- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị Ngọc Trân cùng đồng phạm - phạm tội đánh bạc (điều 248 Bộ luật hình sự năm 1999)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Tr, Văn Thị Hồng D phạm tội: "Đánh bạc".
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN TỈNH BÌNH ĐỊNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 119/2018/HSST Ngày: 31-10-2018 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUY NHƠN-TỈNH BÌNH ĐỊNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trương Quốc Dũng
Các hội thẩm nhân dân:
1. Bà Lê Thị Ngọc – Chủ tịch UBMTTQVN phường Trần Quang Diệu, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định
2. Ông Nguyễn Đình Thọ – Giáo viên hưu trí phường Quang Trung, TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định.
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Hồng Diễm - Thư ký của Toà án nhân dân Tp. Quy Nhơn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn tham gia phiên tòa: Ông Phan Tiến Lực - Kiểm sát viên.
.
Ngày 31 tháng 10 năm 2018 tại Trụ sở Tòa án nhân dân TP Quy Nhơn, tỉnh Bình Định xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 128/2018/TLST-HS ngày 11/10/2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 172/2018/QĐXXST-HS ngày 18/10/2018 đối với các bị cáo:
1.
Họ và tên: Nguyễn Thị Ngọc Tr, sinh năm 1980 tại TP. QNh, tỉnh Bình Định; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: T9, kv 9, P.TQD, TP. QNh, tỉnh Bình Định; giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 6/12; con ông: Nguyễn Kim V, sinh năm: 1958; Con bà: Dương Thị T, sinh năm: 1960; chồng: Nguyễn Đức T, sinh năm: 1969, có 03 người con, lớn nhất 18 tuổi, nhỏ nhất 10 tuổi; Tiền án; tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
2.
Họ và tên: Văn Thị Hồng D, sinh năm 1974 tại TP. QNh, tỉnh Bình Định; Nơi ĐKNKTT và chỗ ở: T 9, kv 9, P.TQD, TP. QNh, tỉnh Bình Định; giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Mua bán; Trình độ học vấn: 7/12; con ông: Văn Thanh T (chết); Con bà: Phùng Thị Kim H, sinh năm: 1945; chồng: Nguyễn Thanh T, sinh năm: 1973, có 02 người con, lớn 20 tuổi, nhỏ nhất 11 tuổi; Tiền án; tiền sự: không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Nguyễn Thị Mỹ Tr, sinh năm: 1975 “vắng mặt”
Trú tại: T5, Kv 8, P. TQD, TP. QNh, tỉnh Bình Định
Anh Trần Thanh L, sinh năm: 1976 “vắng mặt”
Trú tại: T6, Kv8, P. TQD, TP. QNh, tỉnh Bình Định
Chị Phan Thị D, sinh năm: 1975 “vắng mặt”
Trú tại: T3, Kv9, P. TQD, TP. QNh, tỉnh Bình Định
Chị Nguyễn Thị Xuân H, sinh năm: 1963 “vắng mặt”
Trú tại: T7, Kv9, P. TQD, TP. QNh, tỉnh Bình Định
Chị Mai Thị Hồng D, sinh năm: 1983 “vắng mặt”
Trú tại: T9, Kv9, P. TQD, TP. QNh, tỉnh Bình Định
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 17 giờ ngày 18/10/2017, Đội Cảnh sát Hình sự - Công an TP.Quy Nhơn phối hợp với Công an phường TQD kiểm tra phát hiện các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Tr, Văn Thị Hồng D đánh bạc bằng hình thức số đề tại nhà ở Tổ 9, KV 9, phường TQD, TP.QNh. Tại cơ quan Công an, Tr, D khai nhận và giao nộp vật chứng liên quan đến hành vi đánh bạc như sau:
1. Đối với Nguyễn Thị Ngọc Tr:
Khoảng tháng 8/2017, Tr hoạt động đánh bạc bằng hình thức số đề tại nhà. Hàng ngày, Tr nhận tịch đề của Phan Thị D, Mai Thị Hồng D và người phụ nữ tên Đ (chưa rõ lai lịch) qua tin nhắn zalo và tin nhắn văn bản SMS; ngoài ra, Tr còn bán số đề cho khách qua đường (không rõ lai lịch) rồi tổng hợp lại chuyển tịch cho Nguyễn Thị Mỹ T, Trần Thanh L, Nguyễn Thị Xuân H để hưởng phần trăm hoa hồng. Kết quả thắng, thua ngày hôm sau Tr tính toán và chung chi cho những người đánh bạc.
