vanban.org

Bản án 12/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa Tuyên án 17/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn B phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.

Xử phạt: Bị cáo Lý Văn B 48 (bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 9 năm 2020. Vật chứng: Giao 01 USB nhãn hiệu Sandisk, màu đen, ốp màu đỏ cho Tòa án nhân dân huyện Như Xuân quản lý, lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lý Văn B "Hiếp dâm người dưới 16 tuổi" - phạm tội hiếp dâm người dưới 16 tuổi (điều 142 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn B phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN NHƯ XUÂN
TỈNH THANH HÓA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2020/HS-ST.
Ngày: 17-12-2020.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NHƯ XUÂN - TỈNH THANH HÓA

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Tiến Thịnh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lê Thanh Hải.

Bà Lê Thị Bảy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Dương - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Như Xuân.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân tham gia phiên tòa: Ông Lê Hữu Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Như Xuân xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 09/2020/TLST-HS ngày 19 tháng 11 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 12/2020/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 12 năm 2020, đối với bị cáo:

Lý Văn B, sinh ngày 16/8/1989 tại huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn X, xã Q, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lý Văn V và bà Trương Thị H; Tiền sự, tiền án: Không; Bị tạm giữ từ ngày 20/9/2020, đến ngày 26/9/2020 chuyển tạm giam. Có mặt.

Bị hại: Cháu Lê Bảo L, sinh ngày 06/12/2007.

Người đại diện hợp pháp của bị hại: Chị Nguyễn Thị Thủy C - SN 1988

Hiện nay cùng cư trú tại: Thôn T, xã Q, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa. Đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại: Ông Hoàng Đức Hiếu - Trợ giúp viên pháp lý - Chi nhánh trợ giúp pháp lý số 4, Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Thanh Hóa. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng đầu tháng 9 năm 2020, tại buổi liên hoan ở nhà anh Lê Hữu N ở thôn Đồng Xuân, xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân, tỉnh Thanh Hóa, Lý Văn B sinh năm 1989 ở thôn X, xã Q, huyện Như Xuân gặp cháu Lê Bảo L, sinh ngày 06/12/2007 ở thôn Đ, xã Q, huyện Như Xuân. Tại buổi gặp gỡ lần đầu tiên đó, cháu L đã chủ động xin số điện thoại và tài khoản mạng xã hội Facebook của B để liên lạc. Thời gian sau đó giữa B và cháu L thường xuyên nhắn tin, gọi điện với nhau qua các ứng dụng Facebook, Zalo.

Ngày 17/9/2020, cháu Lê Bảo L hẹn Lý Văn B đến chiều tối sẽ đến nhà B chơi. Khoảng 19 giờ 30 phút cùng ngày, cháu L mượn chiếc xe gắn máy BKS 36AA

- 067.05 của ông ngoại và điều khiển xe đi từ nhà ông bà ngoại (bố mẹ L đã ly hôn, thời điểm xảy ra vụ án L đang sinh sống cùng ông bà ngoại) ở thôn Đồng Xuân, xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân, đi đến nhà ông Lý Văn V, sinh năm 1963 (bố đẻ B) ở thôn X, xã Q, huyện Như Xuân, đến 20 giờ cùng ngày thì cháu L đến nhà ông V và gặp B đang ở nhà, sau đó cháu L và B ngồi nói chuyện với nhau tại gian nhà chính của nhà ông V.

