vanban.org

Bản án 12/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Vạn Ninh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 14/02/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Văn V (tên gọi khác: T) phạm tô ̣i “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Lê Văn V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thờ i hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án. Về trách nhiê ̣m dân sự : Không xét về việc bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bị cáo Lê Văn V đối với người bị hại chị Huỳnh Thị Minh T. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Văn V (tên gọi khác: T) phạm tô ̣i “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 48 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN V
TỈNH KHÁNH HÒA

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 12/2017/HSST
Ngày: 14/02/2017

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨAVIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN V - TỈNH KHÁNH HÒA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Kim Trọng

- Các Hội thẩm nhân dân:

. Ông Hoàng Xuân Lộc;

. Ông Nguyễn Tam Kỳ;

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Lê Phan Ngọc Anh - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện V- tỉnh Khánh Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện V- tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Bá Sử - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 02 năm 2017, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện V- tỉnh Khánh Hòa, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 90/2016/HSST ngày 21 tháng 12 năm 2016 đối với bị cáo:

Lê Văn V(tên gọi khác: T) - sinh năm 1991, tại huyện V - tỉnh Khánh Hòa; trú tại: Thôn Q - xã T - huyện V - tỉnh Khánh Hòa; quốc ti ̣ch: Viê ̣t Nam; dân tô ̣c: Kinh; nghề nghiê ̣p: không; trình đô ̣ văn hóa: 5/12; con ông Lê Văn T(chết) và bà Đặng Thị Thanh C (chết); tiền sự: không; tiền án: Bị xử phạt 09 (chín) tháng 09 (chín) ngày tù về tội “Cướp tài sản” trả tự do tại phiên tòa theo Bản án hình sự phúc thẩm số 59/2010/HSPT ngày 19/4/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa, hiện tại bị cáo chưa chấp hành xong bản án về phần án phí; Bị xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự phúc thẩm số 150/2012/HSPT, ngày 19/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 08/8/2015; bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam. Có mă ̣t.

Người bị hại: Chị Huỳnh Thị Minh T - sinh năm 1988; trú tại: Thôn Q - xã T - huyện V- tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt

NHẬN THẤY:

Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện V- tỉnh Khánh Hòa truy tố về hành vi phạm tội như sau: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 16/8/2016 Lê Văn V đi bộ trong khu vực thôn Q, xã T tìm tài sản sơ hở thì trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Khi đi ngang nhà ông Huỳnh Văn S thì phát hiện xe mô tô 79F8-8500 của chị Huỳnh Thị Minh T đang dựng trong sân nhà không ai trông coi nên tìm cách vào trộm. V dùng tay tháo gỡ hàng rào lưới thép B40 đoạn tiếp với trụ cổng nhà tạo thành một khoảng trống. V đi đến nơi để xe thì phát hiện xe bị khóa cổ nên V kéo xe ra ngoài đường hương lộ và dùng tay lắc mạnh cổ lái làm khóa cổ trở lại bình thường. V dùng tay tháo dây bình rồi nổ máy chạy về nhà ở thôn Q, xã T cất giấu chờ tiêu thụ. Đến trưa cùng ngày thì bị cơ quan công an phát hiện thu giữ xe mô tô 79F8-8500. Tại Kết luận định giá tài sản số 64/2016/KL-TTHS ngày 27 tháng 8 năm 2016 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện V- tỉnh Khánh Hòa kết luận: xe mô tô 79F8-8500 bị trộm cắp trị giá 1.575.000đồng (một triệu năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Tại bản Cáo trạng số 04/CT-KSĐT ngày 20 tháng 12 năm 2016, Viện kiểm sát nhân dân huyện V- tỉnh Khánh Hòa đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện V-tỉnh Khánh Hòa để xét xử bị cáo Lê Văn V về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 138 của Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Lê Văn V theo tội danh, khung hình phạt như trên và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g - p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự, tuyên phạt bị cáo từ 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù đến 01(một) năm 06 (sáu) tháng tù. Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác,

