- Tranh chấp gì? án hình sự — "VVL - Đánh bạc - phạm tội đánh bạc (điều 321 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự); Điều 17, Điều 58; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, x phạt: VVL 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù t nh từ ngày 21 tháng 12 năm 2018, nhưng trừ cho bị…
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 41/2017/QH14 Về việc thi hành Bộ luật Hình sự…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2019/HS-ST Ngày 27-3-2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Ngọc Sinh
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Phin
Bà Bùi Thị Hương.
- Thư ký phiên toà: Bà Đào Thị Hà - Thư ký Toà án nhân dân quận Hồng
Bàng, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải
Phòng tham gia phiên toà: Bà Đoàn Thị Lệ Thu - Kiểm sát viên.
Ngày 27 tháng 3 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng,
thành phố Hải Phòng xét x sơ th m công khai vụ án hình sự thụ lý số: 13/2019/TLST-HS ngày 05 tháng 3 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét x số 17/2019/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
VVL, sinh ngày 15 tháng 10 năm 1972 tại tỉnh Thái Bình. Nơi đăng ký
nhân kh u thường trú: Thôn A, xã B, huyện C, tỉnh Thái Bình; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: Lớp 07/10; dân tộc: Kinh; giới t nh: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông D và con bà E; có vợ và 03 con; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 15-12-2017 đến ngày 23-12-2017 được thay đổi biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú bị; bị bắt và bị tạm giữ từ ngày 21 tháng 12 năm 2018 do bị truy nã; chuyển tạm giam từ ngày 27 tháng 12 năm 2018. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung
vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 13 giờ ngày 14 tháng 12 năm 2017, sau khi ăn cơm trưa xong
VVL cùng F, G, H cùng đồng phạm phát hiện tại số nhà 12B phân khu 2 Khu đô thị I ở phường J, quận K, thành phố Hải Phòng có một số đối tượng đang đánh bạc ăn tiền bằng hình thức “xóc đĩa”, nên đã tham gia đánh bạc. Người cầm cái là một nam thanh niên (chưa rõ nhân thân, lai lịch). Dụng cụ để chơi gồm 01 bộ bát, đĩa bằng sứ màu trắng và 04 quân vị hình tròn được cắt từ vỏ bao thuốc lá. Cách thức chơi đánh bạc như sau: Khi chơi 04 quân vị được để trên lòng chiếc đĩa và dùng chiếc bát úp lên, người cầm cái sẽ dùng tay giữ chặt chiếc bát úp trên lòng chiếc đĩa bên trong có 04 quân vị giơ lên cao trước mặt rồi xóc đi xóc lại làm cho 04 quân vị ở trong chuyển động, sau đó để xuống ngay trước mặt mình cho người chơi chọn c a chẵn hoặc c a lẻ (khi mở bát mà mặt ng a lên có 02 quân vị cùng màu hoặc cả 04 quân vị cùng màu giống nhau thì gọi là ván chẵn, còn khi mở bát mà có 01 quân vị hoặc 03 quân vị cùng màu thì gọi là ván lẻ). Để đặt cược tiền, ai đánh c a chẵn thì đặt tiền trong lòng người xóc cái, ai đánh c a lẻ thì đặt tiền ph a trước mặt người xóc cái (khi chơi không có quy định gì cả). Nếu là ván chẵn thì người chơi ở c a chẵn thắng ván chơi này và người xóc cái phải trả tiền bằng số tiền người chơi đặt c a chẵn nhưng thắng tất cả số tiền mà người chơi khác đặt ở c a lẻ. Nếu là ván lẻ thì ngược lại. Đến khoảng 13 giờ 15 phút cùng ngày khi tất cả vẫn đang chơi chưa xác định được cụ thể từng người chơi thắng, thua như thế nào, thì Phòng Cảnh sát Hình sự Công an thành phố Hải Phòng phát hiện bắt quả tang. Thu giữ trên chiếu bạc số tiền 8.360.000 đồng, 01 chiếc bát, một số mảnh vỡ của chiếc đĩa bằng sứ màu trắng và 04 quân vị hình tròn được cắt từ vỏ bao thuốc lá.
Với ý định đánh bạc trong giới hạn 200.000 đồng, VVL bỏ ra 200.000
đồng đánh 02 ván đều đặt cược ở c a lẻ và bị thua hết. Khi cơ quan công an bắt giữ, thì người cầm cái và một số đối tượng khác tham gia chơi bỏ chạy thoát.
