vanban.org

Bản án 119/2026/HS-ST — Hình sự

Tòa án nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng, TP. Hải Phòng Tuyên án 03/07/2026 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Công H cho Ủy ban nhân dân xã Việt Khê, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Sản xuất buôn bán hàng cấm - sản xuất, buôn bán hàng cấm (điều 190 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 1 – HẢI PHÒNG
¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯¯

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 119/2026/HS-ST
Ngày 03-7-2026

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 1 - HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Ngô Thị Thu Hà

Bà Nguyễn Thị Nga

- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Duyên - Thư ký Toà án nhân dân khu vực 1-Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1- Hải Phòng tham gia phiên toà: Ông Bùi Mạnh Hùng - Kiểm sát viên.

Ngày 03 tháng 7 năm 2026, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 1- Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 100/2026/TLST-HS ngày 26 tháng 5 năm 2026 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 112/2026/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 6 năm 2026 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2026/HSST-QĐ ngày 23 tháng 6 năm 2026 đối với bị cáo:

Nguyễn Công H, sinh năm: 1987; số căn cước công dân: 031087003571; nơi cư trú: thôn Phù Lưu 2, xã Việt Khê, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Công C (đã chết) và bà Trần Thị P; có vợ là chị Đào Thị Thanh H và có 02 con; tiền án, tiền sự: Không. Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/01/2026 đến 20/4/2026 được thay thế biện pháp ngăn chặn Bảo lĩnh. Có mặt.

* Người chứng kiến: Anh Đào Đức C và anh Đào Văn T; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng đầu tháng 01 năm 2026, Nguyễn Công H lên mạng xã hội Tiktok tìm hiểu cách sản xuất pháo nổ và mua những vật liệu được bán trên mạng để làm thành thuốc pháo gồm các chất hóa hoạc KClO3, Natri, Lưu huỳnh hết số tiền 300.000 đồng. Sau đó, H mua giấy đỏ, keo dán, màng bọc thực phẩm kích thước (30x9)cm ở cửa hàng vàng mã thuộc khu vực phường Thiên Hương, thành phố Hải Phòng. H chuẩn bị một số dụng cụ có sẵn tại nhà gồm 01 (một) thanh kim loại hình trụ kích thước (11x0,6)cm, 01 (một) ống kim loại kích thước (20x1,2)cm để thực hiện hành vi cuộn pháo, 01 (một) con dao dọc giấy có cán bằng nhựa màu đỏ kích thước (16x3)cm, 01 (một) lọ keo 502 và màng bọc thực phẩm. H sử dụng giấy đỏ cuốn quanh thanh kim loại hình trụ, tạo thành vỏ pháo có ruột rồng, bịt chặt một đầu, đầu còn lại cho thuốc pháo và dây dẫn bằng màng bọc thực phẩm và bịt chặt lại, sau đó tết các quả pháo rời thành băng pháo dài. Đến ngày 23/01/2026, H cuộn được 03 (ba) băng pháo nổ, mỗi băng dài khoảng 02m và một số quả pháo đã thành phẩm nhưng chưa kết thành băng. Khoảng 06 giờ 45 phút ngày 24/01/2026, H cho 02 (hai) băng pháo vào túi nilon đặt trên võng xe mô tô BKS: 15N1-101.40 đi đến khu vực phường Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng tìm người mua để bán lấy tiền ăn tiêu. Đến khoảng 07 giờ 15 phút cùng ngày, khi H điều khiển xe mô tô BKS: 15N1-101.40 đi trên tỉnh lộ 359 thuộc Tổ dân phố Thuỷ Sơn 2, phường Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng thì bị lực lượng Công an phát hiện, kiểm tra, thu giữ 02 (hai) băng cuốn các vật trụ tròn bằng giấy màu đỏ nghi là pháo nổ tự cuốn; 01 xe mô tô BKS: 15N1-101.40, nhãn hiệu Yamaha Jupiter, màu đỏ. Tổ công tác đã đưa Nguyễn Công H cùng vật chứng về trụ sở Công an phường Bạch Đằng để giải quyết. Nguyễn Công H đã chủ động chỉ vị trí và tự nguyện phối hợp đưa Cơ quan điều tra đến kiểm tra nơi sản xuất pháo để thu giữ pháo nổ thành phẩm và các dụng cụ phục vụ hoạt động sản xuất pháo. Việc sản xuất pháo hoa nổ do H tự học, thực hiện một mình, không có ai khác biết, tham gia cùng và liên quan đến việc sản xuất của H.

