- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị Hà Thị Hoài P xin ly hôn và tranh chấp về việc chia tài sản chung khi ly hôn với anh Lê Bá T"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hà Thị Hoài P, xử:
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 37 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HÓA TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 12/2018/HNGĐ-ST Ngày 06-9-2018 V/v tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƢỚNG HOÁ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Minh Tâm.
2. Ông Dương Phước Định.
Thư ký phiên tòa: Bà Trần Mỹ Lâm – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị tham gia phiên tòa: Bà H Thị Đ i - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 9 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hướng Hóa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 28/2018/TLST - HNGĐ ngày 19 tháng 3 năm 2018 về việc tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con, chia tài sản khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 10/2018/QĐXXST - HNGĐ ngày 09 tháng 8 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 04/2018/QĐST – HNGĐ ngày 30 tháng 8 năm 2018, giữa các đương sự:
* Nguyên đơn: Chị Hà Thị Hoài P, sinh năm: 1984.
Địa chỉ: khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Có mặt.
* Bị đơn: Anh Lê Bá T, sinh năm: 1971.
Địa chỉ: khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt lần thứ hai.
* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan (NCQLNVLQ):
- Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
Địa chỉ trụ sở chính: Số 02 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, thành phố Hà Nội.
Người đại diện h p pháp: Ông Nguyễn Đức H – Trưởng phòng Kế hoạch và kinh doanh Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam Chi nhánh Lao Bảo Quảng Trị là người đại diện theo ủy quyền của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Quyết định về việc uỷ quyền số 127/QĐ – NHNoLB – KHKD ngày 05/9/2018 của Giám đốc Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam Chi nhánh Lao Bảo Quảng Trị). Có mặt.
- Chị Lê Thị Ánh T, sinh năm: 1976.
Nơi ĐKHKTT: khu phố 7, phường 2, thành phố Đ, tỉnh Quảng Trị.
Chổ ở hiện nay: Số nhà 50 đường Thạch Hãn, khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Vắng mặt lần thứ hai không có lý do.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện đề ngày 19/3/2018; Bản trình bày ý kiến ngày 14/5/2018; Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải các ngày 17/4/2018, 28/6/2018, 12/7/2018 và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, nguyên đơn chị Hà Thị Hoài P trình bày: Chị Hà Thị Hoài P và anh Lê Bá T tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2005 tại UBND thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Quá trình chung sống v ch ng thường xuyên mâu thuẫn, gây gỗ lẫn nhau, anh T hay có hành vi bạo lực nên chị P đã về nhà bố mẹ đẻ sinh sống. V ch ng không còn sống chung, chăm lo cho đời sống của nhau. Nhận thấy tình cảm không còn và mục đích hôn nhân không đạt đư c. Nay yêu cầu Tòa án giải quyết đư c ly hôn với anh Lê Bá T.
Về con chung: Có 02 con chung. Khi ly hôn, chị Hà Thị Hoài P có nguyện vọng đư c trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Lê Bá Anh Q, sinh ngày 20/5/2013 và Lê Bá Q2, sinh ngày 13/9/2006. Yêu cầu anh Lê Bá T phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000đ ng/tháng/02 con.
Về chia tài sản chung: Quá trình chung sống v ch ng tạo lập đư c khối tài sản chung g m: 01 (một) ngôi nhà xây cấp bốn, mái l p tôn đư c xây dựng và gắn liền trên diện tích 308m2, vị trí thửa đất tại khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị. Trị giá nhà và đất, chị P đ ng ý theo Biên bản định giá tài sản ngày 07/6/2018 là 580.189.638đ ng (năm trăm tám mươi triệu một trăm tám mươi chín nghìn sáu trăm ba mươi tám đồng).
Khi ly hôn, chị P có nguyện vọng giao nhà và đất cho anh Lê Bá T đư c trực tiếp sử dụng, sở hữu. Anh Lê Bá T có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Lao Bảo Quảng Trị số tiền 200.000.000đ ng. Anh Lê Bá T có nghĩa vụ phải thanh toán khoản tiền chênh lệch về tài sản chung cho chị P số tiền 190.000.000đ ng.