Đến khoảng 21 giờ 30 phút cùng ngày, thấy đã muộn nên Lý Văn B khuyên bảo cháu L đi về nhà. Tuy nhiên, cháu L không về mà nán lại để nói chuyện với B. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, B và chị dâu B là chị Lê Thị T tiếp tục giục cháu L về nhà nhưng do trời mưa nên cháu L không về mà xin ngủ lại nhà B nên B đồng ý. Sau đó, B và cháu L đi lên giường của B (được kê tại gian ngoài cùng bên phải tính theo hướng chính của ngôi nhà ông Lý Văn V) để đi ngủ. Khi lên giường, theo thói quen, B cởi hết áo mặc trên người để đi ngủ. B và cháu L tiếp tục nằm để nói chuyện, nằm được một lúc thì cháu L bắt đầu dùng tay xoa lên vùng ngực và vùng bụng của B. Hành động đó của cháu L làm cho B nảy sinh ham muốn quan hệ tình dục. Sau đó B liền dùng tay ôm, sờ ngực (vú) và âm hộ của cháu L. Sau khi sờ âm hộ của cháu L, B hỏi cháu L: "Em tự nguyện chứ?", cháu L trả lời: "có". Lúc này, B tự cởi quần của mình, cháu L tự cởi quần của cháu L. Sau đó B chống hai tay lên mặt giường, thân người ở tư thế úp xuống dưới và nằm trên người của cháu L, cháu L nằm ngửa và nằm dưới B. B đưa tay trái của mình cầm dương vật đút vào âm đạo của cháu L. Khi dương vật của mình đã nằm trong âm đạo của cháu L, B dùng lực của hông thực hiện động tác quan hệ tình dục với cháu L. Quan hệ tình dục được khoảng 3 phút, B rút dương vật ra khỏi âm đạo của cháu L và xuất tinh trên vùng bụng của cháu L. Sau đó, B dùng chiếc áo (dạng áo Polo màu đen có họa tiết cánh chim màu trắng và dòng chữ "ARMANI" ) mà B cởi ra trước đó để lau tinh dịch dính trên người cháu L, rồi cả hai đi ngủ. Đến sáng ngày 18/9/2020, B dậy sớm đi làm, còn cháu L vẫn ngủ tại giường của B. Sau khi ngủ dậy, cháu L tiếp tục ở lại nhà B để chơi đến 18 giờ cùng ngày mới đi về nhà.

Sau khi về đến nhà, bà ngoại của cháu Lê Bảo L là bà Lê Thị D có hỏi cháu L đi đâu từ tối ngày 17/9/2020 đến giờ mới về thì cháu L trả lời là đi xuống nhà ông Lý Văn V chơi với Lý Văn B. Nghe cháu gái nói như vậy, bà D liền gọi điện thoại cho con gái là Nguyễn Thị Thủy C (mẹ đẻ của cháu Lê Bảo L) hiện đang làm việc ở thành phố Móng Cái, tỉnh Quảng Ninh về nhà. Đến trưa ngày 19/9/2020, chị C về đến nhà mình ở thôn T, xã Q, huyện Như Xuân và chờ cháu L đi học về để nói chuyện. Khi bố mẹ, bà ngoại và các bác gặng hỏi, cháu L trả lời là tối ngày 17/9/2020 đi chơi và ngủ lại nhà ông V, có quan hệ tình dục với B.

Chiều ngày 19/9/2020, anh Lê Ngọc C là bố đẻ của cháu Lê Bảo L gọi Lý Văn B đến nhà chị Nguyễn Thị Thủy C để nói chuyện. Khi đến nơi, B gặp anh C, chị C, bà D, chị Lê Thị H (bác gái cháu L). Tại đây, khi được những người nêu trên hỏi về mối quan hệ với cháu L và đã quan hệ tình dục với cháu L chưa thì lúc đầu B từ chối. Sau đó, khi gia đình cháu L thông báo cho Công an xã Hóa Quỳ đến thì B đã khai nhận hành vi quan hệ tình dục với cháu L vào tối ngày 17/9/2020 tại nhà của B.

Đến sáng ngày 20/9/2020, Lý Văn B cùng bố đẻ là ông Lý Văn V đi đến nhà chị Nguyễn Thị Thủy C để nói chuyện với gia đình cháu Lê Bảo L. Tại lần gặp này, B tiếp tục thừa nhận có quan hệ tình dục với cháu L. Sau đó, ông V đề nghị với gia đình cháu L được đưa cháu L về nhà chăm sóc như con dâu, đến khi cháu L đủ 18 tuổi sẽ tổ chức đám cưới cho B và cháu L. Đồng thời mong gia đình cháu L không đưa sự việc ra xử lý theo pháp luật. Tuy nhiên, Chị C không đồng tình với ý kiến này. Biết không thể trốn tránh trách nhiệm nên B đã đến Công an xã Hóa Quỳ, huyện Như Xuân đầu thú và khai báo thành khẩn về hành vi phạm tội của mình.