Cơ quan Công an đã tiến hành kiểm tra nơi ở của Nguyễn Công H tại thôn Phù Lưu 2, xã Việt Khê, thành phố Hải Phòng thu giữ: Các vật trụ hình tròn bọc bên ngoài bằng giấy màu đỏ, một đầu có dây dẫn bằng nilon có các kích thước khác nhau gồm: (6x2)cm và (10x3)cm được kết thành dải băng dài khoảng 02 mét và một số quả rời chưa kết băng, tổng khối lượng khoảng 4,5 kg; 01 (một) thanh kim loại hình trụ kích thước (11x0,6)cm; 01 (một) ống kim loại kích thước (20x1,2)cm; 01 (một) con dao dọc giấy có cán bằng nhựa màu đỏ kích thước (16x3)cm; 01 (một) lọ keo 502 đều đã qua sử dụng.

Tại bản Kết luận giám định số 316/KL-KTHS ngày 24/01/2026 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an thành phố Hải Phòng kết luận: Các vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn đoạn dây và liên kết với nhau thành băng dài của mẫu 1 (thu giữ của bị cáo Nguyễn Công H khi kiểm tra, phát hiện) gửi giám định là pháo nổ, khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ và nổ liên tiếp, tổng khối lượng là 5,580kg. Các vật hình trụ tròn, vỏ bằng giấy màu đỏ, hai đầu được bịt kín, một đầu có gắn đoạn dây và liên kết với nhau thành băng dài của mẫu 2 (thu giữ tại nơi ở của bị cáo Nguyễn Công H) gửi giám định là pháo nổ, khi đốt hoặc kích thích pháo gây tiếng nổ và nổ liên tiếp, tổng khối lượng là 4,485kg.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, mang biển kiểm soát: 15N1 – 101.40, đã qua sử dụng, có số khung: RLCJ5B9609Y096647 và số máy: 5B96096648, Nguyễn Công H khai nhận đã mua cũ từ một đại lý bán xe máy ở khu vực nội thành Hải Phòng từ đầu năm 2025 với giá 5.000.000 đồng. H đã sử dụng chiếc xe trên từ lúc mua đến khi bị bắt và chưa làm thủ tục sang tên, đổi chủ. Quá trình điều tra xác định chủ xe là anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1987, nơi cư trú: tổ dân phố Nam Sơn, phường Phù Liễn, Hải Phòng. Anh Khôi đã bán chiếc xe trên vào năm 2016. Hiện tại anh K không biết ai là chủ sở hữu chiếc xe trên và không quen biết, liên quan gì với Nguyễn Công H.

Tại Cáo trạng số 58/CT-VKS ngày 20 tháng 5 năm 2026 của Viện kiểm sát nhân dân Khu vực 1 - Hải Phòng truy tố bị can Nguyễn Công H về tội Sản xuất, buôn bán hàng cấm, quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa sơ thẩm đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng giữ nguyên quan điểm truy tố như nội dung bản Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 190; điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H từ 15 đến 18 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội Sản xuất, buôn bán hàng cấm và ấn định thời gian thử thách đối với các bị cáo theo quy định của pháp luật. Giao các bị cáo cho chính quyền địa phương nơi cư trú giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với các bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 của Bộ luật Hình sự và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp giấy niêm phong số 30CN/PC09 chứa 4,590 kg pháo của mẫu 1 và 3,920 kg pháo của mẫu 2 được hoàn lại sau giám định tiếp tục gửi tại Cơ quan Công an để quản lý và 01 (một) thanh kim loại hình trụ kích thước (11x0,6)cm; 01 (một) ống kim loại kích thước (20x1,2)cm; 01 (một) con dao dọc giấy có cán bằng nhựa màu đỏ kích thước (16x3)cm; 01 (một) lọ keo 502 theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/5/2026 của Phòng thi hành án dân sự khu vực 1 - Hải Phòng.

- Trả lại bị cáo Nguyễn Công H 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, mang biển kiểm soát: 15N1-101.40, có số khung: RLCJ5B9609Y096647 và số máy: 5B96096648 đã qua sử dụng đã được theo Biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/5/2026 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Hải Phòng.

Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo Nguyễn Công H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung trên và nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng tại phiên tòa. Trong lời nói sau cùng, bị cáo ân hận về hành vi bị cáo đã thực hiện, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo, cho bị cáo được cải tạo ngoài xã hội để chăm sóc, ổn định cuộc sống gia đình và có cơ hội trở thành công dân có ích cho xã hội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thu thập và thực hiện đều hợp pháp.

Về tội danh và điều luật áp dụng: Lời khai của bị cáo Nguyễn Công H tại phiên tòa phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người chứng kiến, biên bản vụ việc, kết luận giám định, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra và công bố công khai tại phiên tòa thể hiện: Từ khoảng tháng 01 năm 2026, Nguyễn Công H tự mua hóa chất và các dụng cụ để sản xuất pháo nổ với mục đích bán kiếm lời. Tổng khối lượng pháo nổ H đã sản xuất được là 10,065kg. Ngày 24/01/2026 khi Nguyễn Công H đang chở 5,58kg pháo nổ đi bán thì bị Cơ quan Công an phát hiện bắt quả tang tại khu vực tổ dân phố Thủy Sơn 2, phường Thủy Nguyên, thành phố Hải Phòng. Bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, thực hiện hành vi với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo Nguyễn Công H đã đủ yếu tố cấu thành tội Sản xuất, buôn bán hàng cấm với tình tiết định khung hình phạt “Sản xuất, buôn bán pháo nổ từ 06 kilogam đến dưới 40 kilogam” quy định tại điểm c khoản 1 Điều 190 Bộ luật Hình sự như truy tố và đề nghị kết tội của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 1 - Hải Phòng đối với bị cáo là có căn cứ và đúng quy định của pháp luật.

Tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những đã xâm hại đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước mà còn là nguy cơ gây cháy, nổ, làm ảnh hưởng sức khoẻ của con người nên cần phải được xử lý nghiêm.

Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Nguyễn Công H không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại phiên tòa cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tích cực hợp tác với Cơ quan có trách nhiệm trong quá trình giải quyết vụ án; bản thân bị cáo đã từng tham gia quân ngũ. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, t khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt: Căn cứ vào quy định của Bộ luật Hình sự, cân nhắc tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo Nguyễn Công H không có tiền án, tiền sự, phạm tội lần đầu, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Bản thân bị cáo là lao động chính trong gia đình, được gia đình và chính quyền địa phương bảo lĩnh, xác nhận là trong quá trình sinh sống tại địa phương, ngoài lần phạm tội này, bị cáo luôn chấp hành đúng chính sách pháp luật, có nơi cư trú rõ ràng và có khả năng tự cải tạo. Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù nên áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự xử bị cáo Nguyễn Công H mức hình phạt tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt nhưng cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo cũng đủ điều kiện cải tạo, giáo dục riêng bị cáo và phòng ngừa chung. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương nơi bị cáo cư trú để giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách. Theo quy định tại khoản 4 Điều 190 của Bộ luật Hình sự thì bị cáo còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền nhưng xét thấy bị cáo là lao động tự do, thu nhập không ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự, xác định: Đối với 01 hộp giấy niêm phong số 30CN/PC09 chứa 4,590 kg pháo của mẫu 1 và 3,920 kg pháo của mẫu 2 được hoàn lại sau giám định là vật Nhà nước cấm lưu hành; 01 (một) thanh kim loại hình trụ kích thước (11x0,6)cm; 01 (một) ống kim loại kích thước (20x1,2)cm; 01 (một) con dao dọc giấy có cán bằng nhựa màu đỏ kích thước (16x3)cm; 01 (một) lọ keo 502 đều đã qua sử dụng là vật trực tiếp liên quan đến tội phạm nên cần tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, mang biển kiểm soát: 15N1-101.40, có số khung: RLCJ5B9609Y096647 và số máy: 5B96096648 đã qua sử dụng là xe của bị cáo sử dụng làm phương tiện đi lại, ngoài chiếc xe này bị cáo không còn phương tiện nào khác và không thay đổi thiết kế, kết cấu, hoặc thông số kỹ thuật ban đầu của phương tiện để sử dụng vào mục đích phạm tội nên trả lại cho bị cáo.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Trong vụ án này còn có đối tượng bán các chất hoá học cho H để sản xuất thuốc pháo qua mạng xã hội, quá trình điều tra không có căn cứ để xác định nhân thân, lý lịch nên không có cơ sở để xử lý.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 190, điểm s, t khoản 1, 2 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Công H 15 (Mười lăm) tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Sản xuất, buôn bán hàng cấm”, thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng, tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo Nguyễn Công H cho Ủy ban nhân dân xã Việt Khê, thành phố Hải Phòng giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì phải thực hiện theo Điều 92 của Luật Thi hành án hình sự

Việc giải quyết trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc thực hiện theo quy định tại Điều 68 của Luật Thi hành án hình sự.

Người được hưởng án treo không được xuất cảnh trong thời gian thử thách.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

Hủy bỏ biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú đối với bị cáo.

- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 của Bộ luật Hình sự, Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự:

+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 hộp giấy niêm phong số 30CN/PC09 chứa 4,590 kg pháo của mẫu 1 và 3,920 kg pháo của mẫu 2 được hoàn lại sau giám định (hiện đang tạm giữ tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng).

+ Tịch thu tiêu huỷ: 01 (một) thanh kim loại hình trụ kích thước (11x0,6)cm; 01 (một) ống kim loại kích thước (20x1,2)cm; 01 (một) con dao dọc giấy có cán bằng nhựa màu đỏ kích thước (16x3)cm; 01 (một) lọ keo 502 đều đã qua sử dụng (theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/5/2026 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Hải Phòng).

+ Trả lại bị cáo Nguyễn Công H 01 xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA, mang biển kiểm soát: BKS 15N1-101.40, có số khung: RLCJ5B9609Y096647 và số máy: 5B96096648 đã qua sử dụng (theo Biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 22/5/2026 của Phòng Thi hành án dân sự khu vực 1 - Hải Phòng).

- Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