Về khoản n chung:
N Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị số tiền 200.000.000đ ng (hai trăm triệu đồng). Số tiền vay nói trên đã cho chị Lê Thị Ánh T (là em gái của anh T) mư n. Việc vay mư n tiền giữa chị T và v ch ng anh T, chị P không đư c lập thành văn bản mà có mẹ anh T chứng kiến sự việc nhưng chị P không có yêu cầu Tòa án triệu tập bà Nguyễn Thị Đóa tham gia tố tụng với tư cách là người làm chứng và hiện chị T vẫn chưa trả. Tại phiên tòa, chị Hà Thị Hoài P rút yêu cầu về việc buộc chị Lê Thị Ánh T phải có nghĩa vụ trả cho chị P và anh T số tiền đã mư n là 200.000.000đ ng.
Chị P không thừa nhận việc chị T, anh T cho rằng v ch ng chị P, anh T n chị T số tiền là 95.000.000đ ng.
Tại Bản tự khai đề ngày 04/5/2018; Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải các ngày 17/4/2018, 28/6/2018, 12/7/2018 và quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Lê Bá T trình bày:
Về tình cảm: Chị Hà Thị Hoài P và anh Lê Bá T tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2005 tại UBND thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị. Quá trình chung sống v ch ng có mâu thuẫn, hay cãi vả về vấn đề tài chính. Chị P không chăm lo cho đời sống gia đình và con cái. Nhưng nhận thấy mâu thuẫn v ch ng chưa đến mức trầm trọng. Vì vậy, mong muốn v ch ng đoàn tụ để cùng nhau nuôi dạy con cái. Nhưng nếu chị P vẫn giữ nguyên yêu cầu giải quyết ly hôn thì anh T thuận tình ly hôn.
Về con chung: Anh T đ ng ý giao con Lê Bá Anh Q, sinh ngày 20/5/2013 cho chị Hà Thị Hoài P đư c trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh T đư c trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Lê Bá Q2, sinh ngày 13/9/2006. Không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung: Đối với 01 (một) ngôi nhà xây cấp bốn, mái l p tôn đư c xây dựng và gắn liền trên diện tích 308m2, vị trí thửa đất tại khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị mà chị P trình bày là tài sản chung. Anh T cho rằng ngu n gốc về tài sản chung là của mẹ anh T (bà Nguyễn Thị Đóa) cho v ch ng để ra ở riêng. Anh T xác định trị giá nhà và đất là 270.000.000đ ng. Nhưng sau khi Hội đ ng định giá tài sản ngày 07/6/2018 là giá trị tài sản là 580.189.638 đ ng, anh T không yêu cầu định giá lại tài sản. Anh T có nguyện vọng để lại tài sản chung cho các con và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về khoản n chung:
N Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Lao Bảo Quảng Trị số tiền 200.000.000đ ng.
N chị Lê Thị Ánh T tổng cộng số tiền là 95.000.000đ ng (trong đó 30.000.000đ ng để làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 30.000.000đ ng tiền đưa chị P điều trị tại bệnh viện; mư n tiền mua xe máy là 23.000.000đ ng và 12.000.000đ ng anh T học bằng lái xe).
Tổng cộng khoản n chung: 295.000.000đ ng (hai trăm chín mươi lăm triệu đồng). Anh T yêu cầu giải quyết chia đôi nghĩa vụ trả n chung.
Anh T không thừa nhận sự việc chị T có mư n v ch ng anh T, chị P số tiền 200.000.000đ ng như chị P đã trình bày.