* Tang vật thu giữ:

- 01 áo phông cọc tay màu đen của nữ, mặt trước áo có họa tiết bông hoa màu trắng và dòng chữ " Don't belong here an"t belong anywhere"; 01 quần bò màu xanh của nữ; 01 quần lót màu đen, viền chỉ màu da cam của nữ (do bị hại Lê Bảo L giao nộp).

- 01 chăn nhung, mền màu đỏ, chăn có các họa tiết hình hoa lá, hình trái tim, màu đỏ, hồng, xanh dương và xanh lá cây (do chị Lê Thị T chị dâu bị can Lý Văn B giao nộp).

- 01 áo phông cọc tay nam giới màu đen, trên áo có các họa tiết hình cánh chim màu trắng và dòng chữ "ARMANI" màu trắng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S màu vàng có số IMEI1: 863632031091511, EMEI2: 863632031091503 (do bị can Lý Văn B giao nộp); 01 chiếc chiếu cói màu vàng nhạt đã qua sử dụng kích thước dài 02m, rộng 1,5m; 01 chiếc chăn bông màu hồng phai đã qua sử dụng, chăn thêu các họa tiết hình bông hoa, bề mặt có bám dính các vết bẩn; 01 vỏ gối màu đỏ thẫm đã qua sử dụng, có thêu họa tiết hình bông hoa và dòng chữ "Helen", kích thước 73cm x 50cm (thu giữ khi khám nghiệm hiện trường tại nhà ông Lý Văn V).

- 01 đoạn ghi âm cuộc gọi thoại giữa Lý Văn B và Lê Bảo L (thu từ điện thoại di động của chị Nguyễn Thị Thủy C), file ghi âm được lưu giữ trong USB nhãn hiệu Sandisk, màu đen, ốp màu đỏ và được niêm phong theo biên bản niêm phong hồi 10 giờ ngày 22/9/2020 tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Như Xuân.

Đây là số tang vật, tài liệu mà Lý Văn B, bị hại cháu Lê Bảo L, chị Nguyễn Thị Thủy C, chị Lê Thị T giao nộp, khai báo về tính liên quan đến những tình tiết trong vụ án. Cơ quan CSĐT Công an huyện Như Xuân đã thu giữ và gửi giám định tại Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa (trừ USB có chứa file ghi âm cuộc gọi giữa Lý Văn B và cháu Lê Bảo L). Cơ quan giám định đã thu giữ đối với 01 chiếc quần lót của cháu Lê Bảo L, 01 chiếc chăn nhung màu đỏ; 01 chiếc áo phông cọc tay nam giới của Lý Văn B để phục vụ giám định. Sau giám định, những mẫu giám định này không còn đảm bảo tính năng sử dụng Cơ quan điều tra đã nhờ cơ quan giám định huỷ sau khi đã giám định.

Đối với: 01 áo phông cọc tay màu đen của nữ, mặt trước áo có họa tiết bông hoa màu trắng và dòng chữ " Don't belong here an"t belong anywhere"; 01 quần bò màu xanh nữ của cháu Lê Bảo L; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S màu vàng có số IMEI1: 863632031091511, EMEI2: 863632031091503; 01 chiếc chiếu cói màu vàng nhạt đã qua sử dụng kích thước dài 02m, rộng 1,5m; 01 chiếc chăn bông màu hồng phai đã qua sử dụng, chăn thêu các họa tiết hình bông hoa, bề mặt có bám dính các vết bẩn; 01 vỏ gối màu đỏ thẫm đã qua sử dụng, có thêu họa tiết hình bông hoa và dòng chữ "Helen", kích thước 73cm x 50cm thu giữ của Lý Văn B. Qua quá trình điều tra xét thấy không ảnh hưởng đến quá trình điều tra, truy tố và xét xử nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Như Xuân đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp.

Ngày 21/9/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Như Xuân đã trưng cầu giám định pháp y tỉnh Thanh Hóa giám định pháp y tình dục đối với bị hại Lê Bảo L và giám định pháp y về ADN đối với các mẫu giám định thu giữ tại hiện trường, mẫu do bị hại và bị can giao nộp với mẫu so sánh thu trên cơ thể của bị hại Lê Bảo L (mẫu máu) và bị can Lý Văn B (mẫu niêm mạc miệng).

