- Tranh chấp gì? án hình sự — "HUỲNH PHƯỚC V - phạm tội tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy (điều 255 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Huỳnh Phước V 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2024.
- Căn cứ chính? Luật Phí và lệ phí; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 119/2025/HS-ST Ngày: 29-08-2025 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 7, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Nhung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Nguyễn Thị Huệ
2. Ông Nguyễn Ngọc Thạch
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 08 năm 2025 tại Tòa án nhân dân khu vực 7 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 246/2025/TLST-HS ngày 06 tháng 06 năm 2025 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 491/2025/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 08 năm 2025 đối với bị cáo:
HUỲNH PHƯỚC V, giới tính: Nam; sinh năm 1991 tại: H1; hộ khẩu thường trú: huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang (Nay là xã Tân Hòa, thành phố Cần Thơ); Chỗ ở: Phường 14, quận Gò Vấp (nay là phường An Hội Tây), Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 08/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông: Huỳnh Phước H, sinh năm 1964 và bà Châu Bích Th, sinh năm 1966; Có vợ là: Lâm Bích T, sinh năm 1993; Con: Huỳnh Yến N, sinh năm 2016; Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 23/12/2024, chuyển tạm giam từ ngày 30/12/2024 đến nay. (Bị cáo có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 14/12/2024, Huỳnh Phước V gọi điện thoại cho một người tên T (không rõ lai lịch, sử dụng số điện thoại 087XXXXXXX) đặt mua ma túy đá và nỏ thủy tinh với số tiền 200.000 đồng. T đồng ý bán và hẹn V đến khu vực quận Tân Phú để giao ma túy và nỏ thủy tinh. V điều khiển xe mô tô biển số 53R5-ZZZZ đến điểm hẹn thì có một người thanh niên (không rõ lai lịch) đeo khẩu trang đến giao ma túy đá và nỏ thủy tinh cho V, V trả tiền cho người này rồi điều khiển xe về nhà.
Khoảng 20 giờ cùng ngày, V lấy ma túy đá và dùng dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: Bình nhựa bên trong chứa nước, nắp bình nhựa khoét 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút nhựa, 01 lỗ cắm nỏ thủy tinh rồi rủ vợ là Lâm Bích T cùng sử dụng, T đồng ý. V bỏ ma túy đá vào nỏ thủy tinh, dùng bật lửa đốt ma túy đá trong nỏ thủy tinh bay hơi rồi dùng ống hút nhựa hút, sau đó V đốt cho T hút, cả hai sử dụng luận phiên cho đến khi hết ma túy trong nỏ, ngày hôm sau V đem toàn bộ dụng cụ sử dụng ma túy vứt bỏ trên đường đi làm (không rõ vứt ở đâu).
Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 16/12/2024, V điều khiển xe mô tô biển số 53R5-ZZZZ đến trước nhà số Q, Phường 8, quận Gò Vấp (nay là phường Thông Tây Hội) thì Tổ công tác 363 Công an quận Gò Vấp (Nay là Công an Thành phố Hồ Chí Minh) kiểm tra hành chính, V không xuất trình được giấy phép lái xe, giấy đăng ký xe nên Tổ công tác đưa V về trụ sở Công an Phường 8, quận Gò Vấp (Nay là phường Thông Tây Hội) làm việc. Kết quả xét nghiệm chất ma túy V dương tính với Methamphetamine. V khai nhận sử dụng ma túy đá với vợ là Lâm Bích T tại nhà thuê của V địa chỉ số P, Phường 14, quận Gò Vấp (nay là phường An Hội Tây) nên Tổ công tác lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp (Nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh) xử lý.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Gò Vấp (Nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh), Huỳnh Phước V khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Vật chứng vụ án:
- 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 gắn 02 sim số 0939XXXXXX và số 0706XXXXXX;
- 01 xe mô tô biển số 53R5 - ZZZZ. Số máy: LC152FMH00419424, số khung: LWGXCHL1100000244. V khai mua xe trên vào năm 2014 từ một người đàn ông (không rõ lai lịch), khi mua xe không có giấy tờ. Kết quả xác minh xe trên do ông Trần Trí Th; hộ khẩu thường trú: Phường 7, quận Phú Nhuận (nay là phường Cầu Kiệu) đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh hiện ông Th không thực tế cư trú tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành đăng báo nhưng đến nay chưa có ai đến liên hệ làm việc.