Tại Văn bản tham gia ý kiến đề ngày 30/3/2018; Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải các ngày 28/6/2018, 12/7/2018 và quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm người đại diện h p pháp của người có quyền l i nghĩa vụ liên quan Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam trình bày:
Anh Lê Bá T và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam - Chi nhánh Lao Bảo Quảng Trị đã ký kết H p đ ng tín dụng số 3901 - LVA - 201501450 ngày 19/11/2015 và Giấy nhận n kiêm báo cáo đề xuất giải ngân ngày 14/11/2017 với hạn mức tín dụng là 200.000.000đ ng, thời hạn 12 tháng, hạn trả n cuối cùng ngày 13/11/2018. Để bảo đảm cho nghĩa vụ vay vốn của h p đ ng tín dụng, chị Hà Thị Hoài P, anh Lê Bá T đã thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên diện tích 308m2, thửa số 94, tờ bản đ số 38, địa chỉ thửa đất tại khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 149839 do UBND huyện Hướng Hóa cấp ngày 12/12/2011 đứng tên người sử dụng đất anh Lê Bá T và chị Hà Thị Hoài P theo H p đ ng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/191125220/HĐTC ngày 19/11/2015 đã đư c ký kết giữa Ngân hàng NN&PTNT – Chi nhánh Lao Bảo Quảng Trị và anh Lê Bá T, chị Hà Thị Hoài P. Trường h p v ch ng ly hôn, không thỏa thuận đư c vấn đề chia tài sản và Tòa án quyết định giao tài sản đang thế chấp tại Ngân hàng theo H p đ ng tín dụng cho bên đư c quyền sở hữu, sử dụng thì buộc bên đó có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện và chịu trách nhiệm trả toàn bộ khoản n khi đến hạn theo H p đ ng tín dụng đã ký kết.
Tại Biên bản về kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 28/6/2018 người có quyền l i nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Ánh T trình bày:
Chị T có cho v ch ng anh T và chị P mư n tổng cộng số tiền là 95.000.000đ ng (trong đó mư n 30.000.000đ ng để làm Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; 30.000.000đ ng tiền đi chăm sóc chị P khi nằm điều trị ở bệnh viện; mư n tiền mua xe là 23.000.000đ ng và 12.000.000đ ng để anh T đi học bằng lái xe). Khi mư n tiền giữa các bên không lập bằng văn bản mà chỉ thỏa thuận bằng miệng. Nay yêu cầu anh T, chị P phải có nghĩa vụ mỗi người trả một nửa.
Chị T không thừa nhận việc đã mư n của anh T, chị P số tiền 200.000.000đ ng như chị P đã trình bày.
Tại Biên bản lấy ý kiến của cháu Lê Bá Q2 vào ngày 09/4/2018, cháu Quý xác định nguyện vọng của cháu là yêu cầu đư c tiếp tục sống cùng với chị P.
Ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát:
Thẩm phán, Thư ký đư c phân công thụ lý giải quyết vụ án đã đư c thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn và việc tuân theo pháp luật của Hội đ ng xét xử tại phiên tòa đư c tiến hành công khai, công bằng. Bảo đảm sự vô tư, khách quan trong tố tụng dân sự. Đã thực hiện đầy đủ nhiệm vụ, quyền hạn đư c quy định tại Điều 48, 51, 203 của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc Thẩm phán thụ lý vụ án không yêu cầu người có quyền l i nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập Lê Thị Ánh T nộp tạm ứng án phí sơ thẩm đối với yêu cầu trả n là vi phạm quy định tại điều 146 của Bộ luật tố tụng dân sự.
Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, 71 của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc giao nộp tài liệu, chứng cứ đư c nguyên đơn và người có QLNVLQ là Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam thực hiện tương đối đầy đủ;
Bị đơn không đ ng ý với kết quả định giá của Hội đ ng định giá; Yêu cầu giải quyết về khoản n chung nhưng không nộp bổ sung các tài liệu, chứng cứ theo quy định tại Điều 96 BLTTDS. Không tham gia phiên tòa xét xử ngày 30/8/2018, HĐXX phải ra quyết định hoãn phiên tòa; Phiên tòa đư c xét xử lại vào hôm nay 06/9/2018.