* Tại Bản kết luận giám định pháp y về tình dục số 726/2020/TTPY ngày 28/9/2020 của Trung tâm pháp y - Sở y tế tỉnh Thanh Hoá kết luận: Tại thời điểm khám giám định pháp y về tình dục đối với cháu Lê Bảo L:

- V cổ, ngực, bụng không thấy tổn thương.

- Âm hộ không thấy tổn thương.

- Vú hai bên không thấy tổn thương.

- Mông hai bên không thấy tổn thương.

- Lông mu dày, đen.

- Hiện tại Lê Bảo L đang trong thời kỳ kinh nguyệt, không đánh giá được tổn thương màng trinh.

- Hậu môn không thấy tổn thương.

- Không tìm thấy tinh trùng và xác tinh trùng trên các mẫu dịch thu được từ bộ phận sinh dục của Lê Bảo L.

- Không tìm thấy song cầu khuẩn và xác tinh trùng trên các mẫu dịch thu được từ bộ phận sinh dục của Lê Bảo L.

- Lê Bảo L không có thai.

Tại bản kết luận giám định pháp y về ADN số 48/2020/TTPY ngày 02/10/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa, kết luận:

- Tại thời điểm giám định pháp y về ADN: Không đủ dữ liệu khoa học để xác định chính xác trong chiếc quần lót màu đen do Lê Bảo L giao nộp, trong chiếc chăn nhung nền màu đỏ và chiếc áo phông cộc tay nam giới màu đen thu giữ tại nhà Lý Văn B, trong bộ phận sinh dục của Lê Bảo L có tinh trùng người hay không.

- Trong chiếc quần lót màu đen do Lê Bảo L giao nộp có ADN nhiễm sắc thể Y. Không phải là ADN nhiễm sắc thể Y của Lý Văn B.

- Trong chiếc chăn nhung nền màu đỏ thu giữ tại nhà Lý Văn B không có ADN nhiễm sắc thể Y; Có ADN nhiễm sắc thể thường nhưng không trùng khớp (không cùng gốc) với nhiễm sắc thể Y và không có ADN nhiễm sắc thể thường của Lê Bảo L và Lý Văn B.

- Trong chiếc áo phông cộc tay nam giới màu đen thu giữ tại nhà Lý Văn B không có ADN nhiễm sắc thể Y và không có ADN nhiễm sắc thể thường.

- Trong bộ phận sinh dục của Lê Bảo L không có ADN nhiễm sắc thể Y.

Đối với nội dung kết luận giám định pháp y về ADN số 48/2020/TTPY ngày 02/10/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa về việc "Trong chiếc quần lót màu đen do Lê Bảo L giao nộp có ADN nhiễm sắc thể Y. Không phải là ADN nhiễm sắc thể Y của Lý Văn B". Qua trình điều tra, cháu Lê Bảo L khai nhận từ trước đến nay chỉ có quan hệ tình dục duy nhất với Lý Văn B, ngoài ra không có quan hệ tình dục với ai khác. Về chiếc quần lót màu đen cháu L giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra, cháu L khai báo cháu L đã giặt vào chiều ngày 18/9/2020 và giặt chung với quần áo của gia đình ông bà ngoại. Mặt khác, tại nhà cháu L có nhiều chiếc quần lót màu đen, cháu L không chắc chắn chiếc quần lót màu đen giao nộp cho Cơ quan điều tra vào ngày 20/9/2020 có phải là chiếc quần lót cháu L mặc khi quan hệ tình dục với B hay không. Do đó chưa có cơ sở để Cơ quan Cảnh sát điều tra tiếp tục làm rỏ ADN nhiễm sắc thể Y này là của ai, tại sao tồn tại ADN nhiễm sắc thể Y này trên chiếc quần lót mà cháu L giao nộp.

