tỉnh An Giang, phát hiện, thu giữ 1.600 (một ngàn sáu trăm) bao thuốc lá điếu nhập lậu (trong đó: 600 bao nhãn hiệu Hero, 500 bao nhãn hiệu Scott và 500 bao nhãn hiệu Bayon); Bị phát hiện, S đến Cơ quan công an đầu thú, khai nhận 1.600 bao thuốc lá điếu nhập lậu là do S mua của người thanh niên tên Rây (không rõ lai lịch) giá 20.400.000 (Hai mươi triệu bốn trăm ngàn đồng), đem về cất giấu ở nhà của S và Sáu, để bán lại kiếm lời; Vật chứng thu giữ 600 (sáu trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero; 500 (năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Scott và 500 (năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Bayon; 31 (ba mươi một) túi nhựa màu đen; 53 (năm mươi ba) vỏ thuốc lá hiệu Jet; 50 (năm mươi) vỏ thuốc lá hiệu Hero; 01 đai thuốc được làm bằng bao tải, màu trắng, tất cả đã bàn giao cho Chi cục Thi hành án dân sự; 01 vỏ lãi Composite, có gắn máy nổ; Lương Tấn Mh khai: Huỳnh Văn S hỏi mượn vỏ lãi để đi đỗ dớn, không biết việc S chở thuốc là ngoại nhập lậu; Phan Công K1 khai: Là người thường xuyên tiếp làm lúa và đổ dớn tiếp cho S, không cùng S buôn bán hàng cấm, cũng như không biết việc S buôn bán thuốc thuốc lá ngoại nhập lậu; Nguyễn Thị Hf khai: Khoản 4 giờ ngày 10/10/2021, khi thức vậy thấy chồng (Huỳnh Văn S đi vào nhà ra sau bếp mang theo 500 bao thuốc lá hiệu bayon được đóng gói thành một khối lớn. đến khoản 4 giờ 30 phút thì Công an đến kiểm tra phát hiện trong nhà ông Huỳnh Văn Sáu (anh của bị cáo S) 500 bao thuốc lá hiệu Scoot; 600 bao hiệu Hero, tiếp tục kiểm tra nhà tôi (Hf-S) phát hiện 500 bao thuốc lá hiệu Bayon.
Ngày 13/10/2021; Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an tỉnh An Giang, ra quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can, lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú đối với Huỳnh Văn S.
Tại Cáo trạng số 10/CT-VKS ngày 11/01/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố C truy tố bị cáo Huỳnh Văn S về tội “Buôn bán hàng cấm”theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 190 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai do giản cách xã hội vì dịch bệnh Covid, không có việc làm nên mua thuốc lá điếu nhập lậu của người tên Rây bán lại kiếm thêm thu nhập, trước ngày bị bắt 1.600 bao thuốc lá điếu nhập lậu, thì bị cáo đã bán bán thuốc lá điếu nhập lậu cho chị K3 ở tiệm tạp hóa và 03 người, mỗi người từ 50 bao đến 70 bao thuốc lá điếu nhập lậu, nhưng không biết họ tên người mua. Bị cáo thừa nhận đã thực hiện hành vi buôn bán thuốc lá điếu nhập lậu như nội dung cáo trạng đã truy tố; bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra;
Thay mặt Hội đồng xét xử, Thẩm phán chủ tọa phiên tòa Công bố lời khai những người tham gia tố tụng vắng mặt tại phiên tòa;
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa phát biểu lời luận tội: Đối chiếu lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa với lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra truy tố cùng với lời khai người liên quan, bản ảnh hiện trường và những tài liệu, chứng cứ đã thu thập, thu giữ, có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, có đủ cơ sở xác định bị cáo Huỳnh Văn S phạm tội "Buôn bán hàng cấm”. Do đó, giữ nguyên nội dung Cáo trạng số 10/CT-VKSCĐ-HS ngày 11 tháng 01 năm 2022 đã truy tố; Quá trình điều tra truy tố, cũng như tại phiên tòa, bị cáo có tình tiết giảm nhẹ: người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; thuộc thành phần lao động; học lực thấp; đầu thú; tự nguyện nộp tiền thu lợi bất chính 3.000.000đồng, nên đề nghị:
Về hình phạt chính: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự; Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn S từ 01(một) năm đến 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Buôn bán hàng cấm”.
Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng đối với các bị cáo.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Đề nghị áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Tịch thu tiêu hủy vật chứng đã thu giữ của bị cáo gồm 600 (sáu trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero; 500 (năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Scott và 500 (năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Bayon; 31 (ba mươi một) túi nhựa màu đen; 53 (năm mươi ba) vỏ thuốc lá hiệu Jet; 50 (năm mươi) vỏ thuốc lá hiệu Hero; 01 đai thuốc được làm bằng bao tải, màu trắng;
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước tiền Việt Nam 3.000.000 (ba triệu đồng);
- Đối với Lê Thị Thanh K3 mà bị cáo khai đã bán thuốc lá nhập lậu, thì ngoài lời khai của bị cáo, không có tài liệu, chứng cứ để chứng minh, nên Cơ quan điều tra không xử lý là có căn cứ;
- Đối với người tên Rây, bị cáo đã mua 1.600 bao thuốc lá điếu nhập lậu, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau;
- Đối với Lương Tấn Mh là người đã cho bị cáo S mượn chiếc vỏ lãi Composite, có gắn máy nổ. Nhưng Mh không biết bị cáo dùng để chở thuốc lá lậu, nên Cơ quan Điều tra đã trả lại tài sản cho Mh là có cơ sở; Bị cáo không có ý kiến tranh luận về tội danh, khung hình phạt; Trong lời nói sau cùng, bị cáo cho xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt vì hiện còn nuôi mẹ già và con nhỏ đang đi học lớp 9.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: Về tố tụng: [1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên; Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. [2] Về sự vắng mặt của người tham gia tố tụng. Mặc dù, đã được Tòa án tống đạt hợp lệ giấy triệu tập tham gia phiên tòa nhưng tại phiên tòa, một số người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt. Tuy nhiên, họ đã có lời khai trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt của họ không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 và Điều 293 Bộ luật tố tụng Hình sự quyết định vẫn tiến hành xét xử. Về nội dung: [3] Hành vi phạm tội: Tại phiên tòa, bị cáo S khai nhận đã thực hiện hành vi phạm tội như nôi dung cáo trạng đã truy tố cụ thể: bị cáo S mượn chiếc vỏ lãi Composite, có gắn máy nổ của Mh nói đi đổ dớn, nhưng thực tế đã mua thuốc là điếu nhập lậu của người thanh niên tên Rây số lượng 1.600 bao với số tiền 20.400.000 (Hai mươi triệu bốn trăm ngàn) đồng đem về cất giấu tại nhà của bị cáo và nhà của Sáu (anh của bị cáo) để bán lại kiếm lời; Bị cáo đã mua bán thuốc lá điếu nhập lậu và thu lợi được số tiền lời 3.000.000 đồng;
Xét thấy, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra; phù hợp với lời khai những người làm chứng; người liên quan liên quan; phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh hiện trường, cùng các chứng cứ khác được cơ quan điều tra thu thập đúng trình tự, thủ tục luật định đã đầy đủ cơ sở chứng minh hành vi phạm tội của bị cáo. Cho nên, Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo ra trước phiên tòa và lời buộc tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố C là có căn cứ, đúng người, đúng tội và phù hợp với quy định của pháp luật.