Trong quá trình điều tra, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải
phòng áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú đối với VVL, nhưng sau đó VVL bỏ trốn vào tỉnh Kiên Giang. Đến ngày 21-12-2018, VVL bị bắt theo Quyết định truy nã số 13 ngày 13-4-2018.
Đối với F cùng 15 đồng phạm khác đã được xét x theo Bản án hình sự số
51/2018/HS-ST ngày 18-9-2018 của Toà án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng.
Về vật chứng: VVL bị tạm giữ số tiền đánh bạc 200.000 đồng và tiền
lương 7.500.000 đồng bị thu giữ trong người do chưa kịp g i về cho gia đình. Một số vật chứng của vụ án đã được x lý tại Bản án số 51/2018/HS-ST ngày 18-9-2018 của Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng. Cơ quan Cảnh sát điều tra hiện đang tạm giữ số tiền 650.000 đồng của L để chờ x lý theo quy định của pháp luật khi bắt được L.
- Tại Cáo trạng số 07/CT-VKS-HB ngày 28-02-2019, Viện Kiểm sát nhân
dân quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng truy tố VVL về tội “Đánh bạc” quy định tại khoản 1 Điều 248 Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự).
- Tại phiên toà, bị cáo đã khai nhận tất cả những gì liên quan đến hành vi
phạm tội, phù hợp nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, thừa nhận việc truy tố, xét x bị cáo là đúng người, đúng tội danh và ý kiến biểu hiện rõ sự day dứt, hối hận về việc thực hiện tội phạm, mong muốn s a chữa lỗi lầm thông qua việc chấp hành nghiêm chỉnh pháp luật, t ch cực lao động chân chính, xin được giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện Kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như nội dung
bản cáo trạng, trên cơ sở các căn cứ quyết định hình phạt, đề nghị Hội đồng xét x căn cứ vào khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự năm 2015); điểm i, s khoản 1 Điều 51 điểm, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, x phạt VVL từ 06 tháng đến 09 tháng tù về tội “Đánh bạc”. Đề nghị x lý vật chứng theo Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự, tịch thu sung quỹ nhà nước tiền đánh bạc 200.000 đồng, trả lại số tiền 7.500.000 đồng do không liên quan phạm tội và buộc bị cáo phải chịu án ph theo điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội. Đối với bị can L hiện đang bỏ trốn, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Hải Phòng đã ra Quyết định truy nã bị can nên tách vụ án khi nào bắt được sẽ x lý theo quy định của pháp luật. Trong vụ án còn có đối tượng là người cầm cái và một số đối tượng khác tham gia đánh bạc, nhưng chưa rõ nhân thân lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Hồng Bàng, Hải Phòng tiếp tục xác minh làm rõ x lý sau.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã
được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét x nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an
quận Hồng Bàng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Hồng Bàng, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố của cơ quan tiến hành tố tụng, của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về tội danh: Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai
của bị cáo tại Cơ quan cảnh sát điều tra, phù hợp với lời khai của các bị cáo đã bị Tòa án nhân dân quận Hồng Bàng xét x tại bản án hình sự sơ th m số 51/2018/HS-ST ngày 18-9-2018, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, biên bản tạm giữ vật chứng, lời khai của người chứng kiến và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên đủ cơ sở khẳng định: Khoảng 13 giờ ngày 14 tháng 12 năm 2017, tại số nhà 12B phân khu 2 khu đô thị I ở phường J, quận K, thành phố Hải Phòng, VVL cùng M, N, O, P, Q, R, S, T, G, U, V, W, F, X, Y và H bị bắt quả tang về hành vi đánh bạc bằng hình thức “xóc đĩa” với tổng số tiền đánh bạc bị thu giữ trên chiếu bạc là 8.360.000 đồng. Do vậy, đủ căn cứ kết luận bị cáo VVL phạm tội “Đánh bạc”.
Về tình tiết định khung hình phạt: Bị cáo không phạm tình tiết định
khung nào khác ngoài khung hình phạt bị truy tố, nên chỉ phạm khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
T nh chất vụ án tuy t nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo
đồng phạm với số lượng đông người, xâm phạm đến trật tự công cộng, an toàn xã hội tại địa phương, ảnh hưởng đến uy t n, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, gây mất trật tự trị an của địa phương. Do vậy, cần phải x lý nghiêm minh để răn đe, trừng trị đối với bị cáo, qua đó nâng cao hiệu quả của công tác đấu tranh, phòng ngừa tệ nạn xã hội này.