- Cách tính tiền đánh bạc giữa Nguyễn Thị Ngọc Tr với những người trực tiếp đến nhà mua đề như sau:
+ Đánh bạc bằng hình thức số đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh Miền Trung – Tây Nguyên; con bạc đánh đề dưới các hình thức đặt cược: Đầu, cuối, đầu – cuối, số ba chân, số đá. Khi con bạc đặt cược bằng hình thức bao lô số 02 chân thì Tr nhận tiền của người đánh đề theo tỉ lệ: số tiền thực tế đặt cược x 13/18 lô; số đá thì nhận theo tỉ lệ: số tiền thực tế đặt cược x 2 x13 lô (đá đôi), số tiền thực tế đặt cược x 13 lô (đá chiếc); số tiền còn lại khuyến mãi cho những người đánh bạc; đặt cược bằng hình thức đầu, cuối, đầu – cuối thì Tr ghi thêm tiền cược theo tỷ lệ 20% cho những người đánh đề (Ví dụ người đánh đề đánh 10.000 đồng thì Tr ghi trong tịch là 12.000 đồng); riêng đặt cược bằng hình thức bao lô số 03 chân thì Tr nhận tiền của người đánh đề theo tỉ lệ: số tiền thực tế x 17/17 lô; số đầu, cuối, đầu – cuối của số 03 chân con bạc đặt cược bao nhiêu tiền thì Tr nhận đủ theo số tiền cược. Tỉ lệ thắng thua: số 02 chân 01 ăn 70, số 03 chân 01 ăn 600 lần, số đá chiếc 01 ăn 300 lần, đá đôi 01 ăn 600 lần.
+ Đánh bạc bằng hình thức số đề dựa trên kết quả xổ số kiến thiết của các tỉnh Miền Bắc: Người đánh đề dưới hình thức đặt cược: đầu, cuối, đầu – cuối, bao lô, ba chân, số đá, số xiên. Khi người đánh đề đặt cược bằng hình thức bao lô số 02 chân thì Tr nhận tiền theo tỉ lệ: số tiền thực tế đặt cược x 23/27 lô; số đá thì nhận theo tỉ lệ: số tiền thực tế x 2 x 23 lô (đá đôi), số tiền thực tế x 23 lô (đá chiếc), số tiền còn lại khuyến mãi cho người đánh đề; riêng đặt cược bằng hình thức bao lô 03 chân thì Tr nhận tiền theo tỉ lệ: số tiền thực tế x 23/23 lô; đặt cược bằng hình thức đầu, cuối, đầu – cuối kể cả số 02 và 03 chân, số xiên loại 02 và 03 số, người đánh đề đặt cược bao nhiêu tiền thì Tr nhận đủ tiền. Tỉ lệ thắng thua: số 02 chân 01 ăn 80, số 03 chân 01 ăn 600 lần, số đá chiếc 01 ăn 300 lần, đá đôi 01 ăn 600 lần, số xiên loại 02 số 01 ăn 10 lần còn 03 số 01 ăn 40 lần.
- Cách tính tiền đánh bạc giữa Nguyễn Thị Ngọc Tr với những người chuyển tịch đề đến và nhận tịch đề của Tr như sau:
+ Đối với người chuyển tịch đề đến: Tổng tiền đánh đề (chưa khuyến mãi) x 70,5%.