Tại bản cáo trạng số 260/CT-VKS-GV ngày 03/06/2025 của Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7 đã truy tố Huỳnh Phước V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên toà bị cáo Huỳnh Phước V khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với nội dung bản cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố đối với bị cáo.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là sai trái. Bị cáo chỉ xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7, Thành phố Hồ Chí Minh giữ nguyên quan điểm đã truy tố đối với bị cáo Huỳnh Phước V như cáo trạng đã nêu và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Xử phạt bị cáo Huỳnh Phước V từ 02 (hai) năm đến 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” và đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an quận Gò Vấp (Nay là Cơ quan cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh), Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp (Nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7), Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo thể hiện:
Khoảng 20 giờ ngày 14/12/2024, Huỳnh Phước V có hành vi lấy ma túy đá và dụng cụ sử dụng ma túy đá gồm: Bình nhựa bên trong chứa nước, nắp bình nhựa khoét 02 lỗ, 01 lỗ cắm ống hút nhựa, 01 lỗ cắm nỏ thủy tinh rồi rủ vợ là Lâm Bích T cùng sử dụng tại nhà thuê của V địa chỉ số P, phường An Hội Tây (Phường 14, quận Gò Vấp cũ), Thành phố Hồ Chí Minh. Nguồn gốc ma túy đá và nỏ thủy tinh V mua của T (không rõ lai lịch) với số tiền 200.000 đồng. Hành vi của Huỳnh Phước V đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”, quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xét lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Bị cáo là người trưởng thành, có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vì thỏa mãn nhu cầu bản thân, bị cáo vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Do đó, Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp (Nay là Viện kiểm sát nhân dân khu vực 7) truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm chính sách độc quyền quản lý của Nhà nước về chất ma túy, xâm phạm trật tự an toàn xã hội, tội phạm về ma túy gây tác hại lớn cho con người và xã hội, là nguyên nhân phát sinh nhiều loại tội phạm khác. Do đó cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ sức giáo dục, răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Khi quyết định hình phạt có cân nhắc đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Cụ thể:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Tại Cơ quan điều tra và qua diễn biến phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải nên Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
Bị cáo phạm tội không nhằm thu lợi bất chính, không có công việc ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại Khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Về xử lý vật chứng:
- 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 gắn 02 sim số 0939XXXXXX và số 0706XXXXXX là phương tiện bị cáo dùng để trao đổi mua ma túy nên tịch thu sung quỹ.
- 01 xe mô tô biển số 53R5 - ZZZZ. Số máy: LC152FMH00419424, số khung: LWGXCHL1100000244. V khai mua xe trên vào năm 2014 từ một người đàn ông (không rõ lai lịch), khi mua xe không có giấy tờ. Kết quả xác minh xe trên do ông Trần Trí Th (hộ khẩu thường trú: Phường 7, quận Phú Nhuận) đứng tên chủ sở hữu. Qua xác minh hiện ông Th không thực tế cư trú tại địa phương, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã tiến hành đăng báo nhưng đến nay chưa có ai đến liên hệ làm việc. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định giao cơ quan Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh – Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 tiếp tục đăng báo tìm chủ sở hữu trong thời hạn 06 tháng. Hết thời gian nêu trên nếu không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
Về vấn đề khác:
- Đối với người đàn ông tên T1 mà bị cáo khai có bán chất ma túy cho bị cáo hiện không rõ lai lịch nên cơ quan điều tra tiếp tục làm rõ để xử lý sau.
- Đối với Lâm Bích T, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh đã bàn giao cho Công an phường Thông Tây Hội (Phường 8, quận Gò Vấp cũ) xử phạt hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và hình phạt đề nghị áp dụng đối với bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Huỳnh Phước V 02 (Hai) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 23/12/2024.
2. Miễn hình phạt bổ sung quy định tại khoản 5 Điều 255 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung 2017 cho bị cáo.
3. Về xử lý vật chứng: Căn cứ vào Điều 46; Điều 47 của Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
- Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: 01 điện thoại di động Samsung Galaxy J7 gắn 02 sim số 0939XXXXXX và số 0706XXXXXX
- Giao cơ quan Thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh – Phòng Thi hành án dân sự khu vực 7 đăng báo tìm chủ sở hữu 01 xe mô tô biển số 53R5 - ZZZZ. Số máy: LC152FMH00419424, số khung: LWGXCHL1100000244 trong thời hạn 06 tháng. Hết thời hạn trên, nếu không có chủ sở hữu đến nhận thì tịch thu, nộp vào ngân sách Nhà nước.
Theo phiếu nhập kho vật chứng số 03/PNK, ngày 03/01/2025 của Công an quận Gò Vấp (Nay là Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh)
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015; Luật Phí và Lệ phí; điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án;
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Bằng chữ: Hai trăm nghìn đồng).
4. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015;
Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Căn cứ Điều 26 của Luật Thi hành án dân sự năm 2008;
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014) thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa T thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014); thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi, bổ sung năm 2014).
| Nơi nhận: - TAND TP. HCM; - VKSND KV7; - THADSTPHCM-PTHADS KV7; - Công an TPHCM; - Bị cáo; - Bị hại; - Lưu: HS, VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Nhung |