Về ý kiến giải quyết vụ án: Căn cứ h sơ vụ án, các tài liệu, chứng cứ đã đư c Hội đ ng xét xử xem xét và kết quả tranh luận của những người tham gia tại phiên tòa, xét thấy:
Căn cứ Điều 56, 59, 60, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình 2014; Điều 244, 463, 466; khoản 4 điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 5 điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; đề nghị HĐXX:
- Đình chỉ xét xử phần yêu cầu buộc chị T có nghĩa vụ trả n cho anh T, chị P số tiền 200.000.000đ ng.
- Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, cho chị Hà Thị Hoài P đư c ly hôn với anh Lê Bá T.
- Về con chung: Chấp nhận yêu cầu của chị Hà Thị Hoài P, giao cho chị P trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng hai cháu Lê Bá Q2, sinh ngày 19/09/2006 và Lê Bá Anh Q sinh ngày 20/5/2013. Anh T cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 1.500.000đ ng.
- Về tài sản chung, n chung: Có đầy đủ chứng cứ thể hiện v , ch ng Anh T, chị P có 01 lô đất, diện tích 308 m2, thửa đất số 94, tờ bản đ số 38 tại khóm Tân Kim, TT Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị theo GCNQSDĐ số BI 149839 cấp ngày 12/12/2011. Trên đất có 01 ngôi nhà. Tổng giá trị tài sản chung g m nhà và quyền sử dụng đất là 580.189.638đ ng. Chấp nhận ý kiến của Ngân hàng NNVPTNT Việt Nam chi nhánh Lao Bảo, Quảng Trị đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Đức H: Tòa án giải quyết cho anh T chị P ly hôn thì Tòa án quyết định giao tài sản thế chấp cho bên nào sở hữu, sử dụng thì buộc bên đó có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện h p đ ng tín dụng và chịu trách nhiệm thanh toán toàn bộ khoản n khi đến hạn theo h p đ ng số 3901-LVA-201501450 ngày 19/11/2015. Vì vậy, giao tài sản chung là nhà và quyền sử dụng đất nói trên cho anh T trực tiếp sử dụng, sở hữu. Anh T có trách nhiệm trả cho Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam chi nhánh Lao Bảo Quảng Trị số tiền n 200.000.000đ ng khi đến hạn. Anh Lê Bá T có nghĩa vụ thanh toán 1/2 trị giá tài sản chung cho chị P là 190.095.000đ ng.
- Về yêu cầu của người CQLNVLQ chị Lê Thị Ánh T buộc anh T, chị P phải trả số tiền 95.000.000đ ng. Anh T công nhận số tiền n , chị P không công nhận. Quá trình thụ lý, Tòa án đã có thông báo số 02/2018/TB-TA ngày 06/6/2018 để anh T bổ sung chứng cứ, chứng minh khoản n chị T số tiền 95.000.000đ ng nhưng anh T không thực hiện. Chị T không nộp tạm ứng án phí, không tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải ngày 12/7/2018, không cung cấp chứng cứ, không tham gia phiên tòa và cũng không có ý kiến gì để bảo vệ quyền l i của mình. Vì vậy không có cơ sở để giải quyết trong vụ án này.
- Về án phí DSST: Buộc chị P phải chị án phí ly hôn sơ thẩm, án phí về chia tài sản chung ; buộc anh T chịu án phí cấp dưỡng nuôi con và án phí về chia tài sản chung theo quy định.
Quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Hà Thị Hoài P giao nộp các tài liệu, chứng cứ g m: Trích lục kết hôn (bản sao); Trích lục khai sinh con Lê Bá Anh Q và Lê Bá Q2 (bản sao); Đơn xin xác nhận hộ khẩu anh Lê Bá T và chị Hà Thị Hoài P (BL03 - 06), Đơn yêu cầu ra quyết định định giá và xem xét thẩm định tại chỗ; Đơn xin xác nhận mức lương và công tác (bản chính) (BL37 - 38). Bị đơn anh Lê Bá T và người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Ánh T không giao nộp tài liệu, chứng cứ.