Đối với nội dung kết luận giám định pháp y về ADN số 48/2020/TTPY ngày 02/10/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa về việc: "Trong chiếc chăn nhung nền màu đỏ thu giữ tại nhà Lý Văn B không có ADN nhiễm sắc thể Y. Có ADN nhiễm sắc thể thường nhưng không trùng khớp (không cùng gốc) với nhiễm sắc thể Y và không có ADN nhiễm sắc thể thường của Lê Bảo L và Lý Văn B". Chiếc chăn này do chị Lê Thị T (chị dâu B ở liền kề nhà của B) giao nộp, mà B mượn để đắp. Vì vậy, có nhiều người từng đắp chiếc chăn này, việc tồn tại ADN nhiễm sắc thể thường, không tồn tại nhiễm sắc thể Y là có cở sở.

Đối với nội dung kết luận giám định pháp y về ADN số 48/2020/TTPY ngày 02/10/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Thanh Hóa về việc: "Trong bộ phận sinh dục của Lê Bảo L không có ADN nhiễm sắc thể Y". Do sự việc xảy ra từ ngày 17/9/2020, đến 20/9/2020 Cơ quan điều tra mới tiếp nhận nguồn tin. Do đó qua thời gian bị hại đã tắm rửa, vệ sinh nhiều lần nên kết luận này là có cở sở.

Đối với ông Lý Văn V (bố đẻ B) và chị Lê Thị T (chị dâu B) không biết bị can B và cháu L ngủ lại nhà có quan hệ tình dục với nhau nên Cơ quan điều tra không xem xét, xử lý.

Đối với lời khai ban đầu của cháu Lê Bảo L về việc ngoài lần quan hệ tình dục với Lý Văn B ngày 17/9/2020, cháu L và B còn quan hệ một lần nữa tại nhà của B. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Như Xuân đã tiến hành xác minh, điều tra làm rõ. Tuy nhiên những lời khai sau cháu L khẳng định chỉ có quan hệ tình dục với B 01 lần vào ngày 17/9/2020 tại nhà của B và B khai báo và khẳng định chỉ quan hệ duy nhất 01 lần với cháu Lê Bảo L vào ngày 17/9/2020 tại nhà của mình.

Đối với với việc cháu Lê Bảo L khai báo ban đầu ngoài lần quan hệ với Lý Văn B vào ngày 17/9/2020, cháu còn bị ép quan hệ tình dục với một người tên Sơn và một người tên Định ở xã Xuân Hòa, huyện Như Xuân, tại khu vực đường vào Phân trại số 3 - Trại giam Thanh Lâm. Tuy nhiên, cháu L khai báo lý do khai báo như trên là do cháu thương B nên khi mọi người biết chuyện không muốn B bị pháp luật xử lý nên lấy tên hai người trong danh sách bạn bè quen trên Facebook để khai tránh cho B, còn cháu L cũng không biết hai người đàn ông có tên nêu trên, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Như Xuân không có đủ cơ sở để xử lý.

* Về dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo Lý Văn B đã cùng với gia đình tự nguyện bồi thường thiệt hại sức khoẻ và tổn thất tinh thần cho bị hại Lê Bảo L số tiền 10.000.000đ. Đại diện gia đình bị hại Lê Bảo L đã nhận đủ số tiền trên và có đơn đề nghị cơ quan pháp luật xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với B.

Giai đoạn chuẩn bị xét xử, vào ngày 11/12/2020, gia đình bị cáo Lý Văn B tự nguyện thỏa thuận bồi thường tiếp cho bị hại Lê Bảo L số tiền 3.000.000đ để khắc phục hậu quả. Tổng số tiền bị cáo B và gia đình đã bồi thường cho bị hại L là 13.000.000đ. Các bên đã thỏa thuận xong về phần bồi thường thiệt hại. Bị hại không có yêu cầu bồi thường gì thêm. Tại các đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại tiếp tục đề nghị giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Bản cáo trạng số: 31/CT-VKSNX ngày 18/11/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân truy tố bị cáo Lý Văn B về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi” theo điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo Lý Văn B đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại nhất trí với bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, truy tố bị cáo Lý Văn B về tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, theo điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật hình sự; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố, hành vi của bị cáo Lý Văn B đủ yếu tố cấu thành tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng: Điểm b khoản 1 Điều 142; các điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự.