XÉT THẤY: Tại phiên tòa, bị cáo Lê Văn V đã khai nhâ ̣n hành vi thực hiện việc trộm cắp tài sản của chị Huỳnh Thị Minh T như nô ̣i dung bản Cáo tra ̣ng số 04/CT-KSĐT ngày 20 tháng 12 năm 2016 của Viện kiểm sát nhân dân huyện V - tỉnh Khánh Hòa đã nêu. Lờ i khai của bị cáo phù hợp vớ i lời khai của người bị hại, người làm chứng; phù hợp với vật chứng thu giữ được và các chứ ng cứ khác có ta ̣i hồ sơ vu ̣ án. Như vậy, đủ cơ sở kết luận Lê Văn V đã có một tiền án về tội “Cướp tài sản” theo Bản án hình sự phúc thẩm số 59/2010/HSPT ngày 19/4/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 16/8/2016 tại sân nhà ông Huỳnh Văn S ở thôn Q, xã T, huyện V, tỉnh Khánh Hòa, Lê Văn V đã có hành vi trộm cắp xe mô tô 79F8-8500 của chị Huỳnh Thị Minh T trị giá 1.575.000đồng (một triệu năm trăm bảy mươi lăm nghìn đồng). Hành vi của Lê Văn V đa phạm̃ tô ̣i “Trộm cắp tài sản”, tô ̣i và hinh pha ̣t được quy đi ̣nh ta ̣i khoản 1 Điều 138 của Bộ

̀ luâ ̣t hinh sự. ̀

Hành vi phạm tội của bị cáo Lê Văn V đã trực tiếp xâm hại đến tài sản thuộc sở hữu của chị Huỳnh Thị Minh T, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an ở địa phương.

Chỉ vì muốn có tiền tiêu xài mà bị cáo đã bất chấp pháp luật thực hiện hành vi trộm cắp, chiếm đoạt tài sản của người khác. Vì vậy, cần phải xử lý nghiêm minh để cải tạo, giáo dục bị cáo và ngăn ngừa chung. Bị cáo là người có 02 tiền án: Bị xử phạt 09 (chín) tháng 09 (chín) ngày tù về tội “Cướp tài sản” và trả tự do tại phiên tòa tại Bản án hình sự phúc thẩm số 59/2010/HSPT ngày 19/4/2010 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Bị xử phạt 04 (bốn) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” tại Bản án hình sự phúc thẩm số 150/2012/HSPT, ngày 19/9/2012 của Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa. Chấp hành xong hình phạt tù từ ngày 08/8/2015. Chứng tỏ bị cáo là người coi thường pháp luật, không chịu tiếp thu sữa chữa để trở thành người công dân tốt. Lần này bị cáo phạm tội là thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự, nên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian dài mới đủ tác dụng răn đe, giáo dục.

Tuy nhiên, xét thấy bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, tài sản chiếm đoạt đã được thu hồi trả lại cho người bị hại; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Nên áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm g

- p khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt, để bị cáo nhận thấy được sự khoan hồng của nhà nước mà tích cực cải tạo để trở thành người công dân có ích cho xã hội.

- Về trách nhiệm dân sự:

+ Chị Huỳnh Thị Minh T đã nhận lại chiếc xe mô tô 79F8-8500 bị cáo V trộm cắp. Tại phiên tòa, tuy chị Huỳnh Thị Minh T vắng mặt nhưng căn cứ lời khai của chị T có tại hồ sơ vụ án thì chị T không có yêu cầu khiếu nại gì khác, nên Tòa không xem xét.

- Về án phi: Bị cáo Lê Văn V phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định

́ của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

- Tuyên bố bị cáo Lê Văn V (tên gọi khác: T) phạm tô ̣i “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 138; điểm g - p khoản 1 Điều 46, điểm g khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Văn V.

- Xử phạt bị cáo Lê Văn V 01 (một) năm 03 (ba) tháng tù, thờ i hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án.

- Về trách nhiê ̣m dân sự : Không xét về việc bồi thường thiệt hại về tài sản giữa bị cáo Lê Văn V đối với người bị hại chị Huỳnh Thị Minh T.

- Về án phí: Bị cáo Lê Văn Vương phải chịu án phí hình sự sơthẩm là 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng).

- Quyền kháng cáo của bị cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; quyền kháng cáo của người bị hại là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc thẩm.

Cỡ chữ