Bị cáo người có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự và đã thực hiện hành vi buôn bán hàng cấm thuốc lá điếu nhập lậu với số lượng 1.600 bao của bị cáo S đã xâm phạm chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, sản xuất kinh doanh những mặt hàng cấm cụ thể là thuốc lá điếu nhập lậu do nước ngoài sản xuất nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện là ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất trong nước. Do đó, cần có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Xem xét tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo thuộc thành phần nhân dân lao động, học lực thấp, hiểu biết pháp luật có phần hạn chế; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội đầu; Người phạm tội tự nguyện nộp số tiền thu lợi bất chính 3.000.000 đồng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Nên có xem xét cho bị cáo khi lượng hình;
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng đối với bị cáo.
Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:
- Đối với số tiền Việt Nam 3.000.000 đồng là số tiền thu lợi bất chính do bị cáo tự nguyện nộp; Xét tịch thu sung ngân sách Nhà nước;
- Đối với những vật chứng đã thu giữ có trong hồ sơ vụ án, trong đó có 1.600 bao thuốc lá điếu nhập lậu của bị cáo S là loại hàng hóa nhà nước cấm và không có giá trị sử dụng. Xét tịch thu tiêu hủy, cụ thể gồm 600 (sáu trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Hero; 500 (năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Scott và 500 (năm trăm) bao thuốc lá điếu nhãn hiệu Bayon; 31 (ba mươi một) túi nhựa màu đen; 53 (năm mươi ba) vỏ thuốc lá hiệu Jet; 50 (năm mươi) vỏ thuốc lá hiệu Hero; 01 đai thuốc được làm bằng bao tải, màu trắng.
Các vấn đề khác:
Đối với Lê Thị Thanh K3; người tên Rây, mà bị cáo cho rằng đã bán thuốc lá nhập lậu và mua 1.600 bao thuốc lá điếu nhập lậu, Cơ quan điều tra tiếp tục xác minh làm rõ, xử lý sau; Đối với Lương Tấn Mh là người đã cho bị cáo S đã mượn chiếc vỏ lãi Composite, có gắn máy nổ. Nhưng, Mh không biết bị cáo dùng để chở 1.600 bao thuốc lá điếu nhập lậu, nên Cơ quan Điều tra không xử lý và đã trả lại tài sản cho Mh là có cơ sở; [8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo luật định. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 190; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 và Điều 38 Bộ luật Hình sự. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Văn S phạm tội: “Buôn bán hàng cấm”; Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn S 01 (một) năm tù; Thời hạn chấp hành hình phạt tù của bị cáo Huỳnh Văn S được tính kể từ ngày bắt chấp hành án; Căn cứ Điều 46, 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự.
- Tịch thu sung ngân sách Nhà nước 3.000.000 đồng;
- Tịch thu tiêu hủy 600 (sáu trăm bao) thuốc lá nhập lậu nhãn hiệu hero; 500 (năm trăm bao) thuốc lá nhập lậu nhãn hiệu Scott; 500 (năm trăm bao) thuốc lá nhập lậu nhãn hiệu Bayon; 31 (ba mươi mốt) bao nylon màu đen, đã qua sử dụng; 53 (năm mươi ba) vỏ hộp đựng thuốc lá hiệu Jet, đã qua sử dụng; 50 (năm mươi) vỏ hộp đựng thuốc lá hiệu Hero, đã qua sử dụng; 01 (một) cái đai được làm bằng bao tải màu trắng, đã qua sử dụng. (Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 21/12/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an thành phố C với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố C). Căn cứ các Điều 135, 136, 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án; Buộc các bị cáo Huỳnh Văn S phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm. Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo Huỳnh Văn S có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của ông Lương Tấn Mh vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết theo quy định (bản án được tống đạt hợp lệ); Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - Viện KSND thành phố (2); - Tòa án nhân dân tỉnh (1); - Sở Tư pháp (1); - Nhà Tạm giữ (2); - Phòng hồ sơ (1); - Thi hành án DS thành phố (1); - Bộ phận THA Tòa án (1); - UBND cấp xã nơi BC cư trú (1); - Bị cáo; - Lưu hồ sơ; - Lưu văn phòng (1). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Đức |