Bị cáo không phạm tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên toà và trong quá
trình điều tra, truy tố, bị cáo thành kh n khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp t nghiêm trọng, nên được hưởng các tình tiết theo điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bị cáo có bác ruột là bà Vi Thị Vũ nuôi dưỡng bị cáo từ nhỏ do bố, mẹ bỏ nhà từ khi bị cáo còn bé. Bà Vũ được tặng thưởng huy chương kháng chiến hạng nhì, bố của bị cáo có chứng nhận tham gia kháng chiến, nên được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về hình phạt ch nh: Đối chiếu và áp dụng các quy định pháp luật hình
sự có lợi cho bị cáo theo khoản 3 Điều 7 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội. Bị cáo đồng phạm đánh bạc với vai trò người thực hành, nên phải áp dụng Điều 17, Điều 58 của Bộ luật Hình sự để quyết định hình phạt trong trường hợp đồng phạm. Tuy nhiên, cần phân hóa vai trò của bị cáo trong đồng phạm có mức độ nhất định vì tham gia đánh bạc hai ván với số tiền 200.000 đồng. Trên cơ sở đánh giá đầy đủ t nh chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, mục đ ch của hình phạt, nguyên tắc x lý đối với người phạm tội. Cần x phạt bị cáo mức hình phạt th ch hợp mới đảm bảo nhằm trừng trị người phạm tội, giáo dục họ có ý thức tuân theo pháp luật và các quy tắc của cuộc sống xã hội chủ nghĩa, ngăn ngừa bị cáo phạm tội mới và giáo dục người khác tôn trọng pháp luật, đấu tranh phòng ngừa và chống tội phạm. Bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhưng bỏ trốn, vi phạm điểm a, b khoản 3 Điều 60 của Bộ luật Tố tụng hình sự, gây khó khăn cho quá trình giải quyết vụ án của cơ quan tiến hành tố tụng, nên cần áp dụng Điều 38 của Bộ luật Hình sự để x bị cáo mức khởi điểm của hình phạt tù theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là phù hợp.
Về hình phạt bổ sung: Không cần áp dụng hình phạt tiền đối với bị cáo
do không có tài sản riêng, thu nhập không ổn định như đề nghị của Viện Kiểm sát là phù hợp.
Về x lý vật chứng: Cần tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với số tiền mà
bị cáo dùng vào việc đánh bạc là 200.000 đồng và trả lại bị cáo số tiền 7.500.000 đồng không s dụng vào việc phạm tội, nhưng cần giữ lại đảm bảo thi hành án về án phí.
Về án ph : Bị cáo phải chịu án ph hình sự sơ th m theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 248 của Bộ luật Hình sự năm 1999 (nay là khoản
1 Điều 321 Bộ luật Hình sự); Điều 17, Điều 58; điểm s, i khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự, Nghị quyết số 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 của Quốc hội, x phạt: VVL 06 (sáu) tháng tù về tội “Đánh bạc”. Thời hạn tù t nh từ ngày 21 tháng 12 năm 2018, nhưng trừ cho bị cáo thời gian tạm giữ từ ngày 15-12-2017 đến ngày 23-12-2017.
Căn cứ vào Điều 47, Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật
Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước đối với tiền đánh bạc 200.000 (hai trăm nghìn) đồng. Trả lại cho VVL số tiền không s dụng vào việc đánh bạc 7.500.000 (b y triệu, năm trăm nghìn) đồng, tuy nhiên giữ lại số tiền này để đảm bảo thi hành án. (Theo Biên lai số 7438 ngày 05-3-2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng)
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2015/UBTVQH14
ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội, buộc bị cáo phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án ph hình sự sơ th m.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TAND TP.Hải Phòng; - VKSND TP. Hải Phòng; - Sở Tư pháp TP.Hải Phòng; - PV 27 Công an TP. Hải Phòng; - Trại tạm giam Công an TP. Hải Phòng; - CA quận Hồng Bàng; - Cơ quan THAHS Công an quận Hồng Bàng; - VKSND quận Hồng Bàng; - Chi cục THADS quận Hồng Bàng; - Bị cáo; - UBND cấp xã nơi cư trú bị cáo; - Lưu: Hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Ngọc Sinh |