Người có quyền l i, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng NN&PTNT Việt Nam giao nộp các tài liệu, chứng cứ g m: Quyết định về việc thực hiện quyền, nghĩa vụ tố tụng và thi hành án; Giấy nhận n kiêm báo cáo đề xuất giải ngân; H p đ ng tín dụng; Giấy ủy quyền; Biên bản xác định giá trị tài sản bảo đảm; Đơn yêu cầu đăng ký thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất; H p đ ng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BI 149839 (bản sao, chứng thực) (BL14 - 28).
Tòa án đã thu thập đư c các tài liệu, chứng cứ g m: H sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (BL 47 - 51), Ủy nhiệm chi (BL 74) (bản sao, chứng thực).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ đã đư c xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định:
Tòa án đã trực tiếp cấp, tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử và Quyết định hoãn phiên tòa cho bị đơn anh Lê Bá T và người có quyền l i nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Ánh T nhưng tại phiên tòa anh Lê Bá T và chị Lê Thị Ánh T vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Vì vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 228, điểm b khoản 2 Điều 227 BLTTDS, Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn anh Lê Bá T và người có quyền l i nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Ánh T. Đối với sự vắng mặt của chị Lê Thị Ánh T có yêu cầu Tòa án giải quyết buộc chị Hà Thị Hoài P và anh Lê Bá T phải trả số tiền là 95.000.000đ ng nhưng nay vắng mặt tại lần thứ hai không có lý do nên đư c xem là từ bỏ yêu cầu, nếu đương sự có yêu cầu thì đư c giải quyết bằng vụ án khác theo quy định tại khoản 3 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 06/01/2016 Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Tại phiên tòa, chị Hà Thị Hoài P thay đổi không yêu cầu chị Lê Thị Ánh T phải trả cho chị P, anh T số tiền đã mư n là 200.000.000đ ng. HĐXX xét thấy, việc chị P thay đổi yêu cầu là tự nguyện nên căn cứ vào khoản 1 Điều 244 của Bộ luật tố tụng dân sự, chấp nhận việc thay đổi yêu cầu của chị P và không xem xét đối với phần yêu cầu buộc chị T trả cho chị P, anh T số tiền 200.000.000đ ng. Nếu sau này chị P yêu cầu thì giải quyết bằng vụ án khác.
Đối với yêu cầu ly hôn của chị Hà Thị Hoài P, HĐXX thấy: Chị Hà Thị Hoài P và anh Lê Bá T tự nguyện đăng ký kết hôn vào năm 2005 tại UBND thị trấn Lao Bảo, huyện Hướng Hóa, tỉnh Quảng Trị là hôn nhân h p pháp và đư c pháp luật bảo vệ. Sau một thời gian chung sống, v ch ng phát sinh nhiều mâu thuẫn, đã cố gắng khắc phục nhưng không thể hàn gắn. Thấy mâu thuẫn xảy ra từ lâu, v ch ng không còn sống chung, không còn chăm lo cho nhau nên đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đư c. Vì vậy cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn cho chị Hà Thị Hoài P đư c ly hôn anh Lê Bá T là phù h p với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.
Về con chung: Quá trình chung sống, chị Hà Thị Hoài P và anh Lê Bá T có hai con chung. Hiện cả hai cháu đang sống cùng với chị P, anh T và phát triển bình thường. Chị P có nguyện vọng đư c trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cả hai con và yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con số tiền 2.000.000đ ng/tháng/02 con. Anh T có nguyện vọng đư c trực tiếp nuôi dưỡng cháu Lê Bá Q2, sinh ngày 13/9/2006 và giao cháu Lê Bá Anh Q, sinh ngày 20/5/2013 cho chị P đư c trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. HĐXX xét thấy, hiện tại chị P chưa có chỗ ở ổn định, đang sống nhờ gia đình bố mẹ, điều kiện về kinh tế với mức lương 7.000.000đ ng/tháng để chăm sóc nuôi dưỡng cả hai con là chưa đảm bảo nên cần xét nguyện vọng của cháu Quý và thấy anh T, chị P đều có công việc và đủ điều kiện để đảm bảo quyền l i về mọi mặt của con; Vì vậy, cần giao cháu Lê Bá Q2, sinh ngày 13/9/2006 cho anh T đư c trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Giao cháu Lê Bá Anh Q, sinh ngày 20/5/2013 cho chị P đư c trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con là phù h p với quy định tại khoản 1, 2 Điều 81; Điều 82, 83 của Luật hôn nhân gia đình.