Xử phạt: Bị cáo Lý Văn B với mức án từ 48 đến 60 tháng tù.

Ngoài ra, Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử xử lý vật chứng và buộc bị cáo Lý Văn B phải nộp án sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa;

Bị cáo và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại không tranh luận gì với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát.

Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm được trở về với gia đình và xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Như Xuân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Như Xuân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Lý Văn B khai nhận: Vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 17/9/2020, tại nhà của B ở thôn X, xã Q, huyện Như Xuân, B đã lợi dụng sự nhẹ dạ và thiếu hiểu biết của cháu Lê Bảo L, sinh ngày 06/12/2007 ở thôn Đ, xã Q, huyện Như Xuân để thực hiện hành vi giao cấu (01 lần) với cháu L, khi cháu L mới 12 tuổi 09 tháng 11 ngày.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại, biên bản thu giữ vật chứng và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Bị cáo Lý Văn B phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”, tội phạm và hình phạt quy định tại điểm b khoản 1 Điều 142 của Bộ luật hình sự.

Xét tính chất của vụ án: Hành vi Hiếp dâm người dưới 16 tuổi của bị cáo Lý Văn B là rất nghiêm trọng và nguy hiểm cho xã hội. Xuất phát từ ham muốn và dục vọng thấp hèn, bị cáo đã lợi dụng sự thiếu hiểu biết, chưa hoàn thiện về nhận thức của cháu Lê Bảo L để quan hệ tình dục với bị hại. Bị cáo không những xâm phạm đến danh dự, nhân phẩm và sức khỏe của người phụ nữ, người chưa thành niên, mà còn gây mất trật tự trị an xã hội, gây dư luận xấu trong quần chúng nhân dân. Vì vậy, cần có đường lối xử lý nghiêm để giáo dục bị cáo và phòng ngừa, răn đe chung.

Tuy nhiên, xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Bị cáo Lý Văn B là người có nhân thân tốt, không có tiền sự, tiền án; Sau khi phạm tội đã ra đầu thú; Thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; Bị cáo và gia đình đã tự nguyện bồi thường cho bị hại để khắc phục hậu quả; Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại đều có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo được quy định tại các điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của BLHS.

Căn cứ vào tính chất mức độ hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của Lý Văn B như đã nêu trên, khi quyết định hình phạt cần xem xét giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, xử lý bị cáo một mức án dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được áp dụng để bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành người công dân tốt.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Lý Văn B và gia đình đã thoả thuận xong về phần bồi thường dân sự với gia đình và bị hại Lê Bảo L. Bị hại và người đại diện hợp pháp của bị hại không có yêu cầu gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng:

- Đối với 01 áo phông cọc tay của nữ; 01 quần lót màu đen của nữ; 01 chăn nhung; 01 áo phông cọc tay của nam; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO F1S; 01 chiếc chiếu cói; 01 chiếc chăn bông; 01 vỏ gối. Cơ quan điều tra đã nhờ tiêu huỷ và trả lại cho chủ sở hữu, vì vậy HĐXX không xem xét.

- Đối với 01 USB nhãn hiệu Sandisk, màu đen, ốp màu đỏ có chứa dữ liệu của vụ án, Tòa án tiếp tục quản lý, lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án.

Về án phí: Bị cáo Lý Văn B phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: Điểm b khoản 1 Điều 142; các điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 38 của Bộ luật hình sự;

Căn cứ vào: Điểm a khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; khoản 1, điểm b khoản 3 Điều 106; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23; Điều 6 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn B phạm tội “Hiếp dâm người dưới 16 tuổi”.

Xử phạt: Bị cáo Lý Văn B 48 (bốn mươi tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20 tháng 9 năm 2020.

Vật chứng: Giao 01 USB nhãn hiệu Sandisk, màu đen, ốp màu đỏ cho Tòa án nhân dân huyện Như Xuân quản lý, lưu trữ kèm theo hồ sơ vụ án.

Án phí: Bị cáo Lý Văn B phải nộp 200.000đ tiền án phí hình sự sơ thẩm.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Bị cáo, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị hại có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người đại diện hợp pháp của bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày niêm yết.

Cỡ chữ