+ Đối với người nhận tịch: Tổng tiền đánh đề (chưa khuyến mại) x 70,2% Tr được hưởng phần chênh lệch là 0,3%.
Đối với đài Miền Trung – Tây Nguyên, Tr nhận tịch và chuyển đi trước 17 giờ 05 phút hàng ngày; đối với đài Miền Bắc thì nhận tịch đề và chuyển đi trước 18 giờ 05 phút hàng ngày.
Vào ngày 18/10/2017, Nguyễn Thị Ngọc Tr bán đề cho nhiều khách qua đường, nhận tịch đề từ nhiều người dựa trên kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Khánh Hòa rồi chuyển đi cho nhiều người, cụ thể như sau:
- Nhận tịch đề từ Mai Thị Hồng D qua tin nhắn zalo với số tiền đánh bạc là: 537.000 đồng (năm trăm ba mươi bảy nghìn đồng).
- Nhận tịch đề từ một người tên phụ nữ tên Đ qua tin nhắn zalo với số tiền đánh bạc: 4.026.607 đồng (bốn triệu không trăm hai mươi sáu nghìn đồng, sáu trăm lẻ bảy đồng).
- Nhận tịch đề từ Phan Thị D qua tin nhắn văn bản với số tiền đánh bạc là: 34.516.800 đồng (ba mươi tư triệu năm trăm mười sáu nghìn tám trăm đồng).
- Nguyễn Thị Ngọc Tr ghi đề cho khách qua đường (không rõ lai lịch) rồi chuyển cho Nguyễn Thị Xuân H với số tiền là: 1.716.780 đồng (một triệu bảy trăm mười sáu nghìn sáu trăm bảy mươi tám nghìn đồng).
- Chuyển cho Nguyễn Thị Mỹ T qua tin nhắn văn bản với số tiền đánh bạc là: 25.079.652 đồng (hai mươi lăm triệu không trăm bảy mươi sáu đồng).
- Chuyển cho Trần Thanh L qua tin nhắn văn bản với số tiền đánh bạc là: 11.399.076 đồng (mười một triệu ba trăm chín mươi chín nghìn không trăm bảy mươi sáu đồng).
Hành vi đánh bạc của Nguyễn Thị Ngọc Tr bị phát hiện trước khi có kết quả xổ số nên số tiền đánh bạc của Tr là: 537.000 đồng + 1.716.780 đồng + 4.026.607 đồng + 34.516.800 đồng = 40.797.187 đồng.
2. Đối với Văn Thị Hồng D:
Khoảng tháng 9/2017, bị cáo D đánh bạc bằng hình thức số đề tại nhà, thu lợi khoảng 100.000 đồng/01 ngày. Hàng ngày D nhận tịch đề của một người nữ bán vé số dạo tên H (chưa rõ lai lịch), nhận tịch đề của một người nữ tên C (chưa rõ lai lịch), bán số đề cho khách qua đường, tự đánh đề rồi chuyển cho Nguyễn Thị Mỹ T, hình thức hoạt động và cách thức đánh đề, các tính tiền đánh bạc của D và Tr giống nhau.
Vào ngày 18/10/2017, Văn Thị Hồng D bán đề cho nhiều khách qua đường, tự đặt cược số đề, nhận tịch đề từ nhiều người dựa trên kết quả xổ số kiến thiết tỉnh Khánh Hòa rồi chuyển cho chị Nguyễn Thị Mỹ Tr, cụ thể như sau:
- D ghi số đề cho khách qua đường (không rõ lai lịch) với tổng số tiền là: 3.093.000 đồng (ba triệu không trăm chín mươi ba nghìn đồng).
- Nhận tịch đề của C chuyển đến với số tiền là: 2.558.000 đồng.
- Nhận tịch đề của H chuyển đến với số tiền là: 1.400.000 đồng.
Sau đó, D tập hợp lại; tự đặt cược thêm số đề rồi chuyển cho T qua tin nhắn zalo với số tiền là: 7.886.970 đồng. Hành vi của D phát hiện trước khi có kết quả nên số tiền đánh bạc của D là 7.886.970 đồng.
