vanban.org

Bản án 1181/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Ngọc L được ly hôn với ông Vũ Duy P. Về con chung: Giao hai con chung tên Vũ Duy A, sinh ngày 26/5/2008 và Vũ Duy K, sinh ngày 14/3/2013 cho bà Lâm Ngọc L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "Đơn phương ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…; Luật Phí và lệ phí
TÒA ÁN NHÂN DÂN
QUẬN THỦ ĐỨC
THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 1181/2018/HNGĐ-ST
Ngày: 11/10/2018
V/v Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Cao Văn Thiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Thị Ánh Minh;

2. Ông Chu Mạnh Tường.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Ngọc Khánh – Thư ký Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Bá Thu Thư – Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 10 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số: 432/2018/TLST-HNGĐ ngày 24/4/2018 về việc “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 342/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Lâm Ngọc L, sinh năm: 1988 - có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: 179 đường Quốc lộ 13 cũ, khu phố 1, phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

2. Bị đơn: Ông Vũ Duy P, sinh năm: 1985 - (vắng mặt)

Địa chỉ thường trú: B85c ấp Bình Phước, xã Bình Nhâm, thị xã Thuận An, tỉnh Bình Dương.

Địa chỉ tạm trú: 24/1 Đường số 9, tổ 10, khu phố 4, phường Tam Bình, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

(1) Nguyên đơn bà Lâm Ngọc L trình bày: Bà L và ông Vũ Duy P tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2007 và đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 175, quyển số 01/07 cấp ngày 25/10/2007. Cuộc sống hôn nhân giữa bà L và ông P không hạnh phúc, thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn chính là do ông P không lo làm ăn, tụ tập ăn nhậu suốt ngày, không chăm lo xây dựng hạnh phúc gia đình mà thường xuyên đi sớm về khuya, sống chung một nhà nhưng mạnh ai nấy sống, không ai quan tâm, chăm sóc lẫn nhau, nhiều ngày không nói chuyện cùng nhau, hiện tại vợ chồng đã sống ly thân nhiều năm. Nhận thấy tình cảm không còn, đời sống chung mâu thuẫn trầm trọng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết được ly hôn với ông Vũ Duy P để ổn định cuộc sống.

Giữa bà L và ông Vũ Duy P có 02 con chung tên Vũ Duy A, sinh ngày 26/5/2008 và Vũ Duy K, sinh ngày 14/3/2013, bà Lâm Ngọc L yêu cầu sau khi ly hôn được quyền nuôi dưỡng cả hai con và không yêu cầu ông Vũ Duy P cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung bà L tự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

(2) Đối với bị đơn ông Vũ Duy P vắng mặt không có lý do khi được Tòa án triệu tập lấy lời khai, tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm lần thứ nhất.

(3) Tại phiên tòa hôm nay: Ông Vũ Duy P tiếp tục vắng mà không có lý do. Nguyên đơn bà Lâm Ngọc L có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt và giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.

(4) Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu ý kiến: Tòa án đã tiến hành tố tụng từ khi thụ lý cho đến mở phiên tòa đúng theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự chấp hành đúng quy định của pháp luật. Bị đơn ông Vũ Duy P đã vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai mà không có lý do chính đáng hoặc sự kiện bất khả kháng nên đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt bị đơn. Nguyên đơn có đơn đề nghị xét xử vắng mặt nên chấp nhận. Về nội dung, yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ và hợp pháp, đề nghị chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Bà Lâm Ngọc L khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông Vũ Duy P là tranh chấp hôn nhân gia đình thuộc trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Tại thời điểm Tòa án đang thụ lý giải quyết vụ kiện, bị đơn ông Vũ Duy P đang cư trú trên địa bàn quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh, theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

Nguyên đơn bà Lâm Ngọc L có đơn đề nghị được xét xử vắng mặt. Bị đơn ông Vũ Duy P vắng mặt tại phiên tòa đến lần thứ hai, mặc dù đã được triệu tập hợp lệ, không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan, Hội đồng xét xử áp dụng điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015 Tòa án tiến hành xét xử vắng nguyên đơn và bị đơn.

Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn số 175, quyển số 01/07 do Ủy ban nhân dân phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 25/10/2007 có cơ sở xác định giữa bà Lâm Ngọc L và ông Vũ Duy P có quan hệ hôn nhân hợp pháp. Căn cứ vào văn bản số 634/LĐTB ngày 21/6/2018 của Phòng lao động thương binh và Xã hội quận Thủ Đức, văn bản số 91/VHTT ngày 25/6/2018 của Phòng văn hóa và Thông Tin quận Thủ Đức về việc phúc đáp xác minh tình trạng hôn nhân và gia đình. Có cơ sở xác định nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn chính giữa hai bên là do ông P không có nghề nghiệp ổn định, thường xuyên tụ tập ăn nhậu, lười lao động, không lo làm ăn để xây dựng hạnh phúc gia đình và có xu hướng bạo hành gia đình. Nội dung văn bản trả lời của cơ quan chức năng phù hợp với lời lời khai của nguyên đơn về nguyên nhân mâu thuẫn chính giữa bà L và ông Vũ Duy P. Toàn bộ lời khai của bà L cũng như tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được công khai trong phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận và công khai chứng cư, đã được thông báo cho ông Vũ Duy P, thế nhưng ông P không có ý kiến phản hồi cũng không phản đối. Xét thấy, đây là trường hợp vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho đời sống hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài nên bà L đã sống ly thân, mục đích hôn nhân giữa hai bên không đạt được. Tình trạng hôn nhân giữa bà Lâm Ngọc L và ông Vũ Duy P thuộc trường hợp Tòa án giải quyết cho ly hôn theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và Gia đình năm 2014.

Về con chung: Căn cứ vào các giấy khai sinh số 241 quyển số 01/2008 ngày 17/6/2008 và giấy khai sinh số 124 quyền số 01/2013 ngày 20/3/2013 đăng ký tại Ủy ban nhân dân phường Hiệp Bình Phước, quận Thủ Đức. Có sơ sở xác định bà Lâm Ngọc L và ông Vũ Duy P có 02 con chung tên Vũ Duy A, sinh ngày 26/5/2008 và Vũ Duy K, sinh ngày 14/3/2013. Xét thấy, yêu cầu của bà L được quyền nuôi dưỡng cả hai con chung sau khi ly hôn là phù hợp với nguyên vọng của các con và phù hợp với tình trạng thực tế được xác nhận tại văn bản số 91/VHTT ngày 25/6/2018 của Phòng văn hóa và Thông Tin quận Thủ Đức, xác định hiện tại hai con do bà L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, hiện tại bà L đang kinh doanh quán ăn tại nhà, có công việc và thu nhập ổn định, đảm bảo điều kiện nuôi dạy hai con. Do vậy yêu cầu nuôi con của bà L có cơ sở chấp nhận.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bà L về việc không yêu cầu ông Vũ Duy P cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lâm Ngọc L tự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Án phí dân sự sơ thẩm nguyên đơn bà Lâm Ngọc L phải nộp theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 5, khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 186, Điều 227, Điều 228, Điều 266, Điều 273, Điều 280, Điều 482 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 51, Điều 54, Điều 55, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ Luật Thi hành án dân sự năm 2008, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Lâm Ngọc L được ly hôn với ông Vũ Duy P.

- Về con chung: Giao hai con chung tên Vũ Duy A, sinh ngày 26/5/2008 và Vũ Duy K, sinh ngày 14/3/2013 cho bà Lâm Ngọc L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục.

Không bên nào được ngăn cản quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Vì lợi ích mọi mặt của con chưa thành niên, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án để thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

- Về cấp dưỡng nuôi con: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Lâm Ngọc L về việc không yêu cầu ông Vũ Duy P cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung và nợ chung: Bà Lâm Ngọc L tự xác định không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

2. Về án phí dân sự sơ thẩm: 300.000 (ba trăm nghìn) đồng buộc bà Lâm Ngọc L phải nộp theo quy định, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí mà bà L đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số AA/2017/0038670 ngày 20/4/2018 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh. Bà Lâm Ngọc L đã nộp đủ án phí.

3. Về quyền kháng cáo: Bà Lâm Ngọc L và ông Vũ Duy P được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai.

4. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự, đã được sửa đổi bổ sung năm 2014.

Cỡ chữ