Đối với yêu cầu của chị P giải quyết về chia tài sản chung là 01 (một) ngôi nhà mái l p tôn, thuộc nhóm nhà D03 đư c xây dựng và gắn liền trên diện tích 308m2, thửa số 94, tờ bản đ số 38, địa chỉ thửa đất tại khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 149839 do UBND huyện Hướng Hóa cấp ngày 12/12/2011 đứng tên người sử dụng đất anh Lê Bá T và chị Hà Thị Hoài P. HĐXX thấy: Anh T, bà Đóa cho rằng, ngu n gốc tài sản do gia đình bà Nguyễn Thị Đóa (là mẹ anh T) đã tự khai hoang nhưng chưa làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất. Đến năm 2008 đã cho gia đình v ch ng anh T chị P để ra ở riêng, việc anh T làm thủ tục đăng ký quyền sử dụng đất đứng tên anh T, chị P gia đình bà Đóa không biết, nhưng bà Đóa không có yêu cầu độc lập nên không xem xét (BL86 - 87). HĐXX xét thấy: Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất đư c UBND huyện Hướng Hóa cấp ngày 12/12/2011 đứng tên người sử dụng đất anh Lê Bá T và chị Hà Thị Hoài P là tài sản có đư c sau khi kết hôn, đư c hình thành trong thời kỳ hôn nhân nên là tài sản chung của v ch ng phù h p theo quy định tại Điều 33, khoản 3 Điều 38 của Luật hôn nhân gia đình cần đư c chấp nhận.
Về xác định giá trị tài sản, Tòa án đã thành lập Hội đ ng định giá xác định giá trị tài sản theo yêu cầu và chị P đ ng ý kết quả định giá theo Biên bản định giá đã xác định giá trị nhà và quyền sử dụng đất là 580.189.638đ ng. Anh T không đ ng ý nhưng không yêu cầu định giá lại tài sản nên cần chấp nhận giá trị tài sản theo Biên bản định giá ngày 07/6/2018 là có căn cứ và phù h p với quy định tại Thông tư số 02/2014/TTLT – TANDT – VKSNDTC – BTP – BTC ngày 28/3/2014.
Tổng cộng tài sản chung là: 580.189.638đ ng (năm trăm tám mươi triệu một trăm tám mươi chín nghìn sáu trăm ba mươi tám đồng).
Về khoản n chung:
Đối với khoản n tại Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền 200.000.000đ ng. HĐXX xét thấy: Theo H p đ ng tín dụng số 3901 - LVA - 201501450 ngày 19/11/2015 và Giấy nhận n kiêm báo cáo đề xuất giải ngân ngày 14/11/2017 với hạn mức tín dụng là 200.000.000đ ng, thời hạn 12 tháng, hạn trả n cuối cùng ngày 13/11/2018 đã đư c ký kết giữa anh Lê Bá T và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam – Chi nhánh Lao Bảo Quảng Trị. Nay Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam yêu cầu buộc bên đư c Tòa án quyết định giao quyền sử dụng, sở hữu tài sản đang thế chấp tại Ngân hàng là: quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên diện tích 308m2, thửa số 94, tờ bản đ số 38, địa chỉ thửa đất tại khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 149839 do UBND huyện Hướng Hóa cấp ngày 12/12/2011 đứng tên người sử dụng đất anh Lê Bá T và chị Hà Thị Hoài P theo H p đ ng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/191125220/HĐTC ngày 19/11/2015 đã đư c ký kết giữa Ngân hàng NN&PTNT – Chi nhánh Lao Bảo Quảng Trị và anh Lê Bá T, chị Hà Thị Hoài P có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện h p đ ng và chịu trách nhiệm trả n gốc số tiền 200.000.000đ ng và lãi tiền vay theo thỏa thuận trong h p đ ng và trên từng giấy nhận n cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam. Anh T và chị P đều thừa nhận, vì vậy cần chấp nhận đây là khoản n chung của v ch ng là phù h p với quy định tại khoản 1, 3 Điều 37 và Điều 60 của Luật hôn nhân gia đình.