Quá trình điều tra, bị cáo Tr nộp 5.000.000 đồng, bị cáo D nộp 3.000.000 đồng tiền thu lợi bất chính từ việc đánh bạc.
- Tại bản cáo trạng số 75/CT-VKSQN ngày 30/6/2018, Viện kiểm sát nhân dân Tp. Quy Nhơn truy tố các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Tr, Văn Thị Hồng D về tội “Đánh bạc” theo khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Các bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng đã truy tố. Do đó, Viện kiểm sát giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Tr, Văn Thị Hồng D về tội “Đánh bạc”, đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009), xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Tr từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, có ấn định thời gian thử thách; xử phạt bị cáo Văn Thị Hồng D từ 06 đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, có ấn định thời gian thử thách.
Áp dụng điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự: Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước: số tiền 17.523.000 đồng, 01 điện thoại di động hiệu OPPO có gắn sim 0981227827, 01 điện thoại di động hiệu hiệu Sam sung có gắn sim 0935484827; 01 điện thoại di động hiệu HTC Desire có gắn sim 01675915953, 01 máy tính Casio màu đen. Tịch thu tiêu hủy 01 tờ giấy than là vật chứng của vụ án.
Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Quy Nhơn, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quy Nhơn, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, tại phiên tòa, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Tr, Văn Thị Hồng D là người có đầy đủ sức khỏe và trình độ để nhận thức và điều khiển hành vi của mình nên phải biết đánh bạc với hình thức số đề là hành vi vi phạm pháp luật, nhưng vì hám lợi nên ngày 18/10/2017 bị cáo Tr, bị cáo D đã có hành vi bán số đề cho nhiều người, nhận và chuyển tịch đề cho những người khác để thu lợi bất chính, hành vi của các bị cáo bị cơ quan công an phát hiện trước khi có kết quả sổ xố nên xác định được trong ngày 18/10/2017 bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Tr đánh bạc với tổng số tiền là 40.797.187 đồng, bị cáo Văn Thị Hồng D đánh bạc với tổng số tiền là 7.886.970 đồng. Hành vi của các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Tr, Văn Thị Hồng D đã phạm tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 248 của Bộ luật hình sự năm 1999.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến trật tự công cộng, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình chung tại địa phương, bị cáo Tr đánh bạc với số tiền nhiều hơn bị cáo D nên cần phải áp dụng mức hình phạt cao hơn mức hình phạt của bị cáo D mới có tác dụng giáo dục, răn đe và phòng ngừa tội phạm.
Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy: Các bị cáo có nhân thân tốt, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, đã nộp tiền thu lợi bất chính nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm h, p khoản 1 Điều 46, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999. Các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, là phụ nữ, có các con còn đang trong độ tuổi đi học, xét thấy không cần phải bắt các bị cáo phải chấp hành hình phạt tù thì các bị cáo cũng có khả năng tự cải tạo tốt nên HĐXX áp dụng Điều 60 của BLHS 1999 xử các bị cáo hình phạt tù có điều kiện cũng không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại Khoản 3 Điều 248 của Bộ luật hình sự 1999 thì các bị cáo còn có thể bị phạt tiền từ ba triệu đến ba mươi triệu đồng. Xét thấy các bị cáo có hoàn cảnh kinh tế khó khăn nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung.
Bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Tr khai nhận tịch đề của Phan Thị D, chuyển đề cho Trần Thanh L, Nguyễn Thị Mỹ T; Văn Thị Hồng D khai chuyển tịch đề cho Nguyễn Thị Mỹ T. Tuy nhiên, quá trình điều tra, L, D, T không thừa nhận tham gia đánh bạc với các bị cáo. Cơ quan điều tra Công an TP. Quy Nhơn đã có văn bản đề nghị Công ty cổ phần VNG (đơn vị sở hữu thương hiệu Zalo), Trung tâm thông tin di động Mobifone khu vực 3 và Tập đoàn viễn thông quân đội Viettel cung cấp thông tin về tài khoản zalo “Hihi”, các số điện thoại 0935.857.131, 0906.454.165, 01655.696.282 để làm rõ hành vi của T, L, D nhưng chưa có kết quả trả lời. Ngoài lời khai của các bị cáo thì không còn tài liệu, chứng cứ nào khác chứng minh hành vi đánh bạc của Trần Thanh L, Nguyễn Thị Mỹ T, Phan Thị D nên chưa có đủ cơ sở xử lý L, D, T về tội đánh bạc. Do vậy, Cơ quan CSĐT Công an TP. Quy Nhơn tiếp tục điều tra xác minh làm rõ, xử lý sau.
Đối với Mai Thị Hồng D, Nguyễn Thị Xuân H có hành vi chuyển và nhận tịch đề từ bị cáo Tr với số tiền đánh bạc dưới 5.000.000 đồng. Căn cứ Khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự 2015, hành vi của D, H không phạm vào tội Đánh bạc nên Cơ quan điều tra không xử lý hình sự là đúng quy định pháp luật.
Về xử lý vật chứng: Cơ quan điều tra đã thu giữ của các bị cáo:17.523.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu OPPO, có gắn sim: 0981227827; 01 điện thoại di động hiệu hiệu Sam sung, có gắn sim 0935484827;01 điện thoại di động hiệu HTC Desire, có gắn sim 01675915953; 01 máy tính hiệu Casio màu đen; 01 tờ giấy than.
HĐXX xét: Số tiền 17.523.000 đồng, trong đó 9.523.000 đồng sử dụng vào việc đánh bạc, 5.000.000 đồng bị cáo Tr nộp, 3.000.000 đồng bị cáo D nộp là tiền các bị cáo thu lợi bất chính nên truy thu sung vào ngân sách Nhà nước. 03 điện thoại di động và máy tính hiệu Casio là phương tiện phục vụ đánh bạc nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Tờ giấy than, không có giá trị kinh tế nên tịch thu tiêu hủy.
Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP. Quy Nhơn tại phiên tòa phù hợp với nhận định của HĐXX nên chấp nhận.
Về án phí: Các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Tr, Văn Thị Hồng D bị kết án về tội “Đánh bạc” nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố: Các bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Tr, Văn Thị Hồng D phạm tội: "Đánh bạc".
- Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009); Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Ngọc Tr 09 (chín) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 31/10/2018).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường TQD, TP. QNh, tỉnh Bình Định giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
-
Áp dụng khoản 1 Điều 248, điểm h, p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 60 của Bộ luật hình sự năm 1999; Xử phạt bị cáo Văn Thị Hồng D 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 31/10/2018).
Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường TQD, TP. QNh, tỉnh Bình Định giám sát và giáo dục trong thời gian thử thách.
Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 của Luật thi hành án hình sự.
2. Xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
- Tịch thu sung vào ngân sách Nhà nước: 17.523.000 (mười bảy triệu năm trăm hai mươi ba nghìn) đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, gắn thẻ sim: 0981227827; 01 điện thoại di động hiệu hiệu Sam sung, gắn thẻ sim 0935484827; 01 điện thoại di động hiệu HTC Desire, gắn thẻ sim 01675915953; 01 máy tính hiệu Casio màu đen.
- Tịch thu tiêu hủy: 01 tờ giấy than.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 05 tháng 7 năm 2018 của Chi cục thi hành án dân sự TP. Quy Nhơn, tỉnh Bình Định)
3. Án phí: Áp dụng Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội
Buộc mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương nơi cư trú.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bình Định; - VKSND Tp. Quy Nhơn; - Chi cục THADS Tp. Quy Nhơn; - CQ CSĐT CA Tp. Quy Nhơn; - Đội ĐTTH CA Tp. Quy Nhơn; - Đương sự; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà Trương Quốc Dũng |