Tổng cộng khoản n chung: 200.000.000đ ng (hai trăm triệu đồng).
Xét thấy chị P có nguyện vọng và hiện tại anh T đang cùng các con sinh sống ổn định tại căn nhà trên cho nên cần giao cho anh Lê Bá T đư c trực tiếp sử dụng, sở hữu giao toàn bộ tài sản chung là ngôi nhà, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất trị giá là 580.189.638đ ng. Anh Lê Bá T có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện h p đ ng và chịu trách nhiệm trả n gốc 200.000.000đ ng và tiền lãi hàng tháng cho Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam theo thỏa thuận trong h p đ ng là phù h p với quy định tại điểm c khoản 1 Điều 62 và Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình.
Xét các yếu tố đóng góp công sức tạo lập tài sản, khi chia tài sản chung của v ch ng để xác định tỷ lệ tài sản mà v ch ng đư c chia, HĐXX thấy: Quá trình tạo lập, duy trì và phát triển khối tài sản chung là do sự đóng góp về tài sản riêng của gia đình bà Nguyễn Thị Đóa (mẹ của anh T) khai hoang từ năm 1975 và đến năm 2008 đã cho v ch ng anh T, chị P để ra ở riêng và là tài sản chung của v ch ng (BL 37, 38). Nên anh Lê Bá T đư c xem là có công sức đóng góp nhiều hơn sẽ đư c chia nhiều hơn theo tỷ lệ anh T đư c hưởng 60% giá trị tài sản chung sau khi đã thanh toán việc thực hiện nghĩa vụ về tài sản chung của v ch ng cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam số tiền n gốc là 200.000.000đ ng (580.189.638đ ng – 200.000.000đ ng = 380.189.638đ ng ) tương ứng là 380.189.638đ ng x 60% = 228.113.783đ ng; chị P đư c hưởng 40% giá trị tài sản chung tương ứng là 380.189.638đ ng x 40% = 152.075.855đ ng là phù h p với quy định tại điểm b khoản 2 Điều 59 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm b khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 06/01/2016 Hướng dẫn thi hành một số quy định của Luật hôn nhân và gia đình.
Anh Lê Bá T có nghĩa vụ phải thanh toán khoản tiền chênh lệch về tài sản chung cho chị Hà Thị Hoài P số tiền 152.075.855đ ng (một trăm năm mươi hai triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi lăm đồng).
Đối với ý kiến về việc giải quyết của đại diện Viện kiểm sát là phù h p với các tài liệu chứng cứ có trong h sơ vụ án cũng như phần tranh luận tại phiên tòa.
Về án phí: Áp dụng khoản 2, 4 Điều 147 BLTTDS và điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, buộc:
Chị Hà Thị Hoài P phải chịu 300.000đ ng án phí ly hôn sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm chia tài sản chung của v ch ng đối với giá trị phần tài sản đư c hưởng là 152.075.855đ ng x 5% = 7.603.792đ ng. Tổng cộng là 7.903.792đ ng nhưng đư c trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.750.000đ ng theo Biên lai số AA/2014/0007057 ngày 19/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa. Chị Hà Thị Hoài P đư c hoàn trả số tiền chênh lệch là 846.208đ ng. Anh Lê Bá T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm chia tài sản chung của v ch ng đối với giá trị phần tài sản đư c hưởng là 228.113.783đ ng x 5% = 11.405.689đ ng.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 3 Điều 228; điểm b, d khoản 2 Điều 227; khoản 1 Điều 244 và Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự ; khoản 1 Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 33; khoản 3 Điều 38; khoản 1, 2, 3 Điều 37; Điều 59; Điều 60; điểm c khoản 1 Điều 62 của Luật hôn nhân và Gia đình; Thông tư số 02/2014/TTLT – TANDT – VKSNDTC – BTP – BTC ngày 28/3/2014; điểm b khoản 4 Điều 7 Thông tư liên tịch số 01/2016/TTLT – TANDTC – VKSNDTC – BTP ngày 06/01/2016 và khoản 2, 4 Điều 147 BLTTDS và điểm a, b khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án,
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Hà Thị Hoài P, xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Hà Thị Hoài P đư c ly hôn anh Lê Bá T.
Về con chung: Giao con Lê Bá Anh Q, sinh ngày 20/5/2013 cho chị Hà Thị Hoài P đư c trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Anh Lê Bá T đư c trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con Lê Bá Q2, sinh ngày 13/9/2006. Không bên nào phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đư c cản trở.
Về chia tài sản chung: Giao cho anh Lê Bá T đư c quyền sử dụng, sở hữu quyền sử dụng một ngôi nhà mái l p tôn thuộc nhóm nhà D03 đư c xây dựng trên diện tích đất 308m2 , thửa số 94, tờ bản đ số 38, địa chỉ thửa đất tại khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 149839 do UBND huyện Hướng Hóa cấp ngày 12/12/2011. Trị giá tài sản chung là 580.189.638đồng (năm trăm tám mươi triệu một trăm tám mươi chín nghìn sáu trăm ba mươi tám đồng).
Anh Lê Bá T có nghĩa vụ phải thanh toán khoản tiền chênh lệch về chia tài sản chung cho chị Hà Thị Hoài P số tiền 152.075.855đồng (một trăm năm mươi hai triệu không trăm bảy mươi lăm nghìn tám trăm năm mươi lăm đồng).
Về khoản n chung: Anh Lê Bá T có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện và chịu trách nhiệm trả toàn bộ n gốc là 200.000.000đồng (hai trăm triệu đồng) và tiền lãi vay hàng tháng theo thỏa thuận trong H p đ ng tín dụng số 3901 - LVA - 201501450 ngày 19/11/2015 và Giấy nhận n kiêm báo cáo đề xuất giải ngân ngày 14/11/2017, hạn trả n cuối cùng ngày 13/11/2018 kèm theo H p đ ng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 01/191125220/HĐTC ngày 19/11/2015 đã đư c ký kết giữa Ngân hàng NN&PTNT – Chi nhánh Lao Bảo Quảng Trị và anh Lê Bá T, chị Hà Thị Hoài P. Tài sản thế chấp bao g m quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên diện tích 308m2, thửa số 94, tờ bản đ số 38, địa chỉ thửa đất tại khóm T, thị trấn L, huyện H, tỉnh Quảng Trị theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BI 149839 do UBND huyện Hướng Hóa cấp ngày 12/12/2011 cho Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam.
2. Về án phí DSST: Chị Hà Thị Hoài P phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm là 300.000đ ng và án phí dân sự sơ thẩm chia tài sản chung của v ch ng đối với giá trị phần tài sản đư c hưởng là 152.075.855đ ng x 5% = 7.603.792đ ng. Tổng cộng là 7.903.792đ ng nhưng đư c trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 8.750.000đ ng theo Biên lai số AA/2014/0007057 ngày 19/3/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Hướng Hóa. Chị Hà Thị Hoài P đư c hoàn trả số tiền chênh lệch là 846.208đ ng. Anh Lê Bá T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm chia tài sản chung của v ch ng đối với giá trị phần tài sản đư c hưởng là 228.113.783đ ng x 5% = 11.405.689đ ng.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Chị Hà Thị Hoài P và Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án (06/9/2018). Anh Lê Bá T và chị Lê Thị Ánh T có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án đư c giao hoặc đư c niêm yết.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Q.Trị; - VKSND huyện H.Hóa; - Các đương sự; - Chi cục THADS huyện H.Hóa; - UBND TT Lao Bảo, huyện H.Hóa; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa Trần Văn